Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

CNH - HĐH nền KTQD

Lời mở đầu
Công cuộc xây dựng xã hội mới phải đợc tiến hành toàn diện trên các mặt:
quan hệ sản xuất, lực lợng sản xuất, nền văn hoá và những con ngời của xã hội
đó. Công nghiệp hoá chính là con đờng và bớc đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất
- là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.
Xây dựng cơ sở vật chất - là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một quy
luật chung, phổ biến đối với tất cả các nớc. Tuy nhiên, tuỳ từng nớc khác nhau,
do điểm xuất phát tiến lên không giống nhau nên cách thức tiến hành xây dựng
cơ sở vật chất - là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại sẽ không giống nhau.
Đối với những nớc có nền kinh tế kém phát triển nh nớc ta, nền sản xuất
nhỏ, là thuật thủ công là chủ yếu công nghiệp hoá là quá trình chủ mang tính
quy luật để tạo ra cơ sở vật chất - là thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại.
Chính vì vậy tại đại hội VIII Đảng ta khẳng định: tiếp tục sự nghiệp đổi
mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh,
xã hội công bằng văn minh, vững bớc đi lên CNXH - là nhiệm vụ sắp tới của
dân tộc ta.
Những thành tựu sau 10 năm đổi mới, đặc biệt là kết quả thực hiện vợt
mức những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm1991 - 1995 đã đa nền kinh tế
nớc ta khỏi khủng hoảng và tạo đợc nhứng tiền đề cho phép chuyển sang giai
đoạn của sự phát triển đất nớc.
Cũng tại đại hội lần thứ VIII của Đảng công sản Việt Nam xuất phát từ
nguyện vọng và ý chí của nhân dân. Từ điều kiện và khả năng thực tế của đất n-
ớc trong bối cảnh và xu thế của thời đại ngày nay đã khẳng định quyết tâm phấn
đấu đa nớc Việt Nam trở thành một nớc công nghiệp vào khoảng năm 2020.
1
Từ lý do trên em quyết định chọn đề tài "Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nền kinh tế quốc dân là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta". Cho bài tiểu luận này.
Với chút hiểu biết ít ỏi của mình, em mạnh dạn xin đợc trình bày một số ý
kiến cá nhân mình với hy vọng góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm hệ thống
lý luận trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta. Em rất mong đ-
ợc sự góp ý của thầy cô và các bạn quan tâm đến đề tài này để bài viết hoàn
thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn và trân trọng ý kiến đóng góp.
2
Phần nội dung
I. Những vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở n ớc ta.
1. Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện
các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử
dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự
phát triển của công nghiệp và tiến độ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao.
2. Tình tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật của một xã hội toàn bộ hệ thống các yếu tố vật
chất của lực lợng sản xuất xã hội phù hợp với trình độ kỹ thuật tơng ứng mà lực
lợng lao động xã hội sử dụng, tác động vào để sản xuất ra của cải vật chất đáp
ứng nhu cầu xã hội.
Chỗ dựa để xem xét sự biến đổi của cơ sở - vật chất - kỹ thuật của một xã
hội là: sự biến đổi và phát triển của lực lợng sản xuất, sự phát triển khoa học -
kỹ thuật, tính chất và trình độ của các quan hệ xã hội, đặc biệt là quan hệ sản
xuất thống trị.
Nói cơ sở vật chất kỹ thuật là một phơng thức sản xuất nào đó là nói cơ sở
vật chất kỹ thuật đó đạt đến một trình độ nhất định làm đặc trng cho phơng thức
sản xuât đó đợc khẳng định sự thay thế phơng thức sản xuất và đợc khẳng định
sự thay thế phơng thức sản xuất cũ và đợc phát triển trên cơ sở bản thân đó.
Đặc trng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của các phơng thức sản xuất trớc chủ
nghĩa t bản là dựa vào công cụ thủ công, nhỏ bé, lạc hậu. Cơ sở vật chất - kỹ
thuật của chủ nghĩa t bản, đặc trng của nó là nền đại công nghiệp cơ khí hoá
3
vàchỉ đến khi xây dựng xong cơ sở đó, phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa mới
trở thành phơng thức sản xuất thống trị.
Chủ nghĩa xã hội - giai đoạn phơng thức sản xuất mới cao hơn chủ nghĩa t
bản - đòi hỏi một cơ sở vật chất - kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt: trình độ, kỹ
thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật
hiện đại.
Do vậy có thể hiểu: cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hôị sẽ là nền
công nghiệp lớn hiện đại đợc hình thành một cách có kế hoạch và thống trị
trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Từ chủ nghĩa t bản hay từ trớc chủ nghĩa t bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách
quan và đợc thực hiện thông qua công nghiệp hoá , hiện đại hoá. Đố là vì, cơ sở
vật chất - kỹ thật là điều kiện trọng yếu nhất, quyết định nhất có liên quan đến
sự phát triển về chất đổi mới với lực lợng sản xuất và năng suất lao động, đối
với việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội và đối
với sự thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội.
3. Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
"Xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật
hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình
và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng văn minh".
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá có ý nghĩa lớn lao, nh vậy nó
phải đợc thực hiện triệt để, sâu rộng trong toàn nhân dân. Có nghĩa là phải tập
trung mọi lực lợng trong nhân dân, khuyến khích phát triển nhiều thành phần
kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích mọi doanh nghiệp, các nhân trong
và ngoài nớc cùng tham gia vào sự nghiệp chung góp phần tăng trởng kinh tế
-xã hội của đất nớc nh lời: tổng bí th Lê Khả Phiêu phát biểu tại hội nghị lần thứ
VI ban chấp hành trung ơng Đảng VIII:" Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh
4
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, nắng vững lợi thế so sánh, dựa vào sức
mạnh nôi lực, phát huy cao độ nỗ lực của mọi ngời, mọi cấp, mọi ngành, mọi
thành phần kinh tế, nắm thời cơ, tranh thủ nguồn từ bên ngoài vợt qua khó khăn
thách thức, giữ vững ổn đinh và phát triển kinh tế xã hội, từng bớc tạo điều kiện
để cần thiết cho phát triển nhanh và bền vững khi có điều kiện".
Điều kiện quan trọng ở đây là:" phát huy mọi nguồn lực trong nhân dân,
phát triên nhiều thành phần kinh tế nhng trong đó kinh tế Nhà nớc giữ vai trò
chủ đạo vận hành theo cơ chế thị trờng cơ sự quản lý của nhà nớc". Đây chính
là một bài học quan trọng mà Đảng rút ra sau 10 năm đổi mới. Sở dĩ chúng ta
giành đợc những thắng lợi khả quan sau 10 đổi mới, ngoài những bài học khác
thì một phần nhờ vào việc Đảng ta xác định chính sách kinh tế đúng đắn. Xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng đi
đôi với tăng cờng vai trò quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN.
Kinh tế thị trờng tuy có nhiều u thế, tác động tích cực tới sự phát ytiển
kinh tế -xã hội nhng đồng thời nó cũng có những mặt tiêu cực, khuyết tật ảnh h-
ởng tới sự phát triển kinh tế- xã hội nh hiện tợng cạnh tranh thiếu lành mạnh,
chèn ép lẫn nhau, phân hoá giàu nghèo dần đến khủng hoảng hoặc gây rối loạn
xã hội, làm cho kinh tế phát triển không ổn định, gẵn liền với hiện tiêu cực và tệ
nạn xã hội Vì thế nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta là nền kinh tế phát
triển theo định hớng XHCN. Do đó Nhà nớc phải nâng cao năng lc quản lý vĩ
mô nhằm phát huy tính tích tích cực đi đôi với ngăn ngừa và hạn chế, khắc phục
những mặt tiêu cực của kinh tế thị trờng tạo ra một môi trờng cạnh tranh lành
mạnh, hợp pháp văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nớc, chứ không
phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau làm
chệch hớng đi lên chủ nghĩa xã hội
Muốn vậy cần phải xác định rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nớc ( đó là
các doanh nghiệp nhà nớc), phải làm sao để cho kinh tế nhà nớc thực sự làm ăn
có hiệu quả, phát huy tối đa vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã, phấn
đấu dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.
5
Tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nớc trong những ngành, lĩnh
vực trọng yếu nh kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng,
bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thơng mại, dịch vụ quan trọng, một số doanh
nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc phòng an ninh. Đây là
những ngành kinh tế chính yếu, là "bộ xơng sống" của toàn bộ nền kinh tế quốc
gia.
II công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt nam
1.Tiến hành cách mạng khoa học kỹ thật, xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật để tự trang bị.
Thế giới đã trải qua hai cuộc chiến tranh kỹ thụât: cuộc cách mạng kỹ
thuật mà nội dung chủ yếu của nó là cơ khí hoá xuất hiện đầu tiên ở nớc Anh
vào 30 năm cuối thế kỷ 17 và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ 19. Đến
khoảng giữa thế kỷ 20 xuất hiện cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại.
Mấy thập niên đã trải qua, nhất là thập niên gần đây loài ngời đang chứng kiến
những thay đổi rất to lớn, trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và
xã hội.
Từ nội dung của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật, mặc dù còn có thể có
ý kiến nào đó khác nhau, song ý kiến nhất trí cho rằng cuộc cách mạng nàycó
hai đặc trng chủ yếu:
Một là, khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp. Cách đây hơn
một trăm năm. Các Mác đã dự đoánvề mối quan hệvà sự phát triển giữa khoa
học và lực lợng sản xuất. Ngời viết: Thiên nhiên không tạo ra máy móc, đầu
xe lửa, điện báo Tất cả các thứ đólà thành quả sáng tạo của bộ óc con ngời, đ-
ợc bàn tay con ngời tạo ra là sức mạnh tri thức đã đợc vật hoá. Sự phát triển của
vốn cố định là chỉ tiêu cho thấy rằng tri thức xã hội chung đã biến thành lực l-
ợng sản xuất với mức độ bào, và do đó cũng là chỉ tiêu nói lên mức độ phụ
thuộc và biến đổi của chính những điều kiện hoạt động đối với trí tuệ chung
6
Nói khoa học trở thành lực lợng sản xuất trc tiếp là nó bao gồm cả khoa
học tự nhiên- kỹ thuật lẫn khoa học xã hội, nhất là khoa học kinh tế, nó do con
ngời toạ ra thông qua con ngời- nhân tố trung tâm- nhân tố chủ thể- đến lực l-
ợng sản xuất. Nó đòi hỏi phải có chính sách đầu t đúng đắn cho khoa học- kỹ
thuật. Ngày nay, bất cứ một tiến bộ nào của kỹ thuật công nghệ sản xuất đều
phải dựa trên những thành tựu khoa học làm cơ sở lý thuyết cho nó.
Hai là, thời gian cho một phát minh mới của khoa học ra đời thay thế chio
phát minh cũ có xu hớng rút ngắn lại, phạm vi ứng dụng của một thành tựu
khoa học vào sản xuất đời sống ngày càng mở rộng.Đặc trng này làm cho tài
sản cố trong qúa trình sử dụng thậm trí vừa mới xây dựng xong không chỉ bị
hao mòn hữu hình mà còn bị hao mòn vô hình nhanh chóng hơn trớc. Nó đòi
hỏi cần đợc kêt hợp chặt chẽ giữa chiến lợc khoa học kỹ thụât với chiến lợc
kinh tế xã hội.
ở nớc ta, một nớc bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội,
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đợc tiến hành trong điều kiện thế giới trải qua
hai cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật diễn ra trong xu hớng toàn cầu hoá, khu
vực hoá. Trong hoàn cảnh đó công cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuât ở nớc ta
phải bao gồm cả cơ khí hoá và hiện đại hoá, coi nó là then chốt và coi khoa học-
công nghệ là động lực cho sự tăng trởng và phát triển bền vững.
2. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và phân công lại lao động xã hội
Từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN không qua giai đoạn phát triển t
bản chủ nghĩa trong quá trinh công nghiệp hoá tất yếu phải phân công lại lao
động xã hội. Phân công lao động xã hội là sự chuyên môn hoá lao động, tức là
sự chuyên môn hoá sản xuất giữa các ngành trong nội bộ và giữa các vùng trong
nền kinh tế quốc dân. Nhân công lao động có tác động to lớn: nó là đòn bẩy của
sự phát triển công nghệvà năng xuất lao động; cùng với cách mạng khoa học kỹ
thuật nó góp phần hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý. Sự phân công
lại lao động xã hội trong quá trình công nghiệp hoá tuân thủ các quá trình có
tính quy luật sau:
7
+ Tỷ trọng vầ số tuyệt đối lao động nông nghiệp giảm dần; Tỷ trọng và số
tuyệt đối lao động công nghiệp ngày càng tăng
+ Tỷ trọng lao động trí tuệ ngày một tăng và chiếm u thế so với lao động
giản đơn trong tổng lao động xã hội.
+Tốc độ tăng lao động trong các ngành phi sản xuất vật chất tăng nhanh
hơn mức độ tăng lao động trong các ngành sản xuất vật chất.
Nớc ta hàng chục năm xây dựng cơ cấu kinh tế đã đem lại những thành
công nhất định. Song trong việc bố trí cơ cấu kinh tế có những sai lầm không
nhỏ về cơ cấu ngành, chạy theo công nghiệp nặng, công nghiệp cơ khí quá
nhiều, công nghiệp lạc hậu Qua nhiều lần đại hội, dới ánh sáng của sự đổi
mới nói chung, trong đó có đổi mới việc xây dựng cơ cấu kinh tế, đến nay đã đa
lại chuyển động bớc đầu quan trọng. Thông qua cách mạng khoa học- kỹ thuật
và phân công lại lao động với những tính quy luật vốn có của nó, thích ứng với
điều kiện nớc ta. Đảng ta đã xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý, mà bộ xơng
của nó là: cơ cấu kinh tế công nông nghiệp- dịch vụ gắn liền với phân công và
hợp tác quốc tế sâu rộng, sẽ cho phép nớc ta kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội
Cơ cấu nói trên ở nớc ta trong thời kỳ qúa độ đợc thực hiện theo phơng
châm: Kết hợp công nghệ với nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ mũi nhọn-
tiên tiến vừa vận dụng đợc nguồn lao động dồi dào, vừa cho phép rút ngắn
khoảng cách lạc hậu, vừa phù hợp với nguồn vốn có hạn ở trong nớc, lấy quy
mô vừa và nhỏ là chủ yếu, có tính quy mô lớn nhng phải là quy mô hợp lý và có
điều kiện. Giữ đợc nhịp độ phát triển hợp lý, tạo ra sự cân đối giữa các ngành
hàng hoá, các lĩnh vực kinh tế và các vùng trong nền kinh tế.
III. Những điều kiện- giải pháp để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá
8
Sự nghiệp công nghiệp hoá mà sự thắng lợi của nó phụ thuộc vào nhng
điều kiện tiền đề (nhất là ở những nớc có nền kinh tế kém pháp triển nh ở nớc
ta) có 4 loại điều kiện tiền đề sau đây:
1. Tạo nguồn vốn tích luỹ để công nghiệp hoá
Công nghiệp hoá là để phát triển lực lợng sản xuất, xây dựng cơ sở vật
chất- kỹ thuật ngày một hiện đại, nên đòi hỏi nhiều vốn. Nguồn gốc của tích luỹ
vốn là lao động thặng d, cơ sở tự nhiên và cũng là biện pháp cơ bản tăng năng
suất lao động. Cơ cấu vốn tích luỹ để công nghiệp hoá bao gồm: Tích luỹ vốn từ
nguồn trong nớc và tích luỹ vốn từ nguồn bên ngoài. ở nớc ta, nguồn vốn trong
nớc còn hạn hẹp cũng nh nhiều nớc kém hoặc đang phát triển, thời kỳ đầu đều
phải dựa vào nguồn vốn nớc ngoài, nớc ta không thể là ngoại lệ.Tất nhiên phải
rất coi trọng tạo ra chính sách đối ngoại hữu hiệu và việc sử dụng vay vốn có
hiệu quả, có khả năng hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
2. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ.
Vị trí then chốt của khoa học- kỹ thuật trong quá trình công nghiệp hoá ở
nớc ta đòi hỏi phải đặt khoa học và công nghệ nh một quốc sách. Chính nó đã
góp phần đa nền kinh tế hàng hoá ở nớc ta phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu, nhất là chiều sâu góp phần nâng cao năng lực tích luỹ vốn cho sự nghiệp
công nghiệp hoá đất nớc.
3. Làm tốt công tác về điều tra cơ bản
Nớc ta, công nghiệp hoá mới chỉ bắt đầu, tài nguyên khoáng sản tơng đối
nhiều nhng cha đợc khai thác. Do vậy, điều tra cơ bản thăm dò địa chất là điều
kiện tiền đề không thể thiếu của công nghiệp hoá. Sẽ mất lợi thế nếu khai thác
chậm, trớc sự bùng nổ của vật liệu do cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tác
động và tạo ra khả năng thay thế nguyên liệu tự nhiên trong thế kỷ 21 và tiếp
theo.
4. Đào tạo cán bộ khoa học- kỹ thuật , khoa học quản lý và công nhân
lành nghề cho công nghiệp hoá.
9
Sự nghiệp công nghiệp hoá là sự nghiệp của quần chúng lao động xây
dựng nên, trong đó cán bộ khoa học kỹ thuật, khoa học quản lý và nhân công có
tay nghề cao có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, phải làm cho họ có tri
thức phải đào tạo họ.
Những điều kiện tiền đề nói trên có quan hệ mật thiết với nhau, nó đòi hỏi
phải có mới tiến hành công nghiệp hoá đợc. Nớc ta không thể không hoà nhập
với các nớc trong cộng đồng quốc tế, không thể không nẵm bắt những lý thuyết
hiện đại để ứng dụng cho các nớc kém phát triển.
- Lý thuyết về lợi thế so sánh
- Lý thuyết cân bằng
- Lý thuyết cất cánh
Mỗi lý thuyết về nội dung của nó đều có mặt tích cực và mặt hạn chế của
nó,do vậy trong việc vận dụng phải biết vận dụng và phát huy mặt tích cực,
khắc phục một cách có hiệu quả những hạn chế của nó. Bằng cách đó sớm
đa sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nớc ta nhanh đến thắng lợi
kết luận
10

Xem chi tiết: CNH - HĐH nền KTQD


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét