quá trình hình thành các quan hệ vay mượn lẫn nhau trong xã hội. Đó là mối quan
hệ vay mượn có hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian nhất định, là quan
hệ chuyển dịch tạm thời quyền sử dụng vốn, là quyền bình đẳng cả hai bên đều có
lợi. Trong nền kinh tế thị trường, đại bộ phận quỹ cho vay tập chung qua Ngân hàng
và từ đó đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho các doanh nghiệp và cá nhân. Tín dụng
Ngân hàng không những chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để bổ sung vốn lưu
động cho các doanh nghiệp và cá nhân mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây
dựng cơ bản, cải tiến đổi mới kỹ thuật công nghệ sản xuất. Ngoài ra tín dụng Ngân
hàng còn đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Như vậy, tín
dụng Ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó đáp
ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế rất linh hoạt và kịp thời.
1.2. Vai trò tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng, đặc biệt là trong cơ chế thị
trường hiện nay. Điều đó được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
* Tín dụng Ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử
dụng trong tất cả các thành phần kinh tế để cho các doanh nghiệp và cá nhân vay
vốn góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tín
dụng Ngân hàng là công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người thừa vốn và người
thiếu vốn. Nó đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát
triển. Trong quá trình hoạt động đó, Ngân hàng thu được lợi tức cho vay để duy trì
và phát triển hoạt động của chính Ngân hàng.
Tuy vậy trong cơ chế thị trường hiện nay, huy động và cho vay bao nhiêu, có
đáp ứng được hay không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế, thu hồi vốn có
đúng hạn không là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong hoạt động tín dụng của Ngân
hàng. Bởi vì nếu đầu tư tín dụng không có hiệu quả, không thu hồi được nợ thì Ngân
hàng sẽ lỗ và đi đến phá sản. Do vậy, mỗi Ngân hàng trong môi trường cạnh tranh
phải có nghệ thuật trong kinh doanh, phải tìm mọi biện pháp hữu hiệu nhằm thu hút
tối đa nguồn vốn tiềm tàng với chi phí rẻ trong nền kinh tế để kinh doanh tín dụng có
hiệu quả. Có thể nói, trong nền kinh tế thị trường, tín dụng Ngân hàng góp phần vào
quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong
xã hội và góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng của nền kinh tế.
* Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao
lưu kinh tế quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, việc phát triển kinh tế của một nước
luôn phải gắn liền với sự phát triển của kinh tế thế giới. Sự hợp tác hoá bình đẳng
cùng có lợi giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang được phát triển mạnh
mẽ. Trong đó, đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá là
hai lĩnh vực hợp tác quốc tế thông dụng và phổ biến nhất giữa các nước. Vốn là
nhân tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này. Nhưng trên thực tế
không phải một tổ chức kinh tế nào, một nhà kinh doanh nào cũng có đủ vốn để hoạt
động. Ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động
tín dụng sẽ là trợ thủ đắc lực về vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập
khẩu hàng hoá.
* Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Tín dụng
Ngân hàng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - nông
nghiệp - dịch vụ. Trong mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh và dịch vụ tái mở rộng
hoạt động, mọi chu kỳ đều phải bắt đầu từ tiền và kết thúc bằng tiền. Để tăng nhanh
vòng quay vốn, mỗi chủ thể kinh doanh phải tìm kiếm và thực hiện nhiều biện pháp
như cải tiến kỹ thuật, tìm kiếm thị trường mới. Tất cả những công việc đó đòi hỏi
phải có nhiều vốn và phải kịp thời. Tín dụng Ngân hàng là nguồn cung ứng vốn cho
các nhu cầu đó. Mặt khác, vốn Ngân hàng cung ứng cho các nhà kinh doanh bằng
việc cho vay với điều kiện phải hoàn trả cả gốc và lãi theo thời hạn quy định. Do đó,
các nhà doanh nghiệp phải tìm nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tăng
nhanh vòng quay của vốn, trả nợ vay đúng hạn cả gốc lẫn lãi. Thực hiện được việc
này trong nền kinh tế thị trường là cuộc vật lộn, cạnh tranh gay gắt và quyết liệt, vì
thế tín dụng góp phần làm cho nền kinh tế hàng hoá phát triển ngày một cao.
Trong nền kinh tế thị trường, sự hoạt động của thị trường vốn, thị trường tiền
tệ là các mặt hoạt động liên quan đến quan hệ tín dụng Ngân hàng và nhờ có hoạt
động này mà việc phát hành cổ phiếu, chuyển nhượng và mua bán cổ phiếu mới có
môi trường hoạt động.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với
Ngân hàng mà còn với cả xã hôị. Tuy nhiên để tín dụng Ngân hàng phát huy được
hết vai trò của nó thì các nhà quản lý Ngân hàng cũng như các cơ quan chức năng
phải tạo ra một hành lang pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ, tạo điều kiện
thuận lợi cho cả người vay và người cho vay.
2. Chất lượng tín dụng - nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
2.1. Chất lượng tín dụng
* Khái niệm:
Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng (người gửi tiền và
người vay tiền) phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát
triển của Ngân hàng. Chất lượng tín dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là
Ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy, chất lượng hoạt động của Ngân hàng không
những phụ thuộc vào bản thân của Ngân hàng mà còn phụ thuộc vào chất lượng
hoạt động của doanh nghiệp.
* Chất lượng tín dụng được thể hiện:
- Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng
của khách hàng với lãi suất kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục đơn giản, thu hút được nhiều
khách hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng.
- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông
hàng hoá, góp phần giải quyết việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh
tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ giữa
tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng kinh tế.
- Đối với Ngân hàng thương mại: Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù
hợp với thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị
trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Như vậy chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể (thể hiện qua các chỉ tiêu
tính toán được như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn ) vừa trừu tượng (thể hiện qua
khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế ). Chất lượng tín dụng chịu
ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan (khả năng quản lý, trình độ cán bộ ) và khách
quan (sự thay đổi của môi trường bên ngoài). Khuynh hướng phát triển của nền kinh
tế, sự thay đổi của giá cả thị trường cũng như môi trường pháp lý đều ảnh hưởng tới
chất lượng tín dụng.
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh
của một Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được nhiều
khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn vốn tín dụng, chi phí về
tổng thể lãi suất, chi phí nghiệp vụ. Để có chất lượng tín dụng tốt cần có sự tổ chức
và quản lý đồng bộ trong một Ngân hàng, vì điều đó không chỉ đảm bảo cho chất
lượng tín dụng, mà còn nhằm cải tiến tính hiệu quả và linh hoạt của toàn bộ cơ sở
kinh doanh nhằm thoả mãn ngày càng đầy đủ yêu cầu của khách hàng ở mọi công
đoạn, bên trong cũng như bên ngoài. Để làm được điều đó mỗi thành viên trong một
tổ chức Ngân hàng phải hiểu và thực hiện tốt quy trình quản lý chất lượng.
Như vậy, chất lượng tín dụng là một phạm trù rộng lớn. Để có được chất lượng tín
dụng thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết
lập trên cơ sở tin cậy và uy tín trong hoạt động. Hay nói một cách khác, chất lượng
tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín dụng.
2.2. Những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
2.2.1. Các nhân tố bên ngoài:
Ta biết rằng chất lượng hoạt động tín dụng có ý nghĩa rất to lớn đối với sự tồn
tại và phát triển của các NHTM và của toàn xã hội. Để quản lý chất lượng tín dụng
đồng bộ, đòi hỏi phải hiểu rõ tác động của các nhân tố ảnh hưởng chính, đó là các
nhân tố: kinh tế, xã hội, pháp lý
* Nhân tố kinh tế:
Điều kiện kinh tế của khu vực mà Ngân hàng phục vụ ảnh hưởng lớn tới chất
lượng tín dụng. Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các khoản tín
dụng có chất lượng cao, còn nền kinh tế không ổn định thì các yếu tố lạm phát,
khủng hoảng sẽ làm cho khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay biến động lớn
làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu nợ khi cho vay của Ngân hàng.
Giới hạn của mở rộng qui mô tín dụng có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
Nếu mở rộng tín dụng quá giới hạn cho phép sẽ làm cho giá cả tăng quá mức, xảy ra
lạm phát tốc độ cao, các NHTM sẽ chịu thiệt hại lớn do đồng tiền mất giá, chất
lượng tín dụng bị giảm thấp. Ngoài ra, chính sách kinh tế của nhà nước điều tiết để
ưu tiên hay hạn chế sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực nào đó để đảm bảo sự
cân đối trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Chu kỳ phát triển kinh tế có tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng. Trong
thời kỳ đình trệ sản xuất - kinh doanh bị thu hẹp, hoạt động tín dụng gặp nhiều khó
khăn trên tất cả các lĩnh vực. Nhu cầu vốn tín dụng giảm trong
thời kỳ này và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu
quả hoặc trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng. Ngược lại, thời kỳ hưng thịnh, nhu cầu
vốn tín dụng tăng rủi ro tín dụng có ít đi, nhưng cũng không loại trừ trường hợp do
chạy đua trong sản xuất kinh doanh, nạn đầu cơ tích trữ, làm cho nhu cầu vốn tín
dụng lên quá cao và có nhiều khoản tín dụng được thực hiện. Những khoản này
cũng có thể khó được hoàn trả nếu sự phát triển sản xuất kinh doanh không có kế
hoạch nói trên dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế.
Chính sách lãi suất cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường lãi suất luôn biến động. Những năm gần đây, Việt Nam
đã khống chế được tình hình lạm phát song lãi suất lại giảm liên tục. Trong những
trường hợp lãi suất cho vay giảm song lãi suất tiền gửi lại giữ nguyên làm cho chênh
lệch đầu ra và đầu vào giảm dẫn đến chi phí nguồn vốn lớn chi phí sử dụng vốn
không bù đắp nổi. Đồng thời mức độ phù hợp giữa lãi suất Ngân hàng với lợi nhuận
của các doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Lợi tức Ngân hàng
thu được từ hoạt động tín dụng bị giới hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh sử dụng vốn vay Ngân hàng. Vì vậy, với mức lãi suất cao hơn mức lợi
nhuận các doanh nghiệp vay vốn thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, các
doanh nghiệp sẽ không có khả năng trả nợ Ngân hàng, ảnh hưởng tới quá trình sản
xuất của doanh nghiệp nói riêng và tình hình phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói
chung (trừ các doanh nghiệp có lợi nhuận siêu ngạch hoặc lợi nhuận độc quyền)
hoạt động tín dụng này không còn là đòn bẩy thúc đẩy sản xuất phát triển và theo đó
chất lượng tín dụng cũng bị ảnh hưởng.
* Nhân tố xã hội:
Quan hệ tín dụng là sự kết hợp giữa ba nhân tố: khách hàng, Ngân hàng và sự tín
nhiệm, trong đó sự tín nhiệm là cầu nối mối quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng.
Ngân hàng có tín nhiệm càng cao thì thu hút được khách hàng càng lớn. Khách hàng
có tín nhiệm đối với Ngân hàng thường được vay vốn
Nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi nên cơ chế và chính sách
của ta cũng cần phải thay đổi để thích ứng và hoàn thiện. Chính sách tín dụng trong
thời gian qua đã có những đổi mới cơ bản theo cơ chế thị trường nên góp phần quan
trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ tín dụng của Đảng và Nhà nước, góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát có kết quả. Nó có ý nghĩa
quyết định đến sự thành công hay thất bại của một Ngân hàng thương mại. Một
chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng
sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường
lối chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là
chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của NHTM có
đúng đắn hay không. Bất cứ NHTM nào muốn có chất lượng tín dụng đều phải có
chính sách tín dụng rõ ràng, thích hợp của Ngân hàng mình.
* Công tác tổ chức của ngân hàng:
Tổ chức Ngân hàng phải sắp xếp một cách có khoa học, đảm bảo sự phối hợp
chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các phòng ban trong từng Ngân hàng, trong toàn bộ hệ
thống Ngân hàng cũng như giữa Ngân hàng với các cơ quan khác như tài chính,
pháp lý sẽ tạo điều kiện đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, giúp Ngân hàng
theo dõi, quản lý sát sao các khoản cho vay, các khoản huy động vốn. Đây là cơ sở
để tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh và quản lý có hiệu quả các khoản
vốn tín dụng.
* Chất lượng nhân sự:
Đây là một nhân tố quan trọng. Sự thành công trong hoạt động tín dụng phụ
thuộc vào năng lực, trách nhiệm của cán bộ tín dụng, họ là người trực tiếp quản lý
toàn bộ số vốn từ khi đầu tư cho đến khi kết thúc hợp đồng tín dụng. Họ cần phải
phân tích kỹ tình hình tài chính của doanh nghiệp, phân tích dự án mà khách hàng
vay vốn, quản lý và giám sát tình hình sử dụng vốn vay. Xã hội ngày càng phát triển
đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để có thể đáp ứng kịp thời, có hiệu quả
với các tình huống khác nhau của hoạt động tín dụng. Việc tuyển chọn nhân sự có
đạo đức nghề nghiệp tốt và giỏi về chuyên môn sẽ giúp cho Ngân hàng có thể ngăn
ngừa được những sai phạm có thể xảy ra khi thực hiện chu kỳ khép kín của một
khoản tín dụng
* Qui trình tín dụng:
Qui trình tín dụng bao gồm những qui định phải thực hiện trong quá trình cho
vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Nó được bắt đầu từ khi chuẩn bị
cho vay, phát tiền vay, kiểm tra quá trình cho vay cho đến khi thu hồi nợ. Chất
lượng tín dụng có đảm bảo hay không tuỳ thuộc vào việc thực hiện tốt các qui định
ở từng bước với sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, giữa các bước trong qui trình tín
dụng sẽ tạo điều kiện cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế
hoạch đã định, nhờ có đảm bảo chất lượng tín dụng.
Trong quy trình tín dụng, bước chuẩn bị cho vay (khách hàng viết đơn xin vay
và Ngân hàng đánh giá đơn cho vay để quyết định cho vay hay không cho vay) rất
quan trọng, là cơ sở để lượng định rủi ro trong quá trình cho vay. Trong bước này,
chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào công tác thẩm định đối tượng được vay vốn cũng
như những quy định về điều kiện và thủ tục cho vay của từng NHTM.
Kiểm tra quá trình cho vay giúp Ngân hàng nắm được nguyên nhân diễn biến
của khoản tín dụng đã cung cấp để có những hành động điều chỉnh hoặc can thiệp
khi cần thiết, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra.
Thu nợ và khâu thanh lý nợ là khâu quan trọng có tính quyết định tới sự tồn tại
của Ngân hàng do đó Ngân hàng phải tích cực trong công tác thu nợ. Sự nhạy bén
kịp thời của Ngân hàng trong việc phát hiện kịp thời những điều kiện bất lợi xảy ra
đối với khách hàng cùng những biện pháp xử lý chính xác, đúng lúc sẽ giảm thiểu
các khoản nợ quá hạn và điều đó sẽ có tác dụng tích cực đối với chất lượng tín
dụng.
Sự phối kết nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng sẽ tạo điều kiện
cho vốn tín dụng được luân chuyển bình thường, theo đúng kế hoạch đã định, nhờ
đó đảm bảo chất lượng tín dụng.
* Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng tín dụng.
Nhờ có thông tin tín dụng, người quản lý có thể đưa ra những quyết định cần thiết
có liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay. Thông tin tín dụng
có thể thu được từ những nguồn sẵn có ở Ngân hàng (Hồ sơ vay vốn, thông tin giữa
các tổ chức tín dụng, phân tích của các cán bộ tín dụng ) từ khách hàng (theo chế
độ báo cáo định kỳ hoặc phản ánh trực tiếp), từ các cơ quan chuyên về thông tin tín
dụng ở trong và ngoài nước, từ các nguồn thông tin khác (báo, đài, toà án). Số
lượng, chất lượng của thông tin thu nhận được có liên quan đến mức độ chính xác
trong việc phân tích, nhận định tình hình thị trường, khách hàng để đưa ra những
quyết định phù hợp. Vì vậy, thông tin càng đầy đủ, nhanh nhậy, chính xác và toàn
diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh càng lớn, chất
lượng tín dụng càng cao.
* Kiểm soát nội bộ:
Đây là biện pháp giúp cho Ban lãnh đạo Ngân hàng có được các thông tin về
tình trạng kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh doanh đang được
xúc tiến, phù hợp với các chính sách, đáp ứng được các mục tiêu đã định. Chất
lượng tín dụng tuỳ thuộc vào mức độ phát hiện kịp thời nguyên nhân các sai sót phát
sinh trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng của công tác kiểm soát nội bộ để
có biện pháp khắc phục kịp thời. Để kiểm soát nội bộ có hiệu quả, Ngân hàng cần
có cơ cấu tổ chức hợp lý, cán bộ kiểm tra phải giỏi nghiệp vụ, trung thực và có
chính sách thưởng phạt vật chất nghiêm minh.
* Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng :
Ngoài 6 nhân tố trên, Ngân hàng trang bị đầy đủ các thiết bị tiên tiến phù hợp
với khả năng tài chính, phạm vi, qui mô hoạt động sẽ giúp cho Ngân hàng:
- Phục vụ kịp thời yêu cầu của khách hàng về tất cả các mặt dịch vụ, phục vụ
(nhận tiền gửi, cho vay, thu nợ ) với chi phí cả hai bên cùng chấp nhận được.
- Giúp cho các cấp quản lý của Ngân hàng kịp thời nắm bắt tình hình hoạt
động tín dụng, để điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế, nhằm thoả
mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Như vậy, trang thiết bị cũng là một nhân tố không thể thiếu được để không
ngừng cải tiến chất lượng tín dụng.
Tóm lại, qua nghiên cứu nội dung nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
ta thấy: tuỳ theo sự phát triển, điều kiện kinh tế xã hội và sự hoàn thiện môi trường
pháp lý của từng nước cũng như khả năng quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật và trình
độ cán bộ của từng NHTM mà các nhân tố này có ảnh hưởng khác nhau tới chất
lượng tín dụng. Vấn đề cơ bản đặt ra là chúng ta phải nắm chắc các nhân tố ảnh
hưởng tới chất lượng tín dụng và biết vận dụng sáng tạo sự ảnh hưởng của các nhân
tố này trong hoàn cảnh thực tế, từ đó tìm được những biện pháp quản lý có hiệu quả
để củng cố nâng cao chất lượng tín dụng hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro, sẽ tạo
điều kiện cho sự thành công của hoạt động tín dụng nói riêng cũng như của toàn bộ
hoạt động NHTM nói chung.
3. ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng tín dụng.
3.1. Chất lượng tín dụng đối với nền kinh tế xã hội:
Lịch sử hình thành và phát triển quan hệ tín dụng cho ta thấy vai trò quan trọng
của nó trong nền kinh tế đặc biệt là nền kinh tế hàng hoá ngày càng phát triển. Cùng
với sự sản xuất và lưu thông hàng hoá, tín dụng ngày càng phát triển nhằm cung cấp
thêm các phương tiện giao dịch để đáp ứng nhu cầu giao dịch trong xã hội. Trong
điều kiện đó, nâng cao chất lượng tín dụng là vấn đề ngày càng được quan tâm vì:
- Nâng cao chất lượng tín dụng để đưa hoạt động tín dụng thích nghi với điều
kiện kinh tế thị trường, phục vụ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường.
- Đảm bảo chất lượng tín dụng là điều kiện để Ngân hàng làm tốt chức năng
trung tâm thanh toán, vì khi chất lượng tín dụng được đảm bảo sẽ tăng vòng quay
vốn tín dụng. Nó tạo điều kiện cho Ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng
trong nền kinh tế quốc dân là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng góp phần
điều hoà vốn trong nền kinh tế.
- Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ góp phần tăng vòng quay vốn, huy động tới
mức tối đa lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội để phục vụ quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
- Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ làm giảm tối thiểu lượng tiền thừa trong lưu
thông. Nó góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy
tín quốc gia. Đồng thời, thông qua các công trình đầu tư vốn phát huy tác dụng, tạo
ra những sản phẩm, dịch vụ cho nền kinh tế.
- Nâng cao chất lượng tín dụng tạo điều kiện áp dụng công nghệ hiện đại vào
hoạt động Ngân hàng theo xu hướng của thế giới, phương thức sản xuất áp dụng
những thành tựu của những nền công nghệ cao như công nghệ sinh học, thông tin,
vật liệu, năng lượng mới để nhanh chóng nâng cao chất lượng tín dụng thúc đẩy sản
xuất ở trong nước và hội nhập với hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia.
- Nâng cao chất lượng tín dụng để có khả năng hợp tác cạnh tranh. Khi sản
xuất cùng phát triển, nhu cầu vốn để phục vụ phát triển kinh tế xã hội là rất lớn mà
mỗi Ngân hàng riêng lẻ không thể đáp ứng được, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các
Ngân hàng trong việc tài trợ cho khách hàng (đồng tài trợ hay tín dụng hợp vốn).
Tín dụng là một trong những công cụ để thực hiện các chủ trương của Đảng và
Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội theo từng ngành, từng lĩnh vực. Nâng cao chất
lượng tín dụng sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo phát triển cân
đối giữa các ngành, các vùng trong cả nước, ổn định và phát triển nền kinh tế.
Tín dụng có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế xã hội. Để có chất lượng tín
dụng, ngoài sự nỗ lực của bản thân các NHTM, đòi hỏi nền kinh tế phải ổn định và
phải có một cơ chế, chính sách phù hợp, sự kết hợp nhịp nhàng có hiệu quả giữa các
cấp, các ngành tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của tín dụng.
3.2. Chất lượng tín dụng đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng
thương mại :
Chất lượng tín dụng làm tăng khả năng cung cấp dịch vụ của các NHTM do
tạo thêm nguồn vốn từ việc tăng được vòng quay vốn tín dụng và thu hút thêm được
Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014
Một số giải pháp nhằm xây dựng quan hệ hợp tác trong việc tổ chức các tour outbound .doc
Cũng theo điều 43 - Luật Du lịch Việt Nam, doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành bao gồm doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa và
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế.
- Doanh nghiệp lữ hành nội địa có quyền xây dựng, quảng cáo, bán và
tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch nội địa.
Ngoài ra, doanh nghiệp lữ hành nội địa cũng phải chấp hành những
quy định về việc mua bảo hiểm du lịch cho khách khi khách có yêu
cầu, hướng dẫn khách tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, chịu
trách nhiệm về hoạt động của hướng dẫn viên…Như vậy, doanh
nghiệp lữ hành nội địa chỉ có phạm vi hoạt động kinh doanh trong
lãnh thổ Việt Nam và có thể phục vụ người nước ngoài đang sinh sống
và làm việc tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam.
- Doanh nghiệp lữ hành quốc tế có quyền kinh doanh lữ hành nội địa
nhưng doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa không có quyền kinh
doanh lữ hành quốc tế. Công việc chính của doanh nghiệp lữ hành
quốc tế về bản chất là việc thực hiện một, một vài hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch
nhằm phục vụ người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài vào Việt Nam du lịch ( kinh doanh du lịch quốc tế nhận khách –
inbound tourism ) và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại
Việt Nam ra nước ngoài du lịch ( kinh doanh du lịch quốc tế gửi
khách – outbound tourism ).
Cụ thể:
- Doanh nghiệp lữ hành gửi khách sẽ kinh doanh lữ hành gửi khách
bao gồm khách quốc tế, gửi khách nội địa, là loại kinh doanh mà hoạt
động chính của nó là tổ chức thu hút khách du lịch một các trực tiếp
để đưa khách đến nơi du lịch nổi tiếng. Loại kinh doanh lữ hành này
thích hợp với nơi có cầu du lịch lớn.
- Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nhận khách sẽ kinh doanh nhận
khách quốc tế và nội địa, là loại kinh doanh mà hoạt động chính của
nó là xây dựng các chương trình du lịch, quan hệ với các công ty lữ
hành gửi khách để bán các chương trình du lịch và tổ chức các chương
trình du lịch đã bán cho khách thông qua các công ty gửi khách. Loại
kinh doanh này thích hợp với những nơi có tài nguyên du lịch nổi
tiếng.
Cũng có các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh kết hợp cả gửi
khách và nhận khách. Những doanh nghiệp này thường có tiềm lực tài
chính tốt, có đủ nguồn lực hoạt động nhận khách và gửi khách, được
gọi là các công ty du lịch tổng hợp hoặc các tập đoàn du lịch.
1.2. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp lữ hành doanh nghiệp lữ
hành gửi khách và doanh nghiệp lữ hành nhận khách.
Sự hợp tác giữa hai doanh nghiệp chỉ tồn tại và có thể duy trì
lâu dài khi hai doanh nghiệp cùng tìm thấy lợi ích của mình trong việc
kinh doanh, đồng thời cũng có sự ràng buộc lẫn nhau để tiến hành
công việc chung một cách công bằng cho cả hai phía.
Doanh nghiệp lữ hành gửi khách và doanh nghiệp lữ hành nhận
khách có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình kinh doanh du
lịch. Tầm quan trọng của mối quan hệ này xuất phát từ chính lợi ích
mà mỗi bên đạt được.
1.2.1. Lợi ích của kinh doanh lữ hành nhận khách.
Đối tượng khách mà doanh nghiệp lữ hành nhận khách phục vụ
là những khách hàng do phía doanh nghiệp lữ hành gửi khách khai
thác. Do đó, đặc trưng của các doanh nghiệp lữ hành nhận khách này
là không mất chi phí và thời gian cho hoạt động khai thác khách mà sẽ
nhận nguồn khách từ phía doanh nghiệp lữ hành gửi khách. Như vậy,
doanh nghiệp lữ hành nhận khách đã san sẻ bớt phần rủi ro trong kinh
doanh cho phía doanh nghiệp lữ hành gửi khách. Thực tế chứng minh,
khách hàng đóng vai trò quyết định đến sự thành bại của doanh
nghiệp. Khi các doanh nghiệp lữ hành nhận khách đã nhận được lời
cam kết gửi khách ổn định từ phía doanh nghiệp lữ hành gửi khách thì
họ chỉ tập trung nguồn lực để thực hiện tốt chương trình du lịch, phục
vụ khách du lịch, tránh những chi phí cho các hoạt động khác, đồng
thời nâng cao chất lượng dịch vụ.
Hoạt động quảng cáo là hoạt động phục vụ mục đích chính là
thu hút khách hàng, nó chiếm phần chi phí khá lớn trong chi phí hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp lữ
hành nhận khách lại chỉ cần chú trọng tới hoạt động quảng cáo hướng
tới đối tượng là các doanh nghiệp lữ hành gửi khách, do đó phần chi
phí này không quá tốn kém như chi phí hoạt động khai thác khách trực
tiếp.
Sản phẩm bán cho khách du lịch sẽ mang thương hiệu của
doanh nghiệp lữ hành gửi khách, không mang thương hiệu của doanh
nghiệp nhận khách. Nhưng thương hiệu của doanh nghiệp lữ hành
nhận khách cũng sẽ được nâng lên trong toàn giới kinh doanh lữ hành
quốc tế nhờ sự hợp tác với doanh nghiệp lữ hành gửi khách có danh
tiếng. Nếu doanh nghiệp lữ hành nhận khách làm việc chuyên nghiệp,
đáp ứng đúng mọi yêu cầu của doanh nghiệp lữ hành gửi khách thì các
doanh nghiệp lữ hành gửi khách khác cũng sẽ muốn hợp tác với doanh
nghiệp lữ hành nhận khách đó.
Khi đã tạo được uy tín với doanh nghiệp lữ hành gửi khách và
có nguồn khách ổn định, doanh nghiệp lữ hành nhận khách sẽ thu
được doanh thu ổn định và cao, nếu doanh nghiệp đó có phương thức
kinh doanh tốt thì họ thu được lợi nhuận cao là điều chắc chắn.
1.2.2. Lợi ích của kinh doanh lữ hành gửi khách.
Các doanh nghiệp lữ hành gửi khách không thực hiện phần
chương trình tour tại nước ngoài, tận dụng sự am hiểu và chuyên
nghiệp của công ty lữ hành nhận khách tại điểm đến du lịch để phục
vụ khách du lịch tốt nhất. Thông thường, các doanh nghiệp lữ hành
gửi khách ở cách xa vị trí địa lý đối với doanh nghiệp lữ hành nhận
khách và chính là cách xa địa điểm du lịch đó nên họ không nắm chắc
địa hình, tình hình an ninh, an toàn xã hội, tình hình dân cư địa
phương và đặc biệt là các nhà cung cấp tại địa điểm du lịch đó bằng
chính những doanh nghiệp lữ hành nhận khách. Nhờ sự hiểu biết về
thị trường cung du lịch tại điểm đến của doanh nghiệp lữ hành nhận
khách, doanh nghiệp lữ hành gửi khách sẽ có được mức giá của các
nhà cung cấp tốt nhất.
Trong suốt chuyến đi du lịch, khách hàng mặc nhiên thừa nhận
đây là sản phẩm của công ty lữ hành mà họ đã ký hợp đồng mua tour.
Và chính xác là sản phẩm mang thương hiệu của công ty lữ hành gửi
khách. Do đó, logo và slogan của công ty lữ hành gửi khách sẽ xuất
hiện trong suốt chuyến đi đó. Như vậy, công ty lữ hành gửi khách
cũng đã quảng cáo được về công ty của mình cho những khách du lịch
của đoàn khách từ nơi khác mà cũng tới điểm du lịch đó, cho những
doanh nghiệp nhận khách khác tại địa phương đó, cho chính quyền địa
phương đó…
1.2.3. Vai trò của doanh nghiệp lữ hành nhận khách
đối với doanh nghiệp lữ hành gửi khách.
những. ……….
Theo như sơ đồ trên, có thể thấy rằng, công ty lữ hành nhận khách
chịu trách nhiệm tiếp nhận khách từ công ty lữ hành gửi khách và sẽ
đưa ra danh sách những nhà cung cấp để công ty lữ hành gửi khách
lựa chọn, sau đó, công ty lữ hành nhận khách sẽ làm việc trực tiếp với
các nhà cung cấp đã được lựa chọn đó và kết nối thành dịch vụ cho
khách hàng.
Doanh nghiệp lữ hành nhận khách là đối tác quan trọng của
doanh nghiệp lữ hành nhận khách, đặc biệt là khi hai doanh nghiệp
này thuộc hai quốc gia khác nhau. Sự hợp tác giữa doanh nghiệp lữ
hành gửi khách và nhận khách đều dựa trên mục đích hai bên cùng có
lợi. Như trên đã phân tích, nếu không có một trong hai bên thì hoạt
động kinh doanh du lịch sẽ bị hạn chế về hình thức, tốn kém về chi
phí, rắc rối trong thực thi luật pháp tại địa phương du lịch, hạn chế về
tìm kiếm điểm đến nếu luật pháp tại nước sở tại không cho phép công
ty du lịch nước ngoài được tíên hành hoạt động kinh doanh du lịch
trên lãnh thổ đó. Thực tế, doanh nghiệp lữ hành nhận khách sẽ hướng
nhiều sự quan tâm nhiều hơn tới doanh nghiệp lữ hành gửi khách về
mặt mong muốn có nguồn khách ổn định nhưng thực chất doanh
nghiệp lữ hành gửi khách coi trọng doanh nghiệp nhận khách hơn vì
Công ty lữ
hành gửi
khách
Công ty lữ
hành nhận
khách
Nhà cung cấp số 2
Nhà cung cấp số 1
Nhà cung cấp số n
hoạt động điều hành của doanh nghiệp này quyết định đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp lữ hành gửi khách. Không có một đối
tác tốt, doanh nghiệp lữ hành gửi khách khó có thể phát triển được.
Không ai hiểu về điểm đến du lịch hơn những doanh nghiệp
nhận khách tại chính quốc gia đó. Khi doanh nghiệp nhận khách xây
dựng một chương trình mới đều cần sự tư vấn, giúp đỡ của doanh
nghiệp nhận khách về địa hình, giao thông, khách sạn, nhà hàng…sao
cho thuận tiện và phù hợp với tâm lý và đảm bảo về mặt sức khoẻ cho
du khách. Những sự gợi ý hay sẽ dẫn đến kết quả là sự ra đời của
những chương trình du lịch hay và độc đáo. Cùng một quan hệ là hợp
tác trong kinh doanh như nhau nhưng doanh nghiệp gửi khách nào có
sự quan hệ tốt hơn với đối tác sẽ được sự quan tâm đặc biệt hơn và giá
cả ưu đãi hơn.
Doanh nghiệp lữ hành nhận khách thực hiện phần chương trình
tour chính và quan trọng nhất trong cả hành trình của du khách.
Những tình huống khó xử, bất ngờ nhất thông thườngười đều xảy ra
trong giai đoạn này. Chúng gây nên sự căng thẳng, lo lắng cho người
điều hành tour, hướng dẫn viên của cả hai công ty. Sự giúp đỡ của
phía doanh nghiệp nhận khách rất có ý nghĩa với doanh nghiệp gửi
khách trong trường hợp các sự cố xảy ra ( không do lỗi của doanh
nghiệp nhận khách và cả doanh nghiệp gửi khách ). Khi doanh nghiệp
gửi khách đã gửi khách hàng cho doanh nghiệp nhận khách thì doanh
nghiẹp nhận khách đã nhận trách nhiệm đảm bảo an toàn tính mạng và
tài sản của khách du lịch trong thời gian khách lưu lại điểm đến đó.
Bất kỳ dự sơ xuất nhỏ nào của doanh nghiệp nhận khách cũng sẽ phá
huỷ toàn bộ chương trình, gây mất lòng tin, sự không hài lòng của
khách, làm giảm uy tín của doanh nghiệp lữ hành gửi khách do khách
chỉ biết tìm đến doanh nghiệp gửi khách trong trường hợp xảy ra kiện
cáo và buộc doanh nghiệp gửi khách phải đòi doanh nghiệp nhận
khách bồi thường, gây mất thời gian và chi phí, ảnh hưởng tới hoạt
động kinh doanh của cả hai bên. Như vậy, sự điều hành tour của
doanh nghiệp nhận khách đóng góp tới 80% sự thành công của chuyến
du lịch đó.
Sau khi kết thúc chuyến đi, khách du lịch thu được những cảm
nhận tốt đẹp từ sự phục vụ tận tình, từ dịch vụ tốt và thấy tin tưởng
khi lựa chọn công ty gửi khách đó cho những chuyến du lịch sau.
Chính sự hoạt động chuyên nghiệp của doanh ngiệp lữ hành nhận
khách đã mang lại lợi ích vô hình cho doanh nghiệp lữ hành gửi khách
đó là uy tín, thương hiệu.
1.2.4. Tác động tiêu cực do doanh nghiệp nhận khách có thể
gây ra đối với doanh nghiệp lữ hành gửi khách.
Trước khi tiến hành mỗi chương trình du lịch, hai bên công ty
gửi khách và nhận khách đã phải ký hợp đồng cam kết thực hiện đúng
trách nhiệm của mỗi bên. Tuy nhiên, rủi ro cho bên công ty gửi khách
là rất lớn nếu như chất lượng dịch vụ do bên doanh nghiệp nhận khách
cung cấp không đúng với cam kết trong hợp đồng. Chất lượng dịch vụ
này có thể là loại khách sạn không đúng với tiêu chuẩn và giá tiền
khách đã đồng ý lựa chọn, các bữa ăn không hợp khẩu vị, không ngon
và chưa đủ suất, chất lượng xe ôtô quá tồi, không đảm bảo tính an
toàn và tiện lợi cho khách…Tổn thất do bên nhận khách gây ra cho
bên gửi khách là rất lớn, khách hàng sẽ mất lòng tin vào công ty gửi
khách do mọi hoạt động của chương trình du lịch này đều mang
thương hiệu của công ty gửi khách.
Một số công ty nhận khách vì muốn tăng hoa hồng từ những cơ
sở mua sắm đã tự ý cắt xén bớt chương trình tour hoặc kết thúc phần
thăm quan ở một điểm nào sớm hơn kế hoạch để đưa khách đến các
điểm mua sắm đã có quan hệ từ trước. Đa số các trường hợp này đều
do người hướng dẫn viên của bên phía công ty nhận khách chủ định,
gây ảnh hưởng tới quan hệ hợp tác giữa cả hai bên công ty nhận và
gửi khách.
Qúa trình điều hành của công ty nhận khách có thể mắc sai sót về
thời gian, gây cảm giác mệt mỏi, căng thẳng, khó chịu cho khách khi
phải chờ đợi.
Tất cả những tác động tiêu cực do công ty nhận khách có thể gây
ra cho công ty gửi khách đều dẫn đến kết cục kiện cáo. Có những việc
bên nhận khách có thể đền bù được cho bên nhận khách bằng vật chất
nhưng cũng có những điều không gì có thể bù đắp nổi. Do đó, tìm
kiếm một đối tác nhận khách tốt vô cùng quan trọng và đôi khi sự hợp
tác giữa hai công ty thuộc hai quốc gia khác nhau còn phản ánh cả văn
hoá kinh doanh của từng nước, không còn đơn thuần trên phương diện
là hai công ty.
1.3. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp lữ hành gửi khách Việt Nam
với doanh nghiệp lữ hành nhận khách nước ngoài.
1.3.1. Xu hướng đẩy mạnh quá trình khu vực hoá, quốc tế
hoá của cung du lịch.
Trong quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, sự phát triển kinh
tế của mối quốc gia luôn bị chi phối, ràng buộc lẫn nhau thông qua các
thể chế kinh tế quốc tế cả song phương và đa phương. Cũng như các
ngành kinh tế khác, du lịch không tránh khỏi sự tác động của xu thế
tất yếu trên.
Xu hướng quốc tế hoá, khu vực hoá trong hoạt động du lịch
càng trở nên tất yếu. Ngày nay, du khách có nhu cầu được tham gia
các chuyến du lịch nối kết nhiều điểm du lịch của nhiều nước, do đó
các tuyến, điểm du lịch giữa các nước được gắn kết với nhau đáp ứng
nhu cầu của khách du lịch. Từ sự gắn kết các tuyến điểm quốc tế này
mà sản phẩm, dịch vụ du lịch đã được quốc tế hoá cao. Giờ đây, trên
một chương trình du lịch sẽ xuất hiện logo của rất nhiều nhà cung cấp
nước ngoài và khách sạn cũng không ngoại lệ, sự khác biệt về biên
giới sẽ bị xoá nhoà, thay vào đó là những thương hiệu của các nhà
cung cấp trên thế giới khiến cho khách du lịch cảm thấy như thế giới
này thật nhỏ bé.
Ngành du lịch Việt Nam còn rất non trẻ so với thế giới, chính vì
vậy sự hợp tác với các nhà cung cấp nước ngoài là một cơ hội để
chúng ta học tập cách làm du lịch thực tế nhất, chân thực nhất của các
nước bạn. Một doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam khi hợp tác
với bất kỳ nhà cung cấp nào nói chung và khách sạn nước ngoài nói
riêng đều có thể học tập và tìm tòi những điểm mà chúng ta có thể tiếp
thu và điều chỉnh cho phù hợp với văn hoá Việt Nam. Trong quá trình
doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam thực hiện một chương trình
du lịch tại nước ngoài, chúng ta có thể quan sát cách thức tổ chức tour,
hướng dẫn tour của chính các doanh nghiệp lữ hành tại nước đó hoặc
các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở nước khác đang thực hiện tour
trên đất nước đó.
Chính sự hội nhập quốc tế này là cách thức giúp chúng ta rút
ngắn khoảng cách với trình độ kinh doanh du lịch của thế giới nhanh
nhất và hiệu quả nhất.
1.3.2. Ý nghĩa kinh tế của phát triển du lịch quốc tế thụ
động (outbound)
Du lịch Việt Nam hội nhập với thế giới mang lại hai sự thay đổi
dễ nhận thấy nhất, đó là: số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng
lên rõ rệt và cơ hội cho người Việt Nam đi du lịch nước ngoài cũng rất
rộng mở.
Thực tế cho thấy rằng, du lịch quốc tế thụ động không mang lại
hiệu quả kinh tế trực tiếp. Đây là hình thức nhập khẩu đối với đất
nước gửi khách vì người dân mang tiền tệ ra nước ngoài chi tiêu. Tuy
nhiên, trừ mục đích du lịch thuần tuý, xét về lâu dài thì sau mỗi
chuyến đi nước ngoài này, người Việt Nam thu lại những kiến thức về
thị trường tại đất nước đó, có thể dẫn đến những hợp đồng kinh tế
trong tương lai. Hơn nữa, khi người dân của một quốc gia đi du lịch
nước ngoài nhiều, điều đó chứng tỏ khả năng thanh toán của họ tốt, họ
có đời sống cao. Số lượng người đi du lịch nước ngoài của quốc gia
đó tăng lên rõ rệt là minh chứng cho sự phát triển của quốc gia đó và
đây sẽ là một điểm đáng để nước ngoài quan tâm khi muốn mở rộng
hợp tác với các doanh nghiệp của quốc gia đó hay có những kế hoạch
đầu tư. Như vậy du lịch outbound có ý nghĩa gián tiếp về mặt kinh tế
cho đất nước.
Về hiệu quả xã hội mà du lịch outbound mang lại rất rõ ràng.
Sức khoẻ của khách du lịch được củng cố, tái sản xuất sức lao động
nhanh hơn, khách du lịch được mở rộng tầm hiểu biết, nâng cao tầm
nhìn và thu được nhiều bài học kinh nghiệm cho bản thân.
1.3.3. Tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ giữa
doanh nghiệp lữ hành gửi khách Việt Nam với doanh nghiệp
lữ hành nhận khách nước ngoài.
Như trên đã phân tích, chúng ta đang sống trong thời kỳ hội
nhập, hơn nữa, du lịch đang trở thành ngành mang tính quốc tế cao,
việc các doanh nghiệp lữ hành quốc tế mở ra, việc các tour du lịch đi
qua nhiều điểm du lịch trên thế giới trở thành xu thế tất yếu. Để xây
dựng được các tour du lịch này, nhất thiết các doanh nghiệp lữ hành
doanh lữ hành bao gồm doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa và
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế.
- Doanh nghiệp lữ hành nội địa có quyền xây dựng, quảng cáo, bán và
tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch nội địa.
Ngoài ra, doanh nghiệp lữ hành nội địa cũng phải chấp hành những
quy định về việc mua bảo hiểm du lịch cho khách khi khách có yêu
cầu, hướng dẫn khách tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, chịu
trách nhiệm về hoạt động của hướng dẫn viên…Như vậy, doanh
nghiệp lữ hành nội địa chỉ có phạm vi hoạt động kinh doanh trong
lãnh thổ Việt Nam và có thể phục vụ người nước ngoài đang sinh sống
và làm việc tại Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam.
- Doanh nghiệp lữ hành quốc tế có quyền kinh doanh lữ hành nội địa
nhưng doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa không có quyền kinh
doanh lữ hành quốc tế. Công việc chính của doanh nghiệp lữ hành
quốc tế về bản chất là việc thực hiện một, một vài hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch
nhằm phục vụ người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài vào Việt Nam du lịch ( kinh doanh du lịch quốc tế nhận khách –
inbound tourism ) và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại
Việt Nam ra nước ngoài du lịch ( kinh doanh du lịch quốc tế gửi
khách – outbound tourism ).
Cụ thể:
- Doanh nghiệp lữ hành gửi khách sẽ kinh doanh lữ hành gửi khách
bao gồm khách quốc tế, gửi khách nội địa, là loại kinh doanh mà hoạt
động chính của nó là tổ chức thu hút khách du lịch một các trực tiếp
để đưa khách đến nơi du lịch nổi tiếng. Loại kinh doanh lữ hành này
thích hợp với nơi có cầu du lịch lớn.
- Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nhận khách sẽ kinh doanh nhận
khách quốc tế và nội địa, là loại kinh doanh mà hoạt động chính của
nó là xây dựng các chương trình du lịch, quan hệ với các công ty lữ
hành gửi khách để bán các chương trình du lịch và tổ chức các chương
trình du lịch đã bán cho khách thông qua các công ty gửi khách. Loại
kinh doanh này thích hợp với những nơi có tài nguyên du lịch nổi
tiếng.
Cũng có các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh kết hợp cả gửi
khách và nhận khách. Những doanh nghiệp này thường có tiềm lực tài
chính tốt, có đủ nguồn lực hoạt động nhận khách và gửi khách, được
gọi là các công ty du lịch tổng hợp hoặc các tập đoàn du lịch.
1.2. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp lữ hành doanh nghiệp lữ
hành gửi khách và doanh nghiệp lữ hành nhận khách.
Sự hợp tác giữa hai doanh nghiệp chỉ tồn tại và có thể duy trì
lâu dài khi hai doanh nghiệp cùng tìm thấy lợi ích của mình trong việc
kinh doanh, đồng thời cũng có sự ràng buộc lẫn nhau để tiến hành
công việc chung một cách công bằng cho cả hai phía.
Doanh nghiệp lữ hành gửi khách và doanh nghiệp lữ hành nhận
khách có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình kinh doanh du
lịch. Tầm quan trọng của mối quan hệ này xuất phát từ chính lợi ích
mà mỗi bên đạt được.
1.2.1. Lợi ích của kinh doanh lữ hành nhận khách.
Đối tượng khách mà doanh nghiệp lữ hành nhận khách phục vụ
là những khách hàng do phía doanh nghiệp lữ hành gửi khách khai
thác. Do đó, đặc trưng của các doanh nghiệp lữ hành nhận khách này
là không mất chi phí và thời gian cho hoạt động khai thác khách mà sẽ
nhận nguồn khách từ phía doanh nghiệp lữ hành gửi khách. Như vậy,
doanh nghiệp lữ hành nhận khách đã san sẻ bớt phần rủi ro trong kinh
doanh cho phía doanh nghiệp lữ hành gửi khách. Thực tế chứng minh,
khách hàng đóng vai trò quyết định đến sự thành bại của doanh
nghiệp. Khi các doanh nghiệp lữ hành nhận khách đã nhận được lời
cam kết gửi khách ổn định từ phía doanh nghiệp lữ hành gửi khách thì
họ chỉ tập trung nguồn lực để thực hiện tốt chương trình du lịch, phục
vụ khách du lịch, tránh những chi phí cho các hoạt động khác, đồng
thời nâng cao chất lượng dịch vụ.
Hoạt động quảng cáo là hoạt động phục vụ mục đích chính là
thu hút khách hàng, nó chiếm phần chi phí khá lớn trong chi phí hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp lữ
hành nhận khách lại chỉ cần chú trọng tới hoạt động quảng cáo hướng
tới đối tượng là các doanh nghiệp lữ hành gửi khách, do đó phần chi
phí này không quá tốn kém như chi phí hoạt động khai thác khách trực
tiếp.
Sản phẩm bán cho khách du lịch sẽ mang thương hiệu của
doanh nghiệp lữ hành gửi khách, không mang thương hiệu của doanh
nghiệp nhận khách. Nhưng thương hiệu của doanh nghiệp lữ hành
nhận khách cũng sẽ được nâng lên trong toàn giới kinh doanh lữ hành
quốc tế nhờ sự hợp tác với doanh nghiệp lữ hành gửi khách có danh
tiếng. Nếu doanh nghiệp lữ hành nhận khách làm việc chuyên nghiệp,
đáp ứng đúng mọi yêu cầu của doanh nghiệp lữ hành gửi khách thì các
doanh nghiệp lữ hành gửi khách khác cũng sẽ muốn hợp tác với doanh
nghiệp lữ hành nhận khách đó.
Khi đã tạo được uy tín với doanh nghiệp lữ hành gửi khách và
có nguồn khách ổn định, doanh nghiệp lữ hành nhận khách sẽ thu
được doanh thu ổn định và cao, nếu doanh nghiệp đó có phương thức
kinh doanh tốt thì họ thu được lợi nhuận cao là điều chắc chắn.
1.2.2. Lợi ích của kinh doanh lữ hành gửi khách.
Các doanh nghiệp lữ hành gửi khách không thực hiện phần
chương trình tour tại nước ngoài, tận dụng sự am hiểu và chuyên
nghiệp của công ty lữ hành nhận khách tại điểm đến du lịch để phục
vụ khách du lịch tốt nhất. Thông thường, các doanh nghiệp lữ hành
gửi khách ở cách xa vị trí địa lý đối với doanh nghiệp lữ hành nhận
khách và chính là cách xa địa điểm du lịch đó nên họ không nắm chắc
địa hình, tình hình an ninh, an toàn xã hội, tình hình dân cư địa
phương và đặc biệt là các nhà cung cấp tại địa điểm du lịch đó bằng
chính những doanh nghiệp lữ hành nhận khách. Nhờ sự hiểu biết về
thị trường cung du lịch tại điểm đến của doanh nghiệp lữ hành nhận
khách, doanh nghiệp lữ hành gửi khách sẽ có được mức giá của các
nhà cung cấp tốt nhất.
Trong suốt chuyến đi du lịch, khách hàng mặc nhiên thừa nhận
đây là sản phẩm của công ty lữ hành mà họ đã ký hợp đồng mua tour.
Và chính xác là sản phẩm mang thương hiệu của công ty lữ hành gửi
khách. Do đó, logo và slogan của công ty lữ hành gửi khách sẽ xuất
hiện trong suốt chuyến đi đó. Như vậy, công ty lữ hành gửi khách
cũng đã quảng cáo được về công ty của mình cho những khách du lịch
của đoàn khách từ nơi khác mà cũng tới điểm du lịch đó, cho những
doanh nghiệp nhận khách khác tại địa phương đó, cho chính quyền địa
phương đó…
1.2.3. Vai trò của doanh nghiệp lữ hành nhận khách
đối với doanh nghiệp lữ hành gửi khách.
những. ……….
Theo như sơ đồ trên, có thể thấy rằng, công ty lữ hành nhận khách
chịu trách nhiệm tiếp nhận khách từ công ty lữ hành gửi khách và sẽ
đưa ra danh sách những nhà cung cấp để công ty lữ hành gửi khách
lựa chọn, sau đó, công ty lữ hành nhận khách sẽ làm việc trực tiếp với
các nhà cung cấp đã được lựa chọn đó và kết nối thành dịch vụ cho
khách hàng.
Doanh nghiệp lữ hành nhận khách là đối tác quan trọng của
doanh nghiệp lữ hành nhận khách, đặc biệt là khi hai doanh nghiệp
này thuộc hai quốc gia khác nhau. Sự hợp tác giữa doanh nghiệp lữ
hành gửi khách và nhận khách đều dựa trên mục đích hai bên cùng có
lợi. Như trên đã phân tích, nếu không có một trong hai bên thì hoạt
động kinh doanh du lịch sẽ bị hạn chế về hình thức, tốn kém về chi
phí, rắc rối trong thực thi luật pháp tại địa phương du lịch, hạn chế về
tìm kiếm điểm đến nếu luật pháp tại nước sở tại không cho phép công
ty du lịch nước ngoài được tíên hành hoạt động kinh doanh du lịch
trên lãnh thổ đó. Thực tế, doanh nghiệp lữ hành nhận khách sẽ hướng
nhiều sự quan tâm nhiều hơn tới doanh nghiệp lữ hành gửi khách về
mặt mong muốn có nguồn khách ổn định nhưng thực chất doanh
nghiệp lữ hành gửi khách coi trọng doanh nghiệp nhận khách hơn vì
Công ty lữ
hành gửi
khách
Công ty lữ
hành nhận
khách
Nhà cung cấp số 2
Nhà cung cấp số 1
Nhà cung cấp số n
hoạt động điều hành của doanh nghiệp này quyết định đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp lữ hành gửi khách. Không có một đối
tác tốt, doanh nghiệp lữ hành gửi khách khó có thể phát triển được.
Không ai hiểu về điểm đến du lịch hơn những doanh nghiệp
nhận khách tại chính quốc gia đó. Khi doanh nghiệp nhận khách xây
dựng một chương trình mới đều cần sự tư vấn, giúp đỡ của doanh
nghiệp nhận khách về địa hình, giao thông, khách sạn, nhà hàng…sao
cho thuận tiện và phù hợp với tâm lý và đảm bảo về mặt sức khoẻ cho
du khách. Những sự gợi ý hay sẽ dẫn đến kết quả là sự ra đời của
những chương trình du lịch hay và độc đáo. Cùng một quan hệ là hợp
tác trong kinh doanh như nhau nhưng doanh nghiệp gửi khách nào có
sự quan hệ tốt hơn với đối tác sẽ được sự quan tâm đặc biệt hơn và giá
cả ưu đãi hơn.
Doanh nghiệp lữ hành nhận khách thực hiện phần chương trình
tour chính và quan trọng nhất trong cả hành trình của du khách.
Những tình huống khó xử, bất ngờ nhất thông thườngười đều xảy ra
trong giai đoạn này. Chúng gây nên sự căng thẳng, lo lắng cho người
điều hành tour, hướng dẫn viên của cả hai công ty. Sự giúp đỡ của
phía doanh nghiệp nhận khách rất có ý nghĩa với doanh nghiệp gửi
khách trong trường hợp các sự cố xảy ra ( không do lỗi của doanh
nghiệp nhận khách và cả doanh nghiệp gửi khách ). Khi doanh nghiệp
gửi khách đã gửi khách hàng cho doanh nghiệp nhận khách thì doanh
nghiẹp nhận khách đã nhận trách nhiệm đảm bảo an toàn tính mạng và
tài sản của khách du lịch trong thời gian khách lưu lại điểm đến đó.
Bất kỳ dự sơ xuất nhỏ nào của doanh nghiệp nhận khách cũng sẽ phá
huỷ toàn bộ chương trình, gây mất lòng tin, sự không hài lòng của
khách, làm giảm uy tín của doanh nghiệp lữ hành gửi khách do khách
chỉ biết tìm đến doanh nghiệp gửi khách trong trường hợp xảy ra kiện
cáo và buộc doanh nghiệp gửi khách phải đòi doanh nghiệp nhận
khách bồi thường, gây mất thời gian và chi phí, ảnh hưởng tới hoạt
động kinh doanh của cả hai bên. Như vậy, sự điều hành tour của
doanh nghiệp nhận khách đóng góp tới 80% sự thành công của chuyến
du lịch đó.
Sau khi kết thúc chuyến đi, khách du lịch thu được những cảm
nhận tốt đẹp từ sự phục vụ tận tình, từ dịch vụ tốt và thấy tin tưởng
khi lựa chọn công ty gửi khách đó cho những chuyến du lịch sau.
Chính sự hoạt động chuyên nghiệp của doanh ngiệp lữ hành nhận
khách đã mang lại lợi ích vô hình cho doanh nghiệp lữ hành gửi khách
đó là uy tín, thương hiệu.
1.2.4. Tác động tiêu cực do doanh nghiệp nhận khách có thể
gây ra đối với doanh nghiệp lữ hành gửi khách.
Trước khi tiến hành mỗi chương trình du lịch, hai bên công ty
gửi khách và nhận khách đã phải ký hợp đồng cam kết thực hiện đúng
trách nhiệm của mỗi bên. Tuy nhiên, rủi ro cho bên công ty gửi khách
là rất lớn nếu như chất lượng dịch vụ do bên doanh nghiệp nhận khách
cung cấp không đúng với cam kết trong hợp đồng. Chất lượng dịch vụ
này có thể là loại khách sạn không đúng với tiêu chuẩn và giá tiền
khách đã đồng ý lựa chọn, các bữa ăn không hợp khẩu vị, không ngon
và chưa đủ suất, chất lượng xe ôtô quá tồi, không đảm bảo tính an
toàn và tiện lợi cho khách…Tổn thất do bên nhận khách gây ra cho
bên gửi khách là rất lớn, khách hàng sẽ mất lòng tin vào công ty gửi
khách do mọi hoạt động của chương trình du lịch này đều mang
thương hiệu của công ty gửi khách.
Một số công ty nhận khách vì muốn tăng hoa hồng từ những cơ
sở mua sắm đã tự ý cắt xén bớt chương trình tour hoặc kết thúc phần
thăm quan ở một điểm nào sớm hơn kế hoạch để đưa khách đến các
điểm mua sắm đã có quan hệ từ trước. Đa số các trường hợp này đều
do người hướng dẫn viên của bên phía công ty nhận khách chủ định,
gây ảnh hưởng tới quan hệ hợp tác giữa cả hai bên công ty nhận và
gửi khách.
Qúa trình điều hành của công ty nhận khách có thể mắc sai sót về
thời gian, gây cảm giác mệt mỏi, căng thẳng, khó chịu cho khách khi
phải chờ đợi.
Tất cả những tác động tiêu cực do công ty nhận khách có thể gây
ra cho công ty gửi khách đều dẫn đến kết cục kiện cáo. Có những việc
bên nhận khách có thể đền bù được cho bên nhận khách bằng vật chất
nhưng cũng có những điều không gì có thể bù đắp nổi. Do đó, tìm
kiếm một đối tác nhận khách tốt vô cùng quan trọng và đôi khi sự hợp
tác giữa hai công ty thuộc hai quốc gia khác nhau còn phản ánh cả văn
hoá kinh doanh của từng nước, không còn đơn thuần trên phương diện
là hai công ty.
1.3. Mối quan hệ giữa doanh nghiệp lữ hành gửi khách Việt Nam
với doanh nghiệp lữ hành nhận khách nước ngoài.
1.3.1. Xu hướng đẩy mạnh quá trình khu vực hoá, quốc tế
hoá của cung du lịch.
Trong quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá, sự phát triển kinh
tế của mối quốc gia luôn bị chi phối, ràng buộc lẫn nhau thông qua các
thể chế kinh tế quốc tế cả song phương và đa phương. Cũng như các
ngành kinh tế khác, du lịch không tránh khỏi sự tác động của xu thế
tất yếu trên.
Xu hướng quốc tế hoá, khu vực hoá trong hoạt động du lịch
càng trở nên tất yếu. Ngày nay, du khách có nhu cầu được tham gia
các chuyến du lịch nối kết nhiều điểm du lịch của nhiều nước, do đó
các tuyến, điểm du lịch giữa các nước được gắn kết với nhau đáp ứng
nhu cầu của khách du lịch. Từ sự gắn kết các tuyến điểm quốc tế này
mà sản phẩm, dịch vụ du lịch đã được quốc tế hoá cao. Giờ đây, trên
một chương trình du lịch sẽ xuất hiện logo của rất nhiều nhà cung cấp
nước ngoài và khách sạn cũng không ngoại lệ, sự khác biệt về biên
giới sẽ bị xoá nhoà, thay vào đó là những thương hiệu của các nhà
cung cấp trên thế giới khiến cho khách du lịch cảm thấy như thế giới
này thật nhỏ bé.
Ngành du lịch Việt Nam còn rất non trẻ so với thế giới, chính vì
vậy sự hợp tác với các nhà cung cấp nước ngoài là một cơ hội để
chúng ta học tập cách làm du lịch thực tế nhất, chân thực nhất của các
nước bạn. Một doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam khi hợp tác
với bất kỳ nhà cung cấp nào nói chung và khách sạn nước ngoài nói
riêng đều có thể học tập và tìm tòi những điểm mà chúng ta có thể tiếp
thu và điều chỉnh cho phù hợp với văn hoá Việt Nam. Trong quá trình
doanh nghiệp lữ hành quốc tế Việt Nam thực hiện một chương trình
du lịch tại nước ngoài, chúng ta có thể quan sát cách thức tổ chức tour,
hướng dẫn tour của chính các doanh nghiệp lữ hành tại nước đó hoặc
các doanh nghiệp lữ hành quốc tế ở nước khác đang thực hiện tour
trên đất nước đó.
Chính sự hội nhập quốc tế này là cách thức giúp chúng ta rút
ngắn khoảng cách với trình độ kinh doanh du lịch của thế giới nhanh
nhất và hiệu quả nhất.
1.3.2. Ý nghĩa kinh tế của phát triển du lịch quốc tế thụ
động (outbound)
Du lịch Việt Nam hội nhập với thế giới mang lại hai sự thay đổi
dễ nhận thấy nhất, đó là: số lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng
lên rõ rệt và cơ hội cho người Việt Nam đi du lịch nước ngoài cũng rất
rộng mở.
Thực tế cho thấy rằng, du lịch quốc tế thụ động không mang lại
hiệu quả kinh tế trực tiếp. Đây là hình thức nhập khẩu đối với đất
nước gửi khách vì người dân mang tiền tệ ra nước ngoài chi tiêu. Tuy
nhiên, trừ mục đích du lịch thuần tuý, xét về lâu dài thì sau mỗi
chuyến đi nước ngoài này, người Việt Nam thu lại những kiến thức về
thị trường tại đất nước đó, có thể dẫn đến những hợp đồng kinh tế
trong tương lai. Hơn nữa, khi người dân của một quốc gia đi du lịch
nước ngoài nhiều, điều đó chứng tỏ khả năng thanh toán của họ tốt, họ
có đời sống cao. Số lượng người đi du lịch nước ngoài của quốc gia
đó tăng lên rõ rệt là minh chứng cho sự phát triển của quốc gia đó và
đây sẽ là một điểm đáng để nước ngoài quan tâm khi muốn mở rộng
hợp tác với các doanh nghiệp của quốc gia đó hay có những kế hoạch
đầu tư. Như vậy du lịch outbound có ý nghĩa gián tiếp về mặt kinh tế
cho đất nước.
Về hiệu quả xã hội mà du lịch outbound mang lại rất rõ ràng.
Sức khoẻ của khách du lịch được củng cố, tái sản xuất sức lao động
nhanh hơn, khách du lịch được mở rộng tầm hiểu biết, nâng cao tầm
nhìn và thu được nhiều bài học kinh nghiệm cho bản thân.
1.3.3. Tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ giữa
doanh nghiệp lữ hành gửi khách Việt Nam với doanh nghiệp
lữ hành nhận khách nước ngoài.
Như trên đã phân tích, chúng ta đang sống trong thời kỳ hội
nhập, hơn nữa, du lịch đang trở thành ngành mang tính quốc tế cao,
việc các doanh nghiệp lữ hành quốc tế mở ra, việc các tour du lịch đi
qua nhiều điểm du lịch trên thế giới trở thành xu thế tất yếu. Để xây
dựng được các tour du lịch này, nhất thiết các doanh nghiệp lữ hành
Thực hiện kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán - AASC
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hàng bán, .Do vậy cách này làm tăng chi phí kiểm toán do thực hiện nhiều
công việc trùng nhau.
Phân chia theo chu trình là cách chia các phần hành kiểm toán không
căn cứ vào các khoản mục trên Bảng khai tài chính mà căn cứ váo mối quan hệ
chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các yếu tố cấu thành trong một chu
trình chung của hoạt động tài chính. Cách phân chia này hiệu quả hơn do xuất
phát từ mối liên hệ vốn có của các nghiệp vụ và từ đó thu gom đợc các liên hệ
trong kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứa đựng trong Bảng khai tài chính. Từ
đó giảm đợc chi phí kiểm toán và tăng tính kiểm tra lẫn nhau. Cụ thể kiểm
toán theo các phần hành nh: kiểm toán hàng tồn kho, kiểm toán bán hàng và
thu tiền, kiểm toán mua hàng và thanh toán, kiểm toán TSCĐ .
Trên cơ sở đó, trình tự kiểm toán báo cáo tài chính có thể khác nhau tuỳ
thuộc vào từng khách thể kiểm toán và nội dung của từng cuộc kiểm toán
Theo đó qui trình kiểm toán Báo cáo tài chính đợc hiểu là các giai đoạn, các
bớc lần lợt đợc thực hiện trong quá trình kiểm toán. Để thu thập các bằng chứng
kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính
trung và thực hợp lý của các thông tin trên Báo cáo tài chính, từ đó nâng cao chất l-
ợng, bảo đảm tính hiệu quả hiệu năng của từng cuộc kiểm toán. Cuộc kiểm toán th-
ờng đợc thực hiện theo qui trình gồm ba bớc nh sau: lập kế hoạch kiểm toán, thực
hiện kế hoạch kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
(Sơ đồ số 1).
Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính
5
Giai đoạn I
Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Giai đoạn II
Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Giai đoạn III
Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giai đoạn I, Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các
kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra điệu kiện pháp
lý cũng nh các điều kiện khác cho cuộc kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán đã
đợc quy định trong chuẩn mực kiểm toán thứ t đợc thừa nhận rộng rãi (GAAS) đòi
hỏi: công tác kiểm toán phải đợc lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu có, phải
giám sát đúng đắn. Đoạn hai trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA
300) cũng nêu rõ: Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm
toán để có thể đảm bảo rằng cuộc kiểm toán đã đợc tiến hành một cách có hiệu
quả. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán đợc thực hiện thông qua các bớc sau:
chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán; thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách
hàng và thực hiện các thủ tục phân tích; đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán;
tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giái rủi to kiểm soát; lập kế hoạch
kiểm toán toàn diện và soạn thảo chơng trình kiểm toán.
Giai đoạn II, thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phơng
pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tợng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng
chững kiểm toán. Đó là quá trình đợc thực hiện có kế hoạch, có chơng trình cụ thể
và chủ động nhằm thu thập đợc những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có độ tin
cậy cao để minh chứng cho những ý kiến mà kiểm toán viên đẫ đa ra trong báo cáo
kiểm toán.
Giai đoạn III, hoàn tất công việc kiểm toán là giai đoạn kết quả của các bớc
cụ thể trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán đợc xem sét trong mối quan
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hệ hợp lý chung và kiểm nghiệm trong quan hệ với các sự kiện bất thờng, những
nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập bảng khai tài chính.
1.2. Vai trò, vị trí của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm
toán báo cáo tài chính
Theo quy trình kiểm toán, giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán đợc thực
hiện sau giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và trớc giai đoạn hoàn tất cuộc kiểm
toán. Về thời gian giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán đợc thực hiện tại công ty
khách hàng bởi các kiểm toán viên và các trợ lý kiểm toán sau khi đợc phân công
phần hành cụ thể. Theo đó, tuỳ thuộc vào kết quả đánh giá độ tin cậy của hệ thống
kiểm soát nội bộ (trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán) ở các cấp độ khác nhau
các kiểm toán viên sẽ quyết định các thủ tục kiểm toán sẽ sử dụng cụ thể:
- Nếu kiểm toán viên khẳng định không thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng, công việc kiểm toán sẽ đợc triển khai theo hơng sử dụng ngay
các trắc nghiệm độ vững chãi với số lợng lớn. Trờng hợp ngợc lại có thể sử dụng
kết hợp các trắc nghiệm đạt yêu cầu với các trắc nghiệm độ vững chãi trên số lợng
ít hơn các nghiệp vụ. Mức độ nhiều ít của các trắc nghiệm này tuỳ thuộc vào mức
độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Nếu nh kiểm toán viên đánh giá mức độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội
bộ cao thì bằng chứng đợc thu thập và tích luỹ chủ yếu qua các trắc nghiệm đạt
yêu cầu kết hợp với số ít các bằng chứng thu thập qua các trắc nghiệm độ vững
chãi. Trắc nghiệm độ vững chãi của công việc đợc hiểu là trình tự rà soát các thông
tin về giá trị bằng tiền của các khoản mục. Trong trờng hợp này kiểm toán viên
phải tiến hành tính toán lại các số tiền trên các chứng từ kế toán và so sánh đối
chiếu với các chứng từ kế toán và các sổ sách kế toán có liên quan. Từ đó khẳng
định mức độ thoả mãn mục đich bảo đảm độ tin cậy các thông tin của hệ thống
kiểm soát nội bộ. Ngợc lại, nếu độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ đợc đánh
giá thấp thì trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc thực hiện với số lợng nhiều hơn. Nh vậy,
trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc triển khai chỉ với mục đích thu thập các bằng chứng
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bảo đảm sự tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ. Cụ thể trắc nghiệm đạt yêu cầu
công việc đợc hiểu là trình tự rà soát các thủ tục kế toán hay thủ tục quản lý có liên
quan đến đối tợng kiểm toán. Đối tợng kiểm toán có thể dựa trên các dấu vết (nh
chữ ký trên các chứng từ) hoặc không để lại dấu vết cụ thể (nh phân công, phân
nhiệm). Trong quan hệ đó trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc thực hiện trong các tình
huống khác nhau: có dấu vết và không có dấu vết.Trong trờng hợp có dấu vết các
kiểm toán viên cần đối chiếu với các chữ ký trên các chứng từ và xem sét trách
nhiệm tơng xớng của từng ngời có trách nhiệm. Trong trờng hợp không có dấu vết,
các kiểm toán viền cần phỏng vấn các nhân viên có liên quan và quan sát các hoạt
động thực tế của họ. Nh vậy, trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc thực hiện nhằm khẳng
định sự tuân thủ các qui định đợc thiết kế nhằm kiểm soát các hoạt động hàng
ngày của đơn vị đợc kiểm toán hớng tới tính hiệu năng và hiệu quả. Qua đó đánh
giá mức độ tin cậy của các thông tin thu thập đợc.
Giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán có vai trò quan trọng trong quá
trình kiểm toán. Đó là giai đoạn cung cấp nhiều nhất các bằng chứng kiểm toán có
độ tiên cậy cao trong hệ thống các bằng chứng kiểm toán đợc lu trữ trong hồ sơ
kiểm toán. Đồng thời đây cũng là giai đoạn chiếm rất nhiều chi phí trong cuộc
kiểm toán.
Chơng II: Giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán
Báo cáo tài chính
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phơng pháp kỹ thuật
kiểm toán tích ứng với đối tợng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm
toán.
Cơ sở phơng pháp kỹ thuật của kiểm toán trớc hết phải kể đến phơng pháp
toán học. Do các đối tợng kiểm toán là các thông tin đợc qui đổi sang đơn vị tiền
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tệ. Nên phơng pháp toán học là phơng pháp đợc sử dụng phổ biến trong kiểm toán.
Ngoài ra, đối tợng kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính đợc lập nên từ các
cân đối kế toán. Do đó, kiểm toán không chỉ sử dụng phơng pháp toán học mà còn
sử dụng kết hợp phơng pháp toán học và phơng pháp chứng từ để thu thập những
bằng chứng tin cậy minh chứng cho ý kiến của mình. Đồng thời, kiểm toán sử
dụng phơng pháp ngoài chứng từ để thu thập những bằng chứng về khách hàng mà
Bảng khai tài chính không phản ánh hết.
2.1. Thực hiện thử nghiệm kiểm soát trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm
toán
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm
soát là phần việc quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện trong một cuộc
kiểm toán. Vấn đề này đợc chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400(VSA 400),
đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ
thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm
toán và xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 (VSA 500) Bằng chứng
kiểm toán- Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát): là việc kiểm tra
để thu thập bằn chứng kiểm toán về tính thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiêụ
của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ.
Sau quá trình tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm toán nội bộ của
đơn vị khách hàng nếu nh các kiểm toán viên thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng thực sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả thì kiểm toán viên đa ra mức
rủi ro kiểm soát ban đầu (CR) và khi đó thử nghiệm kiểm soát sẽ đợc thực hiện để
có đủ bằng chứng để khẳng định lại mức rủi ro đã nhận định ở bớc lập kế hoạch
kiểm toán. Ngợc lại thử nghiệm kiểm soát sẽ không đợc thực hiện.
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mức độ thực hiện các trắc nghiệm này tuỳ thuộc vào mức độ đánh giá ban
đầu của các kiểm toán viên đối với hệ thống kiểm soát nội bộ trong giai đoạn lập
kế hoạch kiểm toán.
Qui trình thu thập bằng chứng qua thử nghiệm kiểm soát (thủ tục kiểm soát)
đợc thực hiện theo các bớc sau:
Bớc một, tìm hiểu và mô tả chi tiết hệ thống kiểm soát nội bộ của khách
hàng. Đây là bớc đầu trong qui trình thu thập bằng chứng kiểm toán qua việc tìm
hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội
bộ của đơn vị nhằm mục đích:
+)Thu thập các thông tin về tính trung thực của ban giám đốc trong việc lập
và trình bày các sổ sách kế toán nhằm thoả mãn các bằng chứng thu thập đợc có
thể minh chứng cho các ý kiến đã nêu ra trong báo cáo kiểm toán về số liệu trên
Báo cáo tài chính.
+)Nhận diện và đánh giá các sai phạm tiềm tàng (là các sai phạm thuộc bản
thân các nghiệp vụ kinh tế cụ thể không kể đến sự có mặt của hệ thống kiểm soát
nội của khách hàng).
+)Đánh giá ban đầu về mức rủi ro kiểm soát (là rủi ro do hệ thống kiểm soát
nội bộ của đợn vị không có khả năng phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các
sai phạm sảy ra thờng ngày tại đơn vị đuợc kiểm toán). Theo đó ảnh hởng đến rủi
ro phát hiện (rủi ro do các kiểm toán viên không phát hiện hết các sai phạm ảnh h-
ởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính). Từ đó ảnh hởng quyết định đến số lợng bằng
chứng kiểm toán cần thu thập.
+)Có kế hoạch thiết kế các cuộc khảo sát thích hợp.
Trong giai đoạn này kiểm toán viên tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng trên hai mặt chủ yếu: thứ nhất, tính thiết kế của kiểm soát nội bộ bao
gồm thiết kế về các chính sách và thiết kế về bộ máy kiểm soát có phù hợp với đặc
điểm tình hình kinh doanh của khách hàng. Thứ hai, tính hoạt động liên tục và có
hiệu lực của kiểm soát nội bộ có phát hiện ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các
phạm trong quá trình kinh doanh hàng ngày của đơn vị. Tìm hiểu hệ thống kiểm
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
soát nội bộ đợc thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, trong đó kiểm
toán viên phải tìm hiểu về thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng theo từng yếu tố cấu thành để đạt các mục tiêu trên.
Công tác tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng thờng đ-
ợc tiến hành theo các khoản mục hoặc theo các chu trình (theo từng tài khoản, từng
bộ phận trên báo cáo tài chính hoặc theo các chu trình nh chu trình bán hàng và thu
tiền ).
Thể thức đạt đợc sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng:
+)Nếu là khách hàng lâu năm của đơn vị kiểm toán, việc tìm hiểu và đánh
giá hệ thống kiểm soát nội bộ có thể dựa vào những kinh nghiệm trớc đây của
kiểm toán viên với khách hàng. Thông thờng các cuộc kiểm toán hàng năm của
công ty kiểm toán là ở các khách hàng truyền thống của đơn vị. Do đó, trớc khi bắt
đầu cuộc kiểm toán hàng năm các nhân viên kiểm toán đã có khối lợng lớn các
thông tin về hệ thống kiểm soát nộ bộ của khách hàng. Tuy nhiên, các kiểm toán
viên vẫn phải tìm hiểu và đánh giá lại hệ thống kiểm soát nội bộ để cập nhật các
sửa đổi thờng xuyên của đơn vị đợc kiểm toán.
+)Thẩm vấn các nhân viên của công ty khách hàng. Công việc này giúp cho
kiểm toàn viên thu thập đợc sự hiểu biết ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng (nếu đó là khách hàng mới). Trong trờng hợp khách hàng là truyền
thống của công ty kiểm toán thì công việc này giúp cho các kiểm toán viên cập
nhật các thông tin thay đổi trong hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng.
+)Xem xét sổ tay về các thủ tục và chế độ của công ty khách hàng: công
việc này giúp cho kiểm toán viên có thể hiểu rõ các thủ tục và chế độ liên quan đến
hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng. Từ đó, có nhận xét ban đầu về tính thiết
kế của hệ thống kiểm soát nội bộ.
+)Kiểm tra các chứng từ và sổ sách đã hoàn tất: công việc này giúp cho
kiểm toán viên thấyđợc các thủ tục đã thiết kế đợc vận hành và vận hành nh thế
nào. Từ đó có nhận xét ban đầu về tính hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+)Quan sát các hoạt động của công ty khách hàng: Công việc này củng cố
thêm sự hiểu biết và kiến thức về thực tế sử sụng các thủ tục và chính sách kiểm
soát nội bộ của công ty khách hàng.
Sau khi có đợc sự hiểu biết ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua
các thể thức trên. Các kiểm toán viên mô tả chi tiết hệ thống kiểm soát nội bộ bằng
sự kết hợp 3 phơng pháp :
* Bảng hệ thống câu hỏi: bảng này do các kiểm toán viên và công ty kiểm
toán thiết kế sẵn bao gồm hệ thống các câu hỏi về thống kiểm soát nội bộ của đơn
vị đợc kiểm toán. Các câu hỏi thiết kế dới dạng câu trả lời có hoặc không và các
câu trả lời không cho thấy nhợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ.
* Bảng tờng thuật: đây là hình thức kiểm toán viên và công ty kiểm toán mô
tả hệ thống kiểm soát nội bộ bằng văn bản văn xuôi.
* Lu đồ: kiểm toán viên và công ty kiểm toán sử dụng các lu đồ ngang và
các lu đồ dọc để mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng.
Trong thực tế để có cái nhìn tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ các kiểm
toán viên thờng sử dụng phối hợp cả 3 phơng pháp trên. Tuy nhiên, mức độ sử
dụng các phơng pháp này lại phụ thuộc vào chi phí kiểm và kinh nghiệm nghề
nghiệp của các kiểm toán viên.
Bớc thứ hai, đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát và lập kế hoạch kiểm
toán cho từng khoản mục.
* Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát: là việc đánh giá khả năng phát
hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu ảnh hởng đến báo cáo
tài chính của khách hàng.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) : đánh giá rủi ro và
kiếm soát nội bộ nêu rõ: sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống
kế toán, kiểm toán viên thực hiện đánh giá ban đầu rủi ro kiểm soát theo các cơ sở
dẫn liệu cho số d của mỗi tài khoản trọng yếu
Nh vậy, sau khi đạt đợc sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của công
ty khách hàng, kiểm toán viên tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát cho từng khoản
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mục chi tiết. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng hoạt động có
hiệu lực thì rủi ro kiểm soát đợc đánh giá thấp và ngợc lại. Công việc này đợc thực
hiện cho từng nghiệp vụ kinh tế chủ yếu theo thứ tự các bớc sau:
+)Nhận diện mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận vận
dụng. Bớc này các kiểm toán viên nhận biết các mục tiêu kiểm soát cụ thể đối với
từng loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu của công ty khách hàng mà theo đó có thể
đánh giá rủi ro kiểm soát cho từng khoản mục.
+)Nhận diện các quá trình kiểm soát đối với từng khoản mục chủ yếu: để
bảo đảm tính hiệu quả của cuộc kiểm toán kiểm toán viên không cần thiết phải
xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ xem xét các quá trình kiểm soát có ảnh h-
ởng lớn nhất đến việc thoả mản các mục tiêu kiểm soát.
+)Nhận diện và đánh giá các nhợc điểm của hệ thống kiếm soát nội bộ: nh-
ợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ đợc hiểu là không thiết kế các thủ tục cần
thiết hoặc không phát hiện, ngăn ngừa, sửa chữa các sai phạm ảnh hởng trọng yếu
đến báo cáo tài chính của đơn vị.
+)Đánh giá ban đầu rủi ro kiểm soát: sau khi đã nhận diện các quá trình
kiểm soát và các nhợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ kiểm toán viên tiến
hành đánh giá ban đầu mức độ rủi ro kiểm soát đối với từng mục tiêu kiểm soát
của từng loại nghiệp vụ kinh tế cụ thể. Kiểm toán viên có thể đánh giá mức độ rủi
ro kiểm soát theo phơng pháp định tính (cao, trung bình, thấp) hoặc theo tỷ lệ %.
Kiểm toán viên đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát là cao khi:
- Hệ thống kiểm soát nội bộ không áp dụng các thủ tục các chính sách đã đ-
ợc thiết kế.
- Hoặc hệ thống kiểm soát nội bộ có áp dụng các thủ tục và các chính sách
kiểm soát nhng không đủ dẫn đến không đạt đợc các mục tiêu kiểm soát chủ yếu.
Tuy nhiên đây mới chỉ là mức rủi ro kiểm soát (CR) ban đầu và sẽ đợc điều
chỉnh lại sau khi thực hiện thủ tục kiểm soát trong giai đoạn thực hiện kế hoạch
kiểm toán.
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mối quan hệ giữa việc đánh giá mức rủi ro kiểm soát ban đầu và việc xác
định các thử nghiệm áp dụng: việc đánh giá ban đầu mức rủi ro kiểm soát có ảnh
hởng trực tiếp đến việc xác định các thử nghiệm đợc áp dụng. Nếu nh mức đánh rủi
ro kiểm soát là tối đa thì kiểm toán viên không thể dựa vào đánh giá hệ thống kiếm
soát nội bộ để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản. Trái lại cần phải tăng cờng các thử
nghiệm cơ bản để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán. Trong trờng hợp này các
kiểm toán viên không phải thực hiện các thử nghiệm kiểm soát. Thử nghiệm kiểm
soát cũng không đợc thực hiện nếu kiểm toán viên cho rằng việc thực hiện nó
không hiệu quả bằng trực tiếp thực hiện ngay các thử nghiệp cơ bản.
Đánh giá mức rủi ro kiểm soát là tối đa khi: hệ thống kiểm soát nội bộ của
công ty khách hàng không đủ các thủ tục, chính sách cần thiết hoặc việc vận dụng
các thủ tục không hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn ngừa, và sửa chữa các sai
phạm ảnh hởng trọng yếu tới Báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán.
Kiểm toán viên đợc đánh giá mức rủi ro kiểm soát thấp hơn mức tối đa
khi: Kiểm toán viên thấy rằng các thủ tục kiểm soát của khách hàng liên quan đến
cơ sở dẫn liệu có thể phát hiện, ngăn ngừa các gian lận và sai sót ảnh hởng trọng
yếu tới Báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán. Trong trờng hợp này kiểm toán
viên lập kế hoạch thực hiện thủ tục kiểm soát để đánh giá lại nhận định ban đầu vể
mức rủi ro kiểm soát mà kiểm toán viên đã nêu ra trớc đó.
Bớc thứ ba, thực hiện thử mghiệm kiểm soát.
Mục đích của việc thực hiện thủ tục tuân thủ là thu thập các bằng chứng về
sự thiết kế các thủ tục kiểm soát và tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ của
công ty khách hàng để nhận định lại mức rủi ro kiểm soát ban đầu. Từ đó thiết kế
các thủ tục cơ bản trong mối quan hệ với tính hiệu quả của cuộc kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 (VSA 500): Bằng chứng kiểm toán,
qui định: các kiểm toán viên phải xem xét sự đầy đủ và tính thích hợp của các
bằng chứng làm cơ sở cho việc đánh giá của mình về mức rủi ro kiểm soát ban
đầu.
14
hàng bán, .Do vậy cách này làm tăng chi phí kiểm toán do thực hiện nhiều
công việc trùng nhau.
Phân chia theo chu trình là cách chia các phần hành kiểm toán không
căn cứ vào các khoản mục trên Bảng khai tài chính mà căn cứ váo mối quan hệ
chặt chẽ lẫn nhau giữa các khoản mục, các yếu tố cấu thành trong một chu
trình chung của hoạt động tài chính. Cách phân chia này hiệu quả hơn do xuất
phát từ mối liên hệ vốn có của các nghiệp vụ và từ đó thu gom đợc các liên hệ
trong kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứa đựng trong Bảng khai tài chính. Từ
đó giảm đợc chi phí kiểm toán và tăng tính kiểm tra lẫn nhau. Cụ thể kiểm
toán theo các phần hành nh: kiểm toán hàng tồn kho, kiểm toán bán hàng và
thu tiền, kiểm toán mua hàng và thanh toán, kiểm toán TSCĐ .
Trên cơ sở đó, trình tự kiểm toán báo cáo tài chính có thể khác nhau tuỳ
thuộc vào từng khách thể kiểm toán và nội dung của từng cuộc kiểm toán
Theo đó qui trình kiểm toán Báo cáo tài chính đợc hiểu là các giai đoạn, các
bớc lần lợt đợc thực hiện trong quá trình kiểm toán. Để thu thập các bằng chứng
kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính
trung và thực hợp lý của các thông tin trên Báo cáo tài chính, từ đó nâng cao chất l-
ợng, bảo đảm tính hiệu quả hiệu năng của từng cuộc kiểm toán. Cuộc kiểm toán th-
ờng đợc thực hiện theo qui trình gồm ba bớc nh sau: lập kế hoạch kiểm toán, thực
hiện kế hoạch kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
(Sơ đồ số 1).
Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính
5
Giai đoạn I
Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Giai đoạn II
Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Giai đoạn III
Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giai đoạn I, Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các
kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra điệu kiện pháp
lý cũng nh các điều kiện khác cho cuộc kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán đã
đợc quy định trong chuẩn mực kiểm toán thứ t đợc thừa nhận rộng rãi (GAAS) đòi
hỏi: công tác kiểm toán phải đợc lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu có, phải
giám sát đúng đắn. Đoạn hai trong chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 (VSA
300) cũng nêu rõ: Kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần lập kế hoạch kiểm
toán để có thể đảm bảo rằng cuộc kiểm toán đã đợc tiến hành một cách có hiệu
quả. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán đợc thực hiện thông qua các bớc sau:
chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán; thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách
hàng và thực hiện các thủ tục phân tích; đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán;
tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giái rủi to kiểm soát; lập kế hoạch
kiểm toán toàn diện và soạn thảo chơng trình kiểm toán.
Giai đoạn II, thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phơng
pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứng với đối tợng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng
chững kiểm toán. Đó là quá trình đợc thực hiện có kế hoạch, có chơng trình cụ thể
và chủ động nhằm thu thập đợc những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có độ tin
cậy cao để minh chứng cho những ý kiến mà kiểm toán viên đẫ đa ra trong báo cáo
kiểm toán.
Giai đoạn III, hoàn tất công việc kiểm toán là giai đoạn kết quả của các bớc
cụ thể trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán đợc xem sét trong mối quan
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hệ hợp lý chung và kiểm nghiệm trong quan hệ với các sự kiện bất thờng, những
nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập bảng khai tài chính.
1.2. Vai trò, vị trí của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm
toán báo cáo tài chính
Theo quy trình kiểm toán, giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán đợc thực
hiện sau giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán và trớc giai đoạn hoàn tất cuộc kiểm
toán. Về thời gian giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán đợc thực hiện tại công ty
khách hàng bởi các kiểm toán viên và các trợ lý kiểm toán sau khi đợc phân công
phần hành cụ thể. Theo đó, tuỳ thuộc vào kết quả đánh giá độ tin cậy của hệ thống
kiểm soát nội bộ (trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán) ở các cấp độ khác nhau
các kiểm toán viên sẽ quyết định các thủ tục kiểm toán sẽ sử dụng cụ thể:
- Nếu kiểm toán viên khẳng định không thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội
bộ của khách hàng, công việc kiểm toán sẽ đợc triển khai theo hơng sử dụng ngay
các trắc nghiệm độ vững chãi với số lợng lớn. Trờng hợp ngợc lại có thể sử dụng
kết hợp các trắc nghiệm đạt yêu cầu với các trắc nghiệm độ vững chãi trên số lợng
ít hơn các nghiệp vụ. Mức độ nhiều ít của các trắc nghiệm này tuỳ thuộc vào mức
độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- Nếu nh kiểm toán viên đánh giá mức độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội
bộ cao thì bằng chứng đợc thu thập và tích luỹ chủ yếu qua các trắc nghiệm đạt
yêu cầu kết hợp với số ít các bằng chứng thu thập qua các trắc nghiệm độ vững
chãi. Trắc nghiệm độ vững chãi của công việc đợc hiểu là trình tự rà soát các thông
tin về giá trị bằng tiền của các khoản mục. Trong trờng hợp này kiểm toán viên
phải tiến hành tính toán lại các số tiền trên các chứng từ kế toán và so sánh đối
chiếu với các chứng từ kế toán và các sổ sách kế toán có liên quan. Từ đó khẳng
định mức độ thoả mãn mục đich bảo đảm độ tin cậy các thông tin của hệ thống
kiểm soát nội bộ. Ngợc lại, nếu độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ đợc đánh
giá thấp thì trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc thực hiện với số lợng nhiều hơn. Nh vậy,
trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc triển khai chỉ với mục đích thu thập các bằng chứng
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bảo đảm sự tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ. Cụ thể trắc nghiệm đạt yêu cầu
công việc đợc hiểu là trình tự rà soát các thủ tục kế toán hay thủ tục quản lý có liên
quan đến đối tợng kiểm toán. Đối tợng kiểm toán có thể dựa trên các dấu vết (nh
chữ ký trên các chứng từ) hoặc không để lại dấu vết cụ thể (nh phân công, phân
nhiệm). Trong quan hệ đó trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc thực hiện trong các tình
huống khác nhau: có dấu vết và không có dấu vết.Trong trờng hợp có dấu vết các
kiểm toán viên cần đối chiếu với các chữ ký trên các chứng từ và xem sét trách
nhiệm tơng xớng của từng ngời có trách nhiệm. Trong trờng hợp không có dấu vết,
các kiểm toán viền cần phỏng vấn các nhân viên có liên quan và quan sát các hoạt
động thực tế của họ. Nh vậy, trắc nghiệm đạt yêu cầu đợc thực hiện nhằm khẳng
định sự tuân thủ các qui định đợc thiết kế nhằm kiểm soát các hoạt động hàng
ngày của đơn vị đợc kiểm toán hớng tới tính hiệu năng và hiệu quả. Qua đó đánh
giá mức độ tin cậy của các thông tin thu thập đợc.
Giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán có vai trò quan trọng trong quá
trình kiểm toán. Đó là giai đoạn cung cấp nhiều nhất các bằng chứng kiểm toán có
độ tiên cậy cao trong hệ thống các bằng chứng kiểm toán đợc lu trữ trong hồ sơ
kiểm toán. Đồng thời đây cũng là giai đoạn chiếm rất nhiều chi phí trong cuộc
kiểm toán.
Chơng II: Giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán
Báo cáo tài chính
Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phơng pháp kỹ thuật
kiểm toán tích ứng với đối tợng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm
toán.
Cơ sở phơng pháp kỹ thuật của kiểm toán trớc hết phải kể đến phơng pháp
toán học. Do các đối tợng kiểm toán là các thông tin đợc qui đổi sang đơn vị tiền
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tệ. Nên phơng pháp toán học là phơng pháp đợc sử dụng phổ biến trong kiểm toán.
Ngoài ra, đối tợng kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính đợc lập nên từ các
cân đối kế toán. Do đó, kiểm toán không chỉ sử dụng phơng pháp toán học mà còn
sử dụng kết hợp phơng pháp toán học và phơng pháp chứng từ để thu thập những
bằng chứng tin cậy minh chứng cho ý kiến của mình. Đồng thời, kiểm toán sử
dụng phơng pháp ngoài chứng từ để thu thập những bằng chứng về khách hàng mà
Bảng khai tài chính không phản ánh hết.
2.1. Thực hiện thử nghiệm kiểm soát trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm
toán
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm
soát là phần việc quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện trong một cuộc
kiểm toán. Vấn đề này đợc chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400(VSA 400),
đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ
thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm
toán và xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 (VSA 500) Bằng chứng
kiểm toán- Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát): là việc kiểm tra
để thu thập bằn chứng kiểm toán về tính thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiêụ
của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ.
Sau quá trình tìm hiểu hệ thống kế toán và hệ thống kiểm toán nội bộ của
đơn vị khách hàng nếu nh các kiểm toán viên thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng thực sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả thì kiểm toán viên đa ra mức
rủi ro kiểm soát ban đầu (CR) và khi đó thử nghiệm kiểm soát sẽ đợc thực hiện để
có đủ bằng chứng để khẳng định lại mức rủi ro đã nhận định ở bớc lập kế hoạch
kiểm toán. Ngợc lại thử nghiệm kiểm soát sẽ không đợc thực hiện.
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mức độ thực hiện các trắc nghiệm này tuỳ thuộc vào mức độ đánh giá ban
đầu của các kiểm toán viên đối với hệ thống kiểm soát nội bộ trong giai đoạn lập
kế hoạch kiểm toán.
Qui trình thu thập bằng chứng qua thử nghiệm kiểm soát (thủ tục kiểm soát)
đợc thực hiện theo các bớc sau:
Bớc một, tìm hiểu và mô tả chi tiết hệ thống kiểm soát nội bộ của khách
hàng. Đây là bớc đầu trong qui trình thu thập bằng chứng kiểm toán qua việc tìm
hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội
bộ của đơn vị nhằm mục đích:
+)Thu thập các thông tin về tính trung thực của ban giám đốc trong việc lập
và trình bày các sổ sách kế toán nhằm thoả mãn các bằng chứng thu thập đợc có
thể minh chứng cho các ý kiến đã nêu ra trong báo cáo kiểm toán về số liệu trên
Báo cáo tài chính.
+)Nhận diện và đánh giá các sai phạm tiềm tàng (là các sai phạm thuộc bản
thân các nghiệp vụ kinh tế cụ thể không kể đến sự có mặt của hệ thống kiểm soát
nội của khách hàng).
+)Đánh giá ban đầu về mức rủi ro kiểm soát (là rủi ro do hệ thống kiểm soát
nội bộ của đợn vị không có khả năng phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các
sai phạm sảy ra thờng ngày tại đơn vị đuợc kiểm toán). Theo đó ảnh hởng đến rủi
ro phát hiện (rủi ro do các kiểm toán viên không phát hiện hết các sai phạm ảnh h-
ởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính). Từ đó ảnh hởng quyết định đến số lợng bằng
chứng kiểm toán cần thu thập.
+)Có kế hoạch thiết kế các cuộc khảo sát thích hợp.
Trong giai đoạn này kiểm toán viên tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng trên hai mặt chủ yếu: thứ nhất, tính thiết kế của kiểm soát nội bộ bao
gồm thiết kế về các chính sách và thiết kế về bộ máy kiểm soát có phù hợp với đặc
điểm tình hình kinh doanh của khách hàng. Thứ hai, tính hoạt động liên tục và có
hiệu lực của kiểm soát nội bộ có phát hiện ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các
phạm trong quá trình kinh doanh hàng ngày của đơn vị. Tìm hiểu hệ thống kiểm
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
soát nội bộ đợc thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, trong đó kiểm
toán viên phải tìm hiểu về thiết kế và vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng theo từng yếu tố cấu thành để đạt các mục tiêu trên.
Công tác tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng thờng đ-
ợc tiến hành theo các khoản mục hoặc theo các chu trình (theo từng tài khoản, từng
bộ phận trên báo cáo tài chính hoặc theo các chu trình nh chu trình bán hàng và thu
tiền ).
Thể thức đạt đợc sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng:
+)Nếu là khách hàng lâu năm của đơn vị kiểm toán, việc tìm hiểu và đánh
giá hệ thống kiểm soát nội bộ có thể dựa vào những kinh nghiệm trớc đây của
kiểm toán viên với khách hàng. Thông thờng các cuộc kiểm toán hàng năm của
công ty kiểm toán là ở các khách hàng truyền thống của đơn vị. Do đó, trớc khi bắt
đầu cuộc kiểm toán hàng năm các nhân viên kiểm toán đã có khối lợng lớn các
thông tin về hệ thống kiểm soát nộ bộ của khách hàng. Tuy nhiên, các kiểm toán
viên vẫn phải tìm hiểu và đánh giá lại hệ thống kiểm soát nội bộ để cập nhật các
sửa đổi thờng xuyên của đơn vị đợc kiểm toán.
+)Thẩm vấn các nhân viên của công ty khách hàng. Công việc này giúp cho
kiểm toàn viên thu thập đợc sự hiểu biết ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng (nếu đó là khách hàng mới). Trong trờng hợp khách hàng là truyền
thống của công ty kiểm toán thì công việc này giúp cho các kiểm toán viên cập
nhật các thông tin thay đổi trong hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng.
+)Xem xét sổ tay về các thủ tục và chế độ của công ty khách hàng: công
việc này giúp cho kiểm toán viên có thể hiểu rõ các thủ tục và chế độ liên quan đến
hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng. Từ đó, có nhận xét ban đầu về tính thiết
kế của hệ thống kiểm soát nội bộ.
+)Kiểm tra các chứng từ và sổ sách đã hoàn tất: công việc này giúp cho
kiểm toán viên thấyđợc các thủ tục đã thiết kế đợc vận hành và vận hành nh thế
nào. Từ đó có nhận xét ban đầu về tính hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+)Quan sát các hoạt động của công ty khách hàng: Công việc này củng cố
thêm sự hiểu biết và kiến thức về thực tế sử sụng các thủ tục và chính sách kiểm
soát nội bộ của công ty khách hàng.
Sau khi có đợc sự hiểu biết ban đầu về hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua
các thể thức trên. Các kiểm toán viên mô tả chi tiết hệ thống kiểm soát nội bộ bằng
sự kết hợp 3 phơng pháp :
* Bảng hệ thống câu hỏi: bảng này do các kiểm toán viên và công ty kiểm
toán thiết kế sẵn bao gồm hệ thống các câu hỏi về thống kiểm soát nội bộ của đơn
vị đợc kiểm toán. Các câu hỏi thiết kế dới dạng câu trả lời có hoặc không và các
câu trả lời không cho thấy nhợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ.
* Bảng tờng thuật: đây là hình thức kiểm toán viên và công ty kiểm toán mô
tả hệ thống kiểm soát nội bộ bằng văn bản văn xuôi.
* Lu đồ: kiểm toán viên và công ty kiểm toán sử dụng các lu đồ ngang và
các lu đồ dọc để mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng.
Trong thực tế để có cái nhìn tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ các kiểm
toán viên thờng sử dụng phối hợp cả 3 phơng pháp trên. Tuy nhiên, mức độ sử
dụng các phơng pháp này lại phụ thuộc vào chi phí kiểm và kinh nghiệm nghề
nghiệp của các kiểm toán viên.
Bớc thứ hai, đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát và lập kế hoạch kiểm
toán cho từng khoản mục.
* Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát: là việc đánh giá khả năng phát
hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu ảnh hởng đến báo cáo
tài chính của khách hàng.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400) : đánh giá rủi ro và
kiếm soát nội bộ nêu rõ: sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống
kế toán, kiểm toán viên thực hiện đánh giá ban đầu rủi ro kiểm soát theo các cơ sở
dẫn liệu cho số d của mỗi tài khoản trọng yếu
Nh vậy, sau khi đạt đợc sự hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ của công
ty khách hàng, kiểm toán viên tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát cho từng khoản
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mục chi tiết. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng hoạt động có
hiệu lực thì rủi ro kiểm soát đợc đánh giá thấp và ngợc lại. Công việc này đợc thực
hiện cho từng nghiệp vụ kinh tế chủ yếu theo thứ tự các bớc sau:
+)Nhận diện mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận vận
dụng. Bớc này các kiểm toán viên nhận biết các mục tiêu kiểm soát cụ thể đối với
từng loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu của công ty khách hàng mà theo đó có thể
đánh giá rủi ro kiểm soát cho từng khoản mục.
+)Nhận diện các quá trình kiểm soát đối với từng khoản mục chủ yếu: để
bảo đảm tính hiệu quả của cuộc kiểm toán kiểm toán viên không cần thiết phải
xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ xem xét các quá trình kiểm soát có ảnh h-
ởng lớn nhất đến việc thoả mản các mục tiêu kiểm soát.
+)Nhận diện và đánh giá các nhợc điểm của hệ thống kiếm soát nội bộ: nh-
ợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ đợc hiểu là không thiết kế các thủ tục cần
thiết hoặc không phát hiện, ngăn ngừa, sửa chữa các sai phạm ảnh hởng trọng yếu
đến báo cáo tài chính của đơn vị.
+)Đánh giá ban đầu rủi ro kiểm soát: sau khi đã nhận diện các quá trình
kiểm soát và các nhợc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ kiểm toán viên tiến
hành đánh giá ban đầu mức độ rủi ro kiểm soát đối với từng mục tiêu kiểm soát
của từng loại nghiệp vụ kinh tế cụ thể. Kiểm toán viên có thể đánh giá mức độ rủi
ro kiểm soát theo phơng pháp định tính (cao, trung bình, thấp) hoặc theo tỷ lệ %.
Kiểm toán viên đánh giá mức độ rủi ro kiểm soát là cao khi:
- Hệ thống kiểm soát nội bộ không áp dụng các thủ tục các chính sách đã đ-
ợc thiết kế.
- Hoặc hệ thống kiểm soát nội bộ có áp dụng các thủ tục và các chính sách
kiểm soát nhng không đủ dẫn đến không đạt đợc các mục tiêu kiểm soát chủ yếu.
Tuy nhiên đây mới chỉ là mức rủi ro kiểm soát (CR) ban đầu và sẽ đợc điều
chỉnh lại sau khi thực hiện thủ tục kiểm soát trong giai đoạn thực hiện kế hoạch
kiểm toán.
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mối quan hệ giữa việc đánh giá mức rủi ro kiểm soát ban đầu và việc xác
định các thử nghiệm áp dụng: việc đánh giá ban đầu mức rủi ro kiểm soát có ảnh
hởng trực tiếp đến việc xác định các thử nghiệm đợc áp dụng. Nếu nh mức đánh rủi
ro kiểm soát là tối đa thì kiểm toán viên không thể dựa vào đánh giá hệ thống kiếm
soát nội bộ để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản. Trái lại cần phải tăng cờng các thử
nghiệm cơ bản để thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán. Trong trờng hợp này các
kiểm toán viên không phải thực hiện các thử nghiệm kiểm soát. Thử nghiệm kiểm
soát cũng không đợc thực hiện nếu kiểm toán viên cho rằng việc thực hiện nó
không hiệu quả bằng trực tiếp thực hiện ngay các thử nghiệp cơ bản.
Đánh giá mức rủi ro kiểm soát là tối đa khi: hệ thống kiểm soát nội bộ của
công ty khách hàng không đủ các thủ tục, chính sách cần thiết hoặc việc vận dụng
các thủ tục không hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn ngừa, và sửa chữa các sai
phạm ảnh hởng trọng yếu tới Báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán.
Kiểm toán viên đợc đánh giá mức rủi ro kiểm soát thấp hơn mức tối đa
khi: Kiểm toán viên thấy rằng các thủ tục kiểm soát của khách hàng liên quan đến
cơ sở dẫn liệu có thể phát hiện, ngăn ngừa các gian lận và sai sót ảnh hởng trọng
yếu tới Báo cáo tài chính của đơn vị đợc kiểm toán. Trong trờng hợp này kiểm toán
viên lập kế hoạch thực hiện thủ tục kiểm soát để đánh giá lại nhận định ban đầu vể
mức rủi ro kiểm soát mà kiểm toán viên đã nêu ra trớc đó.
Bớc thứ ba, thực hiện thử mghiệm kiểm soát.
Mục đích của việc thực hiện thủ tục tuân thủ là thu thập các bằng chứng về
sự thiết kế các thủ tục kiểm soát và tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ của
công ty khách hàng để nhận định lại mức rủi ro kiểm soát ban đầu. Từ đó thiết kế
các thủ tục cơ bản trong mối quan hệ với tính hiệu quả của cuộc kiểm toán.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 500 (VSA 500): Bằng chứng kiểm toán,
qui định: các kiểm toán viên phải xem xét sự đầy đủ và tính thích hợp của các
bằng chứng làm cơ sở cho việc đánh giá của mình về mức rủi ro kiểm soát ban
đầu.
14
Chiều noether của môđun artin
ở
(R, m) ị tr ớ ự
t m; M R ữ s A R rt ú t
ết ệ tí s ề r ữ ệ
ủ ì ọ số số t q ó ờ t ó
tể ó trú ủ t số trú ủ tr
ữ s tr ú ề r ủ ột ữ
s M ý ệ dim M ợ ị ĩ ề r ủ R/ Ann M
t ó ị ý ủ ý tết ề s
(M) = dim M = d(M),
tr ó (M) số t ỏ t s tồ t ột tử
a
1
, . . . , a
t
m ể ộ ủ M/(a
1
, . . . , a
t
)M ữ d(M)
ủ tứ rt P
M,I
(n) ứ ớ ị ĩ I
ệ ố ớ ề r ột rt ợ ớ tệ
ở rt s ó r ổ t t ề tr
ý ệ N-dim ể tr ớ ề r ợ ị ĩ
tr ột số ết q t ột ĩ ó ợ
ố ớ ết q ề ề r ữ s ợ
r ệt rts ứ ột ết q ề tí ữ
ủ ề tr ố ệ ữ ề tr ớ ủ tứ
rt ủ rt tr tr s ó r
ờ ở rộ ết q tr ủ rts
t ỳ
N-dim A = deg(
R
(0 :
A
m
n
))
= inf{t 0 : a
1
, . . . , a
t
m :
R
(0 :
A
(a
1
, . . . , a
t
)R) < }.
ừ ết q tr ột tự ó tể ị ĩ ệ ệ t
số ệ ộ rt t q ề tr
ế t ề t ũ ù ề tr ể ứ
trú ủ rt ệt t ờ
ó ữ ứ s ề ề tr q t
ệt tớ ề tr ủ ố ồ ề ị ú
rt t ợ ột số ết q tú ị ứ tỏ ệ ề tr
t ột ĩ ó ù ợ ớ ố ồ ề ị
tự ề r ủ ữ s ột tự ố
ớ ỗ rt A ề r dim
R
A ũ ợ ể ề r
ủ R/ Ann
R
A ột ết q q trọ tr ứ ố
q ệ ữ ề tr ề r ủ rt tr trờ ợ
tổ qt N-dim
R
A dim
R
A ữ ỉ r ữ trờ ợ r
N-dim
R
A < dim
R
A ệt ết q t ờ tr t ề
ệ ủ ể ề tr ủ ột rt ề r ủ
ó
Ann
R
(0 :
A
p) = p, p V (Ann
R
A). ()
ú ý r ố ớ ỗ R ữ s M t ổ ề
t ó tí t Ann
R
M/pM = p, ớ ọ tố p ứ
Ann
R
M õ r r R ủ tì ớ ỗ R rt
A t ố ts t ó ó Ann
R
(0 :
A
p) = p ớ ọ
tố p ứ Ann
R
A t tr t ỳ
ọ rt A ề tỏ ề ệ ột ề tú ị ữ ờ
ề ệ () t ó tể tr ợ tí tr ủ trộ
Usupp
R
M ủ M t q ố ồ ề ị
t H
d
m
(M) tí trộ tí tr ổ ụ
ủ ố ồ ề ị H
i
m
(M)
ụ í ủ trì ứ tết ết q
ớ tệ ở tr tr ủ ờ
ột ết q ủ ủ rts r
ờ ợ
ế tứ tết q ế ộ ủ ợ ẽ
tr
1 ớ tệ ệ ề tr ứ ột số ết
q ề ề tr ủ rt ệt ứ tí ữ
ủ ề tr ố ệ ữ ề tr ớ ủ tứ
rt ủ ột rt
2 ể ứ ết q ề ề tr ủ
ố ồ ề ị ủ ột R ữ s ú
rt ố q ệ ữ ề tr ủ ố ồ ề ị
tứ i ớ ỉ số i ề tr ủ ố ồ ề ị
t ớ ề r ủ ữ s
3 trì ố q ệ ữ ề tr ề r ủ
rt tr trờ ợ tổ qt N-dim
R
A dim
R
A ỉ r ữ
trờ ợ r ỏ tự sự ề ệ ủ ể ề
tr ủ ột rt ề r ủ ó
P ết ủ tổ ết t ộ ết q t ợ
ề tr tứ rt
r t ộ t ý ệ R tr
t tết ị tết ị sẽ ợ tr
từ trờ ợ ụ tể M R A R rt ụ í ủ
ớ tệ ệ ề tr ột tỳ ý
ột số ết q ề ề tr rt ết q í ủ
ứ tí ữ ủ ề tr ố ệ ữ ề
tr ớ ủ tứ rt ủ rt ết q ợ
ớ tệ ở rts ị s ó r
ờ ở rộ tr
ề tr
ệ ố ớ ề r ột tỳ ý ợ
ớ tệ ở rts ở ó ũ r ột số ết q ề
ề r rt ó r tr ổ tt ữ
ủ rts ề ị t ề tr N-dim ể tr ớ
ề r ợ ị ĩ tr ị ĩ s t
t tt ữ ủ r
ị ĩ ề tr ủ M ý ệ ở N-dim
R
M,
ợ ị ĩ q s
M = 0, t N-dim
R
M = 1.
ớ M = 0, ột số d 0, t t N-dim
R
M = d ế
N-dim
R
M < d s ớ ỗ t M
0
M
1
. . .
ủ M, tồ t số n
0
s N-dim
R
(M
n+1
/M
n
) < d, ớ ọ
n > n
0
.
í ụ M R ó M R
tr ỉ N-dim
R
M = 0. t sử M R
tr ì ọ t M
0
M
1
. . . M
n
. . .
ủ M ề ừ tồ t n
0
N s M
n
= M
n+1
ớ ọ
n > n
0
ó M
n+1
/M
n
= 0 ì tế N-dim
R
M
n+1
/M
n
= 1 < 0, ớ
ọ n > n
0
ì M = 0 N-dim
R
M 0 ó t ị ĩ
N-dim
R
M = 0 ợ sử N-dim
R
M = 0 ó ột
t t ỳ N
0
N
1
. . . . . . ủ M ị ĩ
tồ t số n
0
s N-dim
R
N
k+1
/N
k
= 1 < 0 ớ ọ
k > n
0
ó N
k+1
= N
k
ớ ọ n > n
0
tr ừ ĩ
M R tr
ệ ề ế
0 M
M M 0
ớ R tì
N-dim
R
M = max{N-dim
R
M
, N-dim
R
M}.
ứ t tí tổ qt t ó tể sử M
M
M
= M/M
. ế M = 0 tì M
= M = M = 0 s r
N-dim
R
M
= N-dim
R
M
= N-dim
R
M = 1.
ó t ó tể tết M = 0. ứ q t
N-dim
R
M = d.
sử d = 0. í ụ tr M R tr ì M
, M
ũ R tr s r N-dim
R
M
= N-dim
R
M
= 0.
sử d > 0 ệ ề ú ớ ọ ó ề tr tự
sự ỏ d. M
0
=
M
1
=
. . .
=
M
n
=
. . . ột í t t ỳ
ủ M. ó t ũ ó
M
0
M
=
M
1
M
=
. . .
=
M
n
M
=
. . . (1)
(M
+ M
0
)/M
=
(M
+ M
1
)/M
=
. . .
=
(M
+ M
n
)/M
=
. . . (2)
t ứ í t ủ M
M
= M/M
.
N-dim
R
M = d t ị ĩ tồ t n
0
N s
N-dim
R
M
n+1
/M
n
< d, ớ ọ n > n
0
ì ụ tết q
ớ
0
M
M
n+1
M
M
n
M
n+1
M
n
M
+ M
n+1
M
+ M
n
0,
t ó
N-dim
R
(M
n+1
/M
n
) = max{N-dim
R
M
M
n+1
M
M
n
, N-dim
R
M
+ M
n+1
M
+ M
n
}.
ì tế ớ ọ n > n
0
t ó
N-dim
R
M
M
n+1
M
M
n
= N-dim
R
(M
n+1
/M
n
) < d
N-dim
R
M
+ M
n+1
M
+ M
n
= N-dim
R
(M
n+1
/M
n
) < d.
ó t ị ĩ ề tr t ó N-dim
R
M
= d
N-dim
R
M
= d
N-dim
R
M = max{N-dim
R
M
, N-dim
R
M
}.
m ột ự ủ R r m
m
(A) ủ A ợ ị ĩ ở
m
(A) =
n0
(0 :
A
m
n
).
ột số tí t ủ rt ợ r ở r
tờ ợ ù tr ứ ề s
ệ ề ệ ề ổ ề
sử A ột R rt ó ỉ ó ữ
ự m ủ R s
m
(A) = 0 ế ự ệt ó
m
1
, . . . , m
r
tì
A =
m
1
(A) . . .
m
r
(A) Supp A = {m
1
, . . . , m
r
}.
ớ ỗ j {1, . . . , r} ế s R \ m
j
tì é ở s t
ột tự ủ
m
j
(A) ó
m
j
(A) ó trú tự ủ ột
R
m
j
ớ trú ột t ủ
m
j
(A) ột R
ế ỉ ế ó R
m
j
ệt
A
m
j
=
m
j
(A), ớ ọ j = 1, . . . , r.
í ệ ể t tệ từ ờ trở t t
A = A
1
. . . A
r
J
A
=
mSupp A
m,
tr ó A
j
=
n0
(0 :
A
m
n
j
) (1 j r) ú ý r (R, m) ị
tì J
A
= m.
ệ ề ổ ề ệ q A R rt
tr ị (R, m) ó A ó trú tự ủ
R tr ó
R ủ t t m ủ R ọ t
ủ A R ủ A ế ỉ ế ó
R ủ A
ó A ó trú tự ủ
R rt
ó trú ệt ờ t ó tể ể ệ ứ
rt tr ột t ỳ ề ệ ứ ú tr
ị í t s ề ề tr ủ rt
ột í ụ ét tr
ổ ề sử r A = A
1
. . . A
r
ột tí A t
tổ trự tế A
j
tr ý ệ ó
N-dim
R
A
j
= N-dim
R
m
j
(A
j
), ớ ọ j = 1, . . . , r.
(R, m) ị A R rt ó A ó
trú tự ủ
R rt t ó
N-dim
R
A = N-dim
R
A.
í ì t ó tể ết N-dim A t N-dim
R
A N-dim
R
A.
ề tr tứ rt
J
A
ủ ự tr ý ệ trớ ết
ết q s t t r ộ ủ rt A ữ ỉ
A ị tử ở ột ỹ từ ó ủ J
A
ổ ề J
n
A
A = 0 ớ n 0 ỉ
R
A < .
ứ sử J
n
A
A = 0 ớ n N ó t ó
0 = (m
1
m
2
. . . m
r
)
n
A (m
n1
1
m
n
2
. . . m
n
r
)A . . . (m
1
m
n
2
. . . m
n
r
)A . . .
(m
n
2
. . . m
n
r
)A (m
n1
2
. . . m
n
r
)A . . . (m
2
. . . m
n
r
)A . . .
m
n
r
A m
n1
r
A . . . m
r
A A
ó
R
A < . ợ ì
R
A <
A m
1
A m
2
1
A . . . m
n
1
A (m
n
1
m
2
)A (m
n
1
m
2
2
)A . . .
(m
n
1
m
n
2
)A . . . (m
n
1
m
n
2
. . . m
r
)A (m
n
1
m
n
2
. . . m
2
r
)A . . .
(m
n
1
m
n
2
. . . m
n
r
)A = (m
1
m
2
. . . m
r
)
n
A . . .
ừ tứ tồ t n
0
N s
(m
1
m
2
. . . m
r
)
n
A = (m
1
m
2
. . . m
r
)
n+1
A
ớ ọ n n
0
. ì m
1
m
2
. . . m
r
tí ủ ữ ự
ệt ủ R t ổ ề t ó (m
1
m
2
. . . m
r
)
n
A = 0 s r
J
n
A
A = 0
r t ết q ủ r ớ ỗ I ủ R
ế
R
(0 :
A
I) < tì
R
(0 :
A
I
n
) < ớ n ủ ớ ữ tồ
t ột tứ F (n, I, A) s
R
(0 :
A
I
n
) = F (n, I, A), ớ n 0.
tứ tr ợ ọ tứ rt ủ rt A ứ ớ
I ủ R ý ệ ủ F (n, I, A) deg(
R
(0 :
A
I
n
)) q ớ
deg(
R
(0 :
A
I
n
)) = 1 ế F (n, I, A) = 0 r trờ ợ (R, m)
tự ị rts ứ ết q s ề t tự
tr rt q ết ò ợ ọ ị ý
ủ ý tết ề
N-dim A = deg(
R
(0 :
A
m
n
))
= inf{t 0 : a
1
, . . . , a
t
m :
R
(0 :
A
(a
1
, . . . , a
t
)R) < }.
ớ t sẽ ứ ết q tr ủ rts ợ
r ờ ở rộ t
ỳ rớ ết t ứ ết q s
ệ ề ị ý ố ớ ọ rt A t ề ó
N-dim A = deg(
R
(0 :
A
J
n
A
)).
ứ ý ệ t ó A =
r
j=1
A
j
ớ A
j
=
m
j
(A) rớ
ết t ứ tứ
(0 :
A
J
n
A
) =
r
j=1
(0 :
A
j
m
j
n
).
ột tử tỳ ý a (0 :
A
J
n
A
) ì a A a =
r
a
j
j=1
, tr ó
a
j
A
j
J
n
A
a
j
= 0, ớ ọ j = 1, . . . , r. ó tể ọ m n s
m
m
j
a
j
= 0, ớ a
j
A
j
ì t ó
0 = (m
m
j
+ J
n
A
)a
j
m
n
j
(m
mn
j
+
i=j
m
n
i
)a
j
.
ì m
1
, . . . , m
r
ự ệt ủ R m
mn
j
+
i=j
m
n
i
= R
ó m
n
j
a
j
= 0 ì tế a
r
j=1
(0 :
A
j
m
j
n
) t ó
(0 :
A
J
n
A
)
r
i=1
(0 :
A
j
m
j
n
).
ợ ột tử tỳ ý x
r
j=1
(0 :
A
j
m
j
n
) ó x =
r
x
j
i=1
tr
ó x
j
(0 :
A
j
m
j
n
) x
j
m
n
j
= 0, s r x
j
J
n
A
= 0 ớ ọ j = 1, . . . , r
ề é t x (0 :
A
J
n
A
) t ó tứ ợ
ờ ụ ệ ề t ó tể A
j
tr
ị R
m
j
ớ ọ j = 1 . . . , r ừ tứ tr t ó
deg(
R
(0 :
A
J
n
A
)) = max{deg(
R
(0 :
A
j
m
j
n
))}. ì tế ụ ết q
tr ị ợ ứ ở rt ị ý t ó
deg(
R
(0 :
A
j
m
j
n
)) = N-dim A
j
. ữ t ệ ề t ó
N-dim A = max{N-dim(A
j
)} ết ợ tt ết q tr t ợ ề
ứ deg(
R
(0 :
A
J
n
A
)) = N-dim A
rớ r ết q í ủ t ột ết q ề
ệ t số ị ế ợ ớ tệ ở r r
tr ột tử x
1
, . . . , x
n
ủ R ợ ọ ệ t số ị
ế ủ A ế ớ ỗ j = 1, . . . , r tồ t ột số t
j
ớ 0 t
j
n
s x
1
/1, . . . , x
t
j
/1 tr R
m
j
ột ệ t số ủ
A
j
x
t
j
+1
, . . . , x
n
ị tr R
m
j
Dạy học giới hạn ở lớp 11 thpt theo hướng phát huy tính tích cực hoạt động học tập của học sinh.pdf
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
2.2.4. Dạy học bài tập 29
2.3 Một số biện pháp nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh 47
2.3.1 Tổ chức cho học sinh đa dạng hoạt động trong học tập 48
2.3.2. Truyền thụ tri thức phương pháp qua 51
2.3.3.Kết hợp nhiều phương pháp trong giờ dạy 53
2.3.4. Khai thác và sử dụng phương tiện hợp lý có hiệu quả 63
2.3.5. Kiểm tra đánh giá 68
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 71
3.1. Mục đích thực nghiệm 71
3.2. Nội dung thực nghiệm 71
Một số giáo án dạy thực nghiệm giới hạn 71
3.3. Tổ chức thực nghiệm 106
3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm 107
3.5. Kết luận chung về thực nghiệm 108
Kết luận 110
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT Viết tắt Viết đầy đủ
1 BT Bài tập
2 BTVN Bài tập về nhà
3 DH Dạy học
4 GV Giáo viên
5 HS Học sinh
6 KL Kết luận
7 NXB Nhà xuất bản
8 PPDH Phương pháp dạy học
9 TH Trường hợp
10 THPT Trung học phổ thông
11 SGK Sách giáo khoa
12 SGV Sách giáo viên
13 VD Ví dụ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn đổi mới hiện nay trước yêu cầu của sự nghiệp CNH-
HĐH đất nước, để tránh nguy cơ bị tụt hậu về kinh tế và khoa học công nghệ
thì việc cấp bách là phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Cùng với
thay đổi về nội dung cần có thay đổi căn bản về phương pháp dạy học.
Hội nghị TW khoá IV đặc biệt nhấn mạnh “Một trong những nhiệm vụ
cần tập trung giải quyết từ nay đến năm 2010 là nâng cao chất lượng và hiệu
quả của giáo dục. Muốn vậy phải thực hiện đổi mới giáo dục toàn diện, đổi
mới mạnh mẽ về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục theo hướng
chuẩn hoá, hiện đại hoá”.
Luật giáo dục năm 2005 chương II mục 2 điều 25 có ghi: “Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy
sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng
phương pháp tự học; khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm đem lai niềm vui hứng
thú học tập cho học sinh”. Và trong chương I điều 5 có ghi “Phương pháp
giáo dục phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của
người học, bồi dưỡng năng lực tự học khả năng thực hành, lòng say mê học
tập và ý trí vươn lên”.
Đứng trước nhu cầu đó đã làm nẩy sinh và thúc đẩy một cuộc vận động
đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp trong ngành giáo dục đào tạo,
dần dần khắc phục những tồn tại phổ biến của phương pháp dạy học cũ như:
Thuyết trình tràn lan, GV cung cấp kiến thức dưới dạng có sẵn, thiếu yếu tố
tìm tòi phát hiện. Thầy áp đặt, trò thụ động, thiên về dạy, yếu về học, không
kiểm soát được việc học. Thay vào đó là sự đổi mới về phương pháp dạy học,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
với những tư tưởng chủ đạo được phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau
như “Lấy học sinh làm trung tâm”, “Phương pháp dạy học theo hướng tích
cực”,“Tích cực hoá hoạt động dạy và học”.
Đây là một hướng đổi mới PPDH được đông đảo các nhà nghiên cứu,
các nhà lí luận và các Thầy cô giáo quan tâm. Việc vận dụng phương pháp
này vào dạy học môn toán còn gặp rất nhiều hạn chế, còn có những vấn đề
cần phải nghiên cứu áp dụng một cách cụ thể. Trong các vấn đề đó có vấn đề
dạy học giới hạn ở trường THPT. Trong giải tích toán học thì khái niệm giới
hạn giữ vai trò trung tâm. Giới hạn là một trong những khái niệm quan trọng
nó chứa đựng nhiều kiến thức, nhiều tư duy, nhất là tư duy trừu tượng, tư duy
logic… Trong đó thể hiện nhiều thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, trừu
tượng hoá, khái quát hoá, đặc biệt hoá…nó đòi hỏi phẩm chất tư duy như :
Linh hoạt sáng tạo, sự tính toán chính xác, các phẩm chất đạo đức kiên trì
chịu khó.
Mặt khác giới hạn là một khái niệm mới và trừu tượng đối với HS
THPT, hơn nữa phân phối chương trình giới hạn chiếm một thời gian rất ít
nên việc nắm vững lí thuyết và vận dụng vào làm bài tập đối với HS là rất
khó khăn, HS gặp không ít lúng túng sai sót khi làm bài tập.
Vì những lí do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn của mình là:
“Dạy học giới hạn ở lớp 11 THPT theo hướng phát huy tính tích cực
hoạt động học tập của học sinh”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng một số biện pháp sư phạm nhằm phát huy tính tích cực học
tập của học sinh ở trường THPT trong điều kiện và hoàn cảnh hiện nay. Vận
dụng các biện pháp đó vào phần dạy học giới hạn ở lớp 11 sách giáo khoa Đại
số và Giải tích ban cơ bản,nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học môn toán ở
trường THPT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
+ Tìm hiểu cơ sở lí luận về dạy học theo hướng phát huy tính tích cực
của học sinh
+ Nghiên cứu thực trạng của học sinh khi dạy học giới hạn
+ Đề xuất những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
khi dạy học giới hạn.
+ Thực nghiệm sư phạm, thăm dò ý kiến, kiểm tra tính khả thi của đề tài.
IV. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được một số biện pháp sư phạm theo hướng phát huy
tính tích cực hoạt động học tập của học sinh khi dạy học nội dung giới hạn thì
sẽ làm cho học sinh hứng thú, chủ động, tích cực học tập, nắm vững kiến thức
và phương pháp giải toán giới hạn. Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
và học tập của giáo viên và học sinh.
V. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
+ Nghiên cứu lý luận dạy học môn toán.
+ Nghiên cứu đề tài và luận văn của đồng nghiệp.
+ Nghiên cứu SGK Đại số - Giải tích lớp 11 ban cơ bản và sách tham khảo.
+ Điều tra tìm hiểu thực tiễn dạy học giới hạn ở trường THPT.
+ Thực nghiệm sư phạm.
VI. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
+ Mở đầu
+ Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn
+ Chương 2 : Dạy học giới hạn lớp 11 THPT theo hướng phát huy tích
cực hoạt động học tập của học sinh
+ Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm
+ Kết luận.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Tính tích cực học tập của học sinh
1.1.1. Quan niệm về tính tích cực
Theo V.O.Kôn “Khi nói đến tính tích cực, chúng ta quan niệm là mong
muốn hành động được nảy sinh một cách không chủ định và gây nên những
biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của sự hoạt động”.
Theo I.kodak : “Tính tích cực nhận thức được thể hiện bằng nhiều biểu
hiện như sự căng thẳng chú ý, sự tưởng tượng mạnh mẽ, sự phân tích tổng
hợp sâu sắc”.
Theo I.F.Kharlamôp: “Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ thể
nghĩa là người hành động. Vậy tính tích cực của nhận thức là trạng thái hoạt
động đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong
quá trình nắm vững kiến thức” và “Sự học tập là trường hợp riêng của nhận
thức, một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng hơn và thực hiện được dưới
sự chỉ đạo của giáo viên”.
Vì vậy khi nói đến tính tích cực của nhận thức là nói đến tính tích cực
học tập. Cũng có những ý kiến cho rằng: “Tính tích cực học tập và tính tích
cực nhận thức có liên quan chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất, tính
tích cực học tập là hình thức bên ngoài của tính tích cực nhận thức”.
Như vậy hiểu một cách đầy đủ, tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo
của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao chức năng
tâm lí, nhằm giải quyết vấn đề học tập nhận thức. Nó là mục đích hoạt động,
là phương tiện, là điều kiện để đạt được mục đích,đồng thời là kết quả của
hoạt động học tập. Nó là phẩm chất nhân cách một thuộc tính của quá trình
nhận thức,làm cho quá trình nhận thức luôn đạt kết quả cao giúp cho con
người có khả năng học tập không ngừng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Tính tích cực học tập, vận dụng đối với HS đòi hỏi phải có nhân tố, tính
lựa chọn thái độ với đối tượng nhận thức, đề ra cho mình mục đích nhiệm vụ
cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng, cải tạo đối tượng trong hoạt
động sau này nhằm giải quyết vấn đề. Hoạt động mà thiếu những nhân tố trên
thì chỉ có thể nói: Đó là sự thề hiện trạng thái, hành động nhất định của con
người mà không thể nói là tính tích cực của nhận thức.
Ví dụ: Khi ngồi trong lớp học, GV có thể theo yêu cầu của HS là:Trật
tự,đọc sách, nhìn lên bảng, nghe giảng, ghi chép đầy đủ.Tuy nhiên nếu chỉ
dừng ở đó, HS tiếp thu kiến thức một cách thụ động. Bởi vì HS không thể
hiện thái độ cải tạo đối với những điều đã nghe thấy, họ không hề động não,
không có ý định suy ngẫm mối liên hệ giữa điều thấy được, nghe được với
điều họ đã biết và tìm ra dấu hiệu mới sau này. Ngược lại nếu HS chăm chú
nghe giảng đào sâu suy nghĩ, chủ động tiếp cận kiến thức mới, thể hiện ở chỗ
hăng hái phát biểu, biết nhận xét đúng sai khi nghe các ý kiến của các HS
khác thì có thể nói rằng HS đó đã tích cực hoạt động học tập.
Như vậy tính tích cực là kết quả của quá trình tư duy là mục đích cần
đạt được của quá trình dạy học. Có 3 mức độ tư duy khác nhau.
+ Tư duy tích cực: HS chăm chú nghe giảng để hiểu bài.Nghiêm túc
thực hiện các yêu cầu của GV.
+ Tư duy độc lập: HS tự mình tìm tòi suy nghĩ xây dựng khái niệm,
phân tích định lý…Trong quá trình học tập khi vấn đề được đặt ra HS chịu
khó tự suy nghĩ tìm tòi cách giải quyết.
+ Tư duy sáng tạo: Học sinh không chịu dừng lại ở cái chỗ đã biết mà
tìm tòi giải pháp mới hoặc tự khám phá vấn đề.
Ba mức độ tư duy được biểu diễn bằng ba đường tròn đồng tâm,do đó
khi soạn bài GV cần quan tâm đến cả 3 mức độ tư duy, nâng cao hay hạ thấp
một cách linh hoạt tuỳ thuộc vào đối tượng HS cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Trong hoạt động học tập tính tích cực của nhận thức là điều kiện cần
thiết để nắm vững tài liệu học tập, giúp HS hướng sự chú ý của mình vào hoạt
động học tập, bồi dưỡng trí tò mò khoa học và lòng ham hiểu biết, hình thành
nhu cầu nhận thức. Vì thế HS có thể sẵn sàng dồn hết sức lực trí tuệ để hoàn
thành tốt nhiệm vụ học tập.
1.1.2. Những cấp độ khác nhau của tính tích cực
Hoạt động của HS,tuỳ theo việc huy động chủ yếu những chức năng
tâm lý nào và mức huy động những chức năng tâm lý đó, mà tính tích cực học
tập của HS được phân hoá theo các cấp độ khác nhau. Theo G.I.Sukina trong
học tập tính tích cực được phân ra thành ba cấp độ khác nhau.
+ Tính tích cực tái hiện và bắt trước: Là tính tích cực chủ yếu dựa
vào trí nhớ và tư duy tái hiện xuất hiện do các tác động bên ngoài (Các yếu tố
bắt buộc của giáo viên).
Trong trường hợp này người học thao tác trên đối tượng, bắt trước theo
mẫu hoặc mô hình của GV, nhằm chuyển đối tượng từ bên ngoài vào bên
trong theo cơ chế nhập tâm chưa có nỗ lực của tư duy. Loại này thường phát
triển mạnh ở HS có năng lực nhận thức ở mức độ trung bình và dưới trung
bình. Nhưng nó lại là tiền đề cơ bản giúp HS nắm được nội dung bài giảng có
điều kiện nâng tính tích cực cao lên.
Ví dụ 1: Để giúp học sinh biết cách giải một dạng bài tập, GV có thể
giải một bài tập mẫu lên bảng, HS dựa vào bài tập mẫu để giải quyết các bài
tập tương tự cùng dạng đó.
+ Tính tích cực tìm tòi: Là tính tích cực đi liền với quá trình lĩnh hội
khái niệm, giải quyết tình huống, tìm tòi các phương thức hành động,…Nó
được được trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi tích cực về mặt nhận
thức, về sáng kiến, lòng khát khao hiểu biết, hứng thú học tập và được thể
hiện ở sự tự giác tìm kiếm các phương thức lĩnh hội có hiệu quả. Tính tích
cực tìm tòi không bị hạn chế trong khuôn khổ những yêu cầu của GV. Trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
giờ học.loại này thường phát triển mạnh mẽ ở những HS có lực học trung
bình và trên mức trung bình.( khá, giỏi).
Ví dụ 2: Đứng trước một bài toán, người học không chỉ dừng lại ở việc
giải được bài toán mà còn có nhu cầu tìm ra lời giải ngắn gọn nhất, hay nhất,
đó là sự thể hiện tính tích cực tìm tòi.
+ Tính tích cực sáng tạo: Là tính tích cực có mức độ cao nhất nó được
đặc trưng bằng sự khẳng định con đường riêng của mình không giống con
đường mà con người đã thừa nhận, đã trở thành chuẩn hoá,để đạt được mục
đích. Nó thể hiện khi chủ thể nhận thức tìm tòi kiến thức mới. Tự tìm ra
những phương thức hành động riêng trong đó có các cách thức giải quyết mới
mẻ, không dập khuôn máy móc.
Ví dụ 3: Khi giải một bài toán người học thể hiện tính tích cực sáng tạo
ở việc cố gắng tìm cách giải bài toán bằng nhiều con đường khác nhau, nhiều
phương pháp khác nhau, đó chính là thói quen nhìn nhận một sự kiện dưới
nhiều góc độ khác nhau.
Đối với học sinh THPT các em đang ở lứa tuổi hội tụ đầy đủ các yếu tố
tâm lý, thể lực, khả năng làm việc độc lập có lòng khao khát thể hiện bản thân
có ý thức tích luỹ kiến thức để phục vụ cuộc sống sau này.Điều cần thiết là
phải vươn lên tới mức độ tìm tòi và sáng tạo đặc biệt là học sinh khá giỏi.
Dựa vào các cấp độ khác nhau của tính tích cực học tập của HS, GV có thể
đánh giá tính tích cực ở mỗi HS khi học tập, tuy nhiên sự đánh giá đó còn
tương đối khái quát. Do vậy để nhận biết học tập của HS có tích cực hay
không người GV thông qua một số dấu hiệu nhận biết sau:
1.1.3. Dấu hiệu nhận biết tính tích cực trong hoạt động học tập
+ Dấu hiệu về hoạt động nhận thức: Thể hiện ở các thao tác tư
duy,ngôn ngữ, sự quan sát, ghi nhớ tư duy hình thành khái niệm, phương thức
hành động, hình thành kỹ năng kỹ xảo các câu hỏi nhận thức của HS.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
+ Dấu hiệu chú ý nghe giảng: Thể hiện ở chỗ chú ý nghe giảng, thực
hiện đầy đủ các yêu cầu của GV, hoà nhập với không khí của cả lớp,giải đáp
đầy đủ các yêu cầu của GV đưa ra nhanh chóng,chính xác và nhận biết đúng
sai sau khi bạn đưa ra ý kiến.
+ Dấu hiệu về tinh thần,tình cảm học tập: Thể hiện qua sự say mê sốt
sắng của HS khi thực hiện yêu cầu mà GV đặt ra: HS thích được trả lời câu
hỏi, HS làm bài tập một cách hồ hởi tự nguyện.
+ Dấu hiệu về ý chí,quyết tâm học tập: Thể hiện ở sự nỗ lực ý trí giải
quyết nhiệm vụ học tập, kiên trì tìm tòi đến cùng và cao hơn nữa là vạch ra
được mục tiêu kế hoạch học tập.
+ Dấu hiệu về kết quả nhận thức: Thể hiện ở kết quả lĩnh hội kiến
thức nhanh chóng chính xác và tái hiện được khi vận dụng trong các tình
huống cụ thể.
Ngoài các dấu hiệu dễ nhận biết như trên còn có các dấu hiệu khác khó
nhận biết hơn như dấu hiệu nhận thức cảm tính dấu hiệu nhận thức lý tính,
dấu hiệu sự biến đổi sinh lý tinh thần, dấu hiệu về trạng thái hoạt động …Vì
vậy để có thể điều chỉnh phương pháp của mình sao cho phù hợp với đối
tượng HS, người GV cần phải thu nhận các thông tin ngược từ học sinh.
Tính tích cực học tập của học sinh tuy nảy sinh trong quá trình học tập
nhưng nó lại là kết quả của nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân được phát
sinh trong lúc học tập, có nguyên nhân được hình thành trong quá khứ, thậm
chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách, nhưng nhìn chung tính tích cực trong
hoạt động học tập của HS phụ thuộc vào các yếu tố sau:
1.1.4. Những yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực học tập của học sinh
+ Hứng thú: Có vai trò rất lớn trong quá trình học tập của HS, khi HS
có hứng thú với đối tượng nào đó, họ thường hướng toàn bộ quá trình nhận
thức của mình vào đối tượng, làm cho sự quan sát tinh nhậy hơn, ghi nhớ
Đánh giá khả năng sản xuất của dê beetal thế hệ thứ 5 và 6 nuôi tại trung tâm nghiên cứu dê và thỏ sơn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục biểu đồ, đồ thị vii
Danh mục các chữ viết tắt viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích của đề tài 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 2
3.1. Ý nghĩa khoa học 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học về khả năng sản xuất 4
1.1.1. Yếu tố di truyền 4
1.1.2. Yếu tố giống 5
1.2. Khả năng sinh trƣởng của dê 5
1.2.1. Khả năng về sinh trưởng và phát dục của dê 5
1.2.2. Một số chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng của dê 7
1.2.3. Khả năng sản xuất thịt của dê 8
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của dê 9
1.3. Đặc điểm và khả năng sinh sản của dê 12
1.3.1. Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của dê 15
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của dê 19
1.4. Đặc điểm khả năng cho sữa của dê 21
1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất sữa của dê 22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
iv
1.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất sữa của dê 23
1.5. Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới và trong nƣớc 26
1.5.1. Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới 26
1.5.2. Tình hình chăn nuôi dê trong nước 29
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Đối tƣợng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 32
2.2. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 34
2.2.1. Nội dung nghiên cứu 34
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu 38
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Một số chỉ tiêu về đặc điểm và khả năng sinh sản của dê Beetal 40
3.1.1. Đặc điểm phát dục của dê cái Beetal 40
3.1.2. Khả năng sinh sản của dê cái Beetal 44
3.1.3. Một số chỉ tiêu đánh giá đặc điểm và khả năng sinh sản
của dê cái Beetal 47
3.1.3.1. Đặc điểm sinh lý sinh sản của dê cái Beetal 47
3.1.3.2. Một số chỉ tiếuinh sản của dê cái Beetal 49
3.2. Khả năng cho sữa của dê cái Beetal 53
3.2.1. Khả năng cho sữa của dê cái Beetal qua các tháng 53
3.2.2. Khả năng cho sữa của dê cái Beetal qua các lứa đẻ 56
3.2.3. Một số chỉ tiêu và thành phần dinh dưỡng của sữa dê Beetal 58
3.2.4. Hiệu quả sử dụng thức ăn cho sản xuất sữa của dê Beetal 59
3.3. Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trƣởng của dê Beetal 60
3.3.1. Khối lượng của dê đực và dê cái Beetal ở một số thời điểm
sinh trưởng 60
3.3.2. Sinh trưởng tuyệt đối của dê đực và dê cái Beetal qua các giai
đoạn tuổi 64
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
v
3.3.3. Kích thước một số chiếu đo cơ thể của dê Beetal 67
3.3.4. Khả năng cho thịt và chất lượng thịt của dê đực Beetal 70
3.3.4.1. Khả năng cho thịt của dê đực Beetal 70
3.3.4.2. Chất lượng thịt của dê đực Beetal 71
3.4. Tình hình bệnh tật của đàn dê Beetal 72
KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ 74
1. Kết luận 74
2. Đề nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 2.1: Số lượng dê ban đầu sử dụng trong nghiên cứu 32
Bảng 2.2: Khẩu phần thức ăn sử dụng cho đàn dê 33
Bảng 3.1. Một số đặc điểm phát dục của dê cái Beetal 41
Bảng 3.2. Chất lượng tinh dịch dê đực Beetal 44
Bảng 3.3: Kết quả phối giống 46
Bảng 3.4: Đặc điểm sinh lý sinh sản của dê cái Beetal 47
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu sinh sản của dê cái Beetal 50
Bảng 3.6. Khả năng cho sữa của dê Beetal qua các tháng 53
Bảng 3.7. Khả năng cho sữa của dê Beetal qua các lứa đẻ 57
Bảng 3.8. Thành phần dinh dưỡng của sữa dê Beetal 58
Bảng 3.9: Tiêu tốn VCK và protein thô thức ăn/1 kg sữa sản xuất ra 59
Bảng 3.10. Khối lượng của dê đực Beetal ở một số thời điểm sinh trưởng 61
Bảng 3.11. Khối lượng của dê cái Beetal ở một số thời điểm sinh trưởng 62
Bảng 3.12: Sinh trưởng tuyệt đối của dê đực Beetal qua các giai đoạn tuổi 64
Bảng 3.13: sinh trưởng tuyệt đối của dê cái Beetal qua các giai đoạn tuổi 65
Bảng 3.14: Kích thước một số chiều đo cơ thể của dê đực Beetal 68
Bảng 3.15: Kích thước một số chiều đo cơ thể của dê cái Beetal 69
Bảng 3.16: Khả năng cho thịt của dê đực Beetal 71
Bảng 3.17: Chất lượng thịt của dê đực Beetal 72
Bảng 3.18: Tình hình bệnh tật của đàn dê Beetal qua các năm 73
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
STT TÊN ĐỒ THỊ TRANG
Đồ thị 3.1: Đặc điểm chu kỳ sữa của dê Beetal 54
Đồ thị 3.2: Sinh trưởng tích luỹ của dê qua các tháng tuổi 63
Đồ thị 3.3 : Sinh trưởng tuyệt đối của dê Beetal 66
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
viii
CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
A Hoạt lực tinh trùng
Al Dê Alpine
Ba Dê Barbari
Be Dê Beetal
Bo Dê Boer
Bt Dê Bách Thảo
C Nồng độ tinh trùng
CV Cao vây
ĐDLĐ Động dục lần đầu
ĐLĐ Đẻ lứa đầu
DTC Dài thân chéo
Ju Dê Jumnapari
K Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình
NSS Năng suất sữa
PGLĐ Phối giống lần đầu
Sa Dê Saanen
SLS Sản lượng sữa
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
V Lượng tinh dịch
V.A.C Tổng số tinh trùng tiến thẳng
VCK Vật chất khô
VN Vòng ngực
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dê là con vật được nuôi rộng rãi khắp thế giới với mục đích lấy thịt,
sữa, lông và da. C.Devendra (1980) [33] cho rằng: Thịt dê chứa ít mỡ và được
ưa thích ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các vùng nhiệt đới, châu Á,
châu Phi, Trung Cận Đông, Ấn Độ, Bangladesh thịt dê được sử dụng phổ
biến ở nhiều nước trên thế giới, nhiều nơi giá thịt dê thường cao hơn các loại
thịt khác, đồng thời ngành chăn nuôi dê thịt khá phát triển đã mang lại lợi
nhuận đáng kể cho người chăn nuôi. Các nước ôn đới chủ yếu nuôi dê lấy sữa,
sữa dê là loại thức ăn bổ dưỡng cho con người. Jenness (1980) [38] chứng
minh được rằng: Sữa dê có giá trị dinh dưỡng cao hơn sữa bò, hàm lượng
protein và giá trị sinh học của protein cũng cao hơn, axit amin trong sữa dê
tương đương với sữa người. Trong sữa dê có nhiều axit amin không thay thế,
mặt khác do hạt mỡ trong sữa dê có kích thước nhỏ hơn nhiều so với kích
thước của hạt mỡ trong sữa trâu và bò, nên khả năng tiêu hoá và hấp thu của
sữa rất tốt.
Ấn Độ là nước nuôi nhiều dê trên thế giới với 20 giống dê khác nhau C.
Devendra (1982)[34]. Các giống dê được nuôi nhiều nhất ở Ấn Độ hiện nay là
Jumnapari, Barbari, Beetal, Mawari, Black-Bengal (N.K. Bhattacharyya,
1989)[31]. Nhiều nhà khoa học ở Ấn Độ, Pakistan và đặc biệt là C.Devendra
và Marca Burns (1983) [35] cho rằng: Beetal là giống dê sữa tốt với sản lượng
trung bình của một chu kỳ tiết sữa là 195 kg, thời gian cho sữa là 224 ngày; số
con sơ sinh/lứa là 1,7con.
Ở Việt Nam, trước năm 1994 chỉ có 2 giống dê chính là dê Cỏ và dê
Bách Thảo được nuôi chủ yếu để lấy thịt. Năm 1994, Chính phủ Ấn Độ tặng
cho Việt Nam 500 con dê giống, trong đó có 80 con dê Beetal, được giao cho
Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, thuộc Viện Chăn Nuôi nuôi giữ và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
2
phát triển, từ đó các giống dê Ấn Độ đã được nhân thuần, lai tạo với các giống
dê nội địa và phát triển rộng rãi ở Việt Nam.
Các giống dê Ấn Độ này nuôi ở Việt Nam đến nay đã được 5 - 6 thế
hệ, kết quả cho thấy: dê Beetal có khả năng cho sữa tốt và được người chăn
nuôi ưa thích. Theo Đinh Văn Bình và cộng sự (1998) [2], sản lượng sữa
của dê Beetal nuôi tại Việt Nam là 166 - 201,4 kg với thời gian cho sữa là
167 - 183 ngày.
Do số lượng dê Beetal nhập ban đầu năm 1994 không nhiều, nhất là dê
đực chỉ có 4 con nên đến nay ở thế hệ 5 - 6 đã phải ghép phối trở lại trong
huyết thống. Do đó, việc đánh giá khả năng sản xuất của giống dê này để có
biện pháp sử dụng và nuôi giữ lâu dài dê Beetal thế hệ 5 - 6 tại Trung tâm
nghiên cứu Dê và Thỏ là cấp thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế trên chúng
tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá khả năng sản xuất của dê Beetal thế hệ 5 và
6 nuôi tại Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây”.
2. Mục đích của đề tài
- Xác định được một số chỉ tiêu về khả năng sản xuất chính: sinh sản,
cho sữa và cho thịt của giống dê Beetal thế hệ 5, 6 trong điều kiện chăn nuôi
tại trại giống Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây, Hà Nội.
- So sánh đánh giá khả năng sản xuất của các thế hệ này.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được một số chỉ tiêu về khả năng sản
xuất chính như sinh sản, cho sữa và cho thịt của giống dê Beetal thế hệ 5 và 6.
Kết quả đề tài bổ sung tư liệu về con dê góp phần phục vụ giảng dạy,
nghiên cứu khoa học ở các viện, trung tâm, các trường đại học, cao đẳng,
trường kỹ thuật nông nghiệp và làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu,
cán bộ kỹ thuật, sinh viên nghành nông nghiệp và người nuôi dê.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đã đánh giá được một số chỉ tiêu về khả năng sản xuất chính của
dê Beetal thế hệ 5 và 6 nuôi tại Trung tâm nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây và
các kết quả nghiên cứu cho thấy được chiều hướng thoái hóa của giống dê
này, do vậy cần thiết phải có kế hoạch nhập mới giống dê Beetal về làm tươi
máu đàn dê.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học về khả năng sản xuất
Phần lớn các đặc tính quý có giá trị kinh tế của vật nuôi đều thuộc tính
trạng số lượng, các tính trạng số lượng có đặc trưng là biến dị liên tục, chịu
ảnh hưởng của kiểu di truyền là kiểu gen G (Genotype) và ngoại cảnh E
(Environment) theo công thức sau:
Giá trị kiểu hình của các tính trạng P (Phenotype) = G + E
Tuỳ theo điều kiện môi trường ngoại cảnh E mà giá trị di truyền G thể
hiện ra kiểu hình P nhiều hay ít. Vì vậy, giữa kiểu di truyền và ngoại cảnh còn
có mối quan hệ tương tác, mối quan hệ này cũng tham gia vào sự thể hiện ra
kiểu hình P theo công thức:
P = G + E + I
GE
1.1.1. Yếu tố di truyền
Kiểu di truyền hay giá trị kiểu di truyền G lại bao gồm: Giá trị di truyền
cộng gộp A (Additive) còn gọi là giá trị giống cá thể, thành phần này sẽ
truyền lại cho cá thể đời sau một nửa (1/2 A); sai lệch D (Dominant) là thành
phần di truyền tạo ra do quan hệ trội giữa 2 alen trong cùng một gen và hiệu
ứng tương tác gen I (Interaction) giữa các alen không cùng gen trong một
nhiễm sắc thể, hai thành phần di truyền này không truyền lại cho đời sau mà
được hình thành do sự tái tổ hợp.
G = A + D + I
Sai lệch môi trường chung Eg (General enviromental deviation) là sai lệch
do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng một cách lâu
dài. Các yếu tố đó là: Thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng tác động
lên một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [22].
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)