Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

Những mâu thuẫn biện chứng trong nền Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở Việt Nam

công việc trọng yếu. Trong một thời gian đó, lại có một công việc trọng yếu nhất
và vài ba việc trọng yếu vừa. Người lãnh đạo trong địa phương hoặc cơ quan đó
phải xem xét kĩ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì
làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoặch, gặp việc nào làm việc ấy,
thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp “
Ví dụ: Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội
hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là: Tiến hành cải tổ không theo một trình tự rõ
ràng, đã có sự phê phán đối với “sự trì trệ” nhưng không xác định được mâu
thuẫn nào cần được giải quyết trước, và chúng được thực hiện theo sự nhất quán
nào, vào thời gian nào,trong điều kiện nào. Từ đó dẫn đến hiện tượng luống
cuống, hỗn độn, mất ổn định của nhà nước và xã hội.
Trong hoạt động thực tiễn, phát hiện và nhận thức mâu thuẫn là rất quan trọng,
không nên lảng tránh và che dấu mâu thuẫn. Hơn nữa, mâu thuẫn được giải
quyết bằng quá trình đấu tranh theo qui luật khách quan. Cho nên rong đời sống
xã hội chúng ta phải coi hành vi đấu tranh là chân chính.
II/ Tính tất yếu phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam
Đại hội Đảng lần thứ VI có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước ngoặt chuyển đất
nước ta sang thời kì mới, thay thế nền kinh tế hiện vật với cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ( KTTT
ĐH XHCN ).
KTTT định hướng XHCN, thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên
những nguyên tắc và qui luật của KTTT, vừa dựa trên nguyên tắc và bản chất
của CNXH. Do đó, KTTT định hướng XHCN có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại
trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là nhóm của KTTT đóng
vai trò như là “động lực” thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh và nhóm
5
nhân tố của xã hội XHCN, đóng vai trò hướng dẫn, chỉ định sự vân động của nền
kinh tế theo những mục tiêu đã xác định.
Vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hết sức quan trọng.
Sự quản lý của nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu
quả, đặc biệt là sự đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội. Không có ai ngoài nhà
nước lại có thể giảm bớt được sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, giữa thành thị
và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các vùng của đất
nước Chính vì vậy mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
một đặc trưng cơ bản của nước ta, nó hoàn toàn khác với mô hình kinh tế thị
trường của các nước trên thế giới.
Mô hình kinh tế hiện vật chỉ phù hợp trong thời chiến, lúc đó chúng ta cần tập
trung toàn bộ sức người, sức của để phục vụ cho tiền tuyến. Nhưng trong thời
bình, mô hình đó tỏ ra không phù hợp và thực chất đó là mô hình phi kinh tế.
Hơn thế, đất nước ta sau chiến tranh rơi vào trong tình trạng trầm trọng nhất của
khủng hoảng kinh tế – xã hội: sản xuất đình đốn, lạm phát tăng vọt, đất nước bị
bao vây kinh tế, đời sống nhân dân hết sức khó khăn Duy trì mô hình hiện vật,
không những không giải quyết được vấn đề hiện có mà nó còn cho thấy rõ
khuyết tật bên trong kìm hãm sự phát triển : nền kinh tế không có động lực,
không có sức đua cạnh tranh, không phát huy được tính chủ động sáng tạo của
người lao động, của các chủ thể sản xuất kinh doanh, sản xuất không gắn với nhu
cầu, ý chí chủ quan đã lấn áp ý chí khách quan và triệt tiêu mọi động lực và sức
mạnh nội sinh của bản thân nền kinh tế, làm cho nền kinh tế suy thoái, thiếu hụt
hiệu quả thấp, nhiếu mục tiêu của chủ nghĩa xã hội không được thực hiện.
Thực tế cho thấy, sự phát triển của thị trường tự do chen lẫn thị trường có tổ
chức, sự lẳng lặng vi phạm các qui tắc, các chuẩn mực lúc bấy giờ là những phản
ánh sự bất lực của một cơ chế quản lý cứng nhắc. Đứng trước tình hình đó, Đảng
đã kịp thời có những chuyển biến, bắt đầu uốn nắn những lệch lạch trong phong
6
trào hợp tác hoá, công nghiệp hoá đến việc thay đổi thể chế chính sách. Nghị
quyết Trung ương lần thứ VI được đánh dấu như một cái mốc trong quá trình
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế: cho sản xuất bung ra, thừa nhận quan hệ hàng
hoá - tiền tệ, cho tự do lưu thông. Và như thế nền kimh tế hàng hoá nhiều thành
phần ra đời, tạo tiền đề cần thiết để chuyển sang nền kinh tế thị trường. Đó là
một hệ quả tất yếu, là bước phát triển không thể thiếu trong nền kinh tế
Trên con đường đi lên chủ ngihĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực
hiện nhất quán lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, đó chính là
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển
lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại
gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản
lý và phân phối.
Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa thể hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp giữa QHSX với tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Đó chính là mô hình kinh tế tổng quát
của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.

III/ Những mâu thuẫn trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Sau đại hội Đảng lần thứ IV, đất nước ta bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới
toàn diện, và cho đến nay, sau 15 năm thực hiện đã thực sự đem lại kết quả to
lớn trong mọi mặt của đời sống xã hội: đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh
tế – xã hội, tổng sản phẩm trong nước tăng gấp ba, từ tình trạng hàng hoá khan
hiếm nghiêm trọng nay sản xuất đã đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của nhân
7
dân, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội tăng nhanh. Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp
từ 38,7% giảm xuống 24,3%, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%,
dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1% Bên cạnh những kết quả mà ta đạt được, là
những khó khăn trong khi xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trước hết phải nói đến điểm xuất phát của ta khi chuyển dịch cơ chế, từ
nền kinh tế yếu kém, mang đậm tính tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá
vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi phải có sự tích luỹ dồi dào, khoa học
công nghệ phát triển và một nền kinh tế vững mạnh Tiếp theo đó là cơ chế
quản lý của nhà nước, mặc dù đường lối của Đảng đặt ra là đúng đắn, nhưng việc
thực hiện nó không đồng bộ. Y thức hệ còn chưa được rõ ràng, tác phong cá
nhân yếu kém Chính những khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển
kinh tế thị trường, đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn kìm hãm bước phát triển.
1. M âu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ
bản trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, thì vấn đề lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp. xét trên phương
diện triết học, thì lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là ý thức,
lực lượng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi, và là yếu tố quyết định
quan hệ sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định
thì quan hệ sản xuất lúc này tỏ ra không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm
hãm. Để mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển thì cần thay đổi quan hệ sản
xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau,
nó là thước đo để đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ơ Việt Nam,
8
mặc dù nhà nước đã có rất nhiều chính sách để cân đối sao cho LLSX – QHSX
phát triển song song đồng bộ. Nhưng thực tế cho thấy, khi bắt tay vào xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường thì LLSX luôn tỏ ra mâu thuẫn với QHSX.
Tính cạnh tranh và năng động là một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh
tế thị trường, thì ngược lại chúng ta lại chậm tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế,
chính sách để tạo động lực và điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước nâng cao
hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Việc thí
điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước còn làm chậm. Chưa quan tâm tổng
kết thực tiễn, kịp thời chỉ ra phương hướng, biện pháp đổi mới kinh tế hợp tác,
để hợp tác xã nhiều nơi tan rã hoặc chỉ còn là hình thức, cản trở sản xuất phát
triển, chưa kịp thời đúc kết kinh nghiêm, giúp đỡ các hình thức kinh tế hợp tác
mới phát triển. Chưa giải quyết tốt một số chính sách để khuyến khích kinh tế tư
nhân phát huy tiềm năng, đồng thời chưa quản lý tốt thành phần kimh tế này.
Quản lý kinh tế hợp tác liên doanh với nước ngoài còn nhiều sơ hở. Kinh tế vĩ
mô còn những yếu tố thiếu vững chắc. Công tác tài chính, ngân hàng, giá cả, kế
hoạch hoá, qui hoạch xây dựng, quản lý đất đai còn yếu kém, thủ tục đổi mới
hành chính chậm. Thương nghiệp nhà nước bỏ trống một số trận địa quan trọng,
chưa phát huy tốt vai trò chủ đạo trên thị trường. Quản lý xuất nhập khẩu còn
nhiều sơ hở, tiêu cực, một số trường hợp gây ra tác động xấu với sản xuất. Chế
độ phân phối thu nhập còn bất hợp lý, bội chi ngân sách và nhập siêu còn lớn
Đó là một số hạn chế của QHSX kìm hãm LLSX phát triển và điều đó làm cho
quá trình xây dựng đất nước của ta gặp nhiều khó khăn.
Một trong những vấn đề bức xúc đối với chúng ta hiện nay đó là việc làm, tình
trạng thất nghiệp là một biểu hiện rõ ràng để chứng tỏ được rằng giữa LLSX –
QHSX có sự mất cân đối.
9
Khi QHSX phù hợp, nó không những giải phóng được sức sản xuất mà còn tạo
tiền đề để thúc đẩy bước phát triển của LLSX. Vì vậy vấn đề đặt ra cần đặt ra là
làm thế nào để giải quyết được mâu thuẫn này?
Cần đổi mới và hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính
sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới
cho phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức
sở hữu khác nhau. Mọi doanh nghiệp, mọi công dân được đầu tư kinh doanh theo
hình thức do luật định và được pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh doanh theo
các hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều được khuyến khích
phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển mạnh
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từng bước hình thành một số tập đoàn kinh tế
mạnh.
Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nước để thức hiện tốt vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế. Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những sản xuất và
dịch vụ quan trọng: Xây dựng các tổng công ty nhà nước đủ mạnh để làm nòng
cốt trong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong
nước và quốc tế
Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh
của doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh sang hoạt
động theo cơ chế công ty trách nhiệm hưũ hạn hoặc công ty cổ phần. Bảo đảm
quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật,xoá bỏ bao cấp của nhà nước
đối với doanh nghiệp.
Thực hiện chủ trương cổ phần hoá những doanh nghiệp mà nhà nước không
nắm giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng
động thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
10
Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng, phát triển hợp tác
xã kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngànhđể sản xuất kinh doanh,
dịch vụ, tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với nền
kinh tế thị trường
Hình thành đồng bộ và tiếp tục phát triển, hoàn thiện các loại thị trường đi đôi
với việc xây dựng khuôn khổ pháp lý thể chế, để thị trường hoạt động năng
động, có hiệu quả. có trật tự, kỉ cương trong môi trường cạnh tranh lạnh mạnh,
công khai minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh.
Phát triển thị trường vốn và tiền tệ, tổ chức và vận hành an toàn, hiệu quả thị
trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm, Hình thành và phát triển thị trường bất
động sản, thị trường lao động. Tạo điều kiện công ăn việc làm cho người dân, từ
đó nâng cao đời sống xã hội.
Và điều cuối cùng là việc đổi mới chế độ sở hữu, đó là mấu chốt quan trọng
nhất trong việc cân bằng mối quan hệ giữa LLSX và QHSX. . Hiện nay ở nước
ta, một số hình thức sở hữu đã được hình thành, một số hình thức khác đang
được khôi phục hoặc mới bắt đầu hình thành. Chế độ nhiều hình thức sở hữu
trong nền kinh tế là hoàn toàn có cơ sở khách quan. Đó là những thay đổi diễn ra
trong suốt quá trình phát triển kinh tế. Trình độ phát triển LLSX và xã hội hoá
sản xuất trong các khu vực kinh tế quốc dân không giống nhau. Có những
khoảng cách đáng kể trong phát triển kỹ thuật ở các xí nghiệp, các ngành, các
vùng khác nhau. Chính vì vậy mà cần điều chỉnh lại cơ cấu QHSH.
Trong việc đổi mới các quan hệ sở hữu, xác lập nhiều hình thức sở hữu, cần
phải xem xét, đánh giá đúng, tăng cường vai trò chủ đạo của các hình thức sở
hữu nhà nước, bằng cách cải tổ khu vực này: những xí nghiệp nào cần được duy
trì, những xí nghiệp nào cần được giải thể và việc giải thể đó ra sao, là những
vấn đề hết sức phức tạp. Chính vì thế trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
11
theo định hướng xã hội chủ nghĩa càng đòi hỏi phải có sự điều hành hợp lý của
Nhà nước.
2. C ơ chế thị trường và những mâu thuẫn xunh quanh nó
Thị trường là điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, do vậy kinh tế hàng
hoá càng phát triển thì thị trường càng được mở rộng, ngược lại, thị trường càng
được mở rộng thì càng thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, đó là mối quan hệ
biện chứng gắn bó hữu cơ với nhau. Và xunh quanh mối quan hệ biện chứng đó
là những mâu thuẫn khách quan, tồn tại trong cơ chế thị trường.
Các bộ phận hợp thành cơ ché thị trường là :
Giá cả thị trường: là thứ giá cả hình thành trên thị trường bởi sự tác động của
các lực thị trường. Trên mỗi thị trường, mỗi hàng hoá, dịch vụ đều có một giá
nhất định và toàn bộ những giá cả đó tạo thành hệ thống giá cả thị trường
Cầu hàng hoá: là số lượng hàng hoá mà người mua mong muốn mua và có khả
năng mua theo mức giá nhất định. Như vậy, để có cầu hàng hoá phải có ba điều
kiện: mong muốn mua, có khẳ năng mua và mức giá.
Cung hàng hoá: là số lượng mà người sản xuất hàng hoá mong muốn sản xuất
và có khả năng bán trên thị trường với giá nhất định. Để có cung hàng hoá cũng
phải có ba điều kiện: mong nuốn sản xuất, có khả năng sản xuất và mức giá. Khi
cung hàng hóa nào đó trên thị trường vừa bằng cầu về hàng hoá đó, thì mức giá
cả là bình quân.
Cạnh tranh trên thị trường: cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá với
nhau theo ba hướng; giá cả, chất lượng và dịch vụ tương ứng. Cạnh trang giữa
những người mua với nhau. cạnh tranh giữa một bên là người bán và một bên là
người mua. Trên thị trường không bao giừo có chuyện “đơn phương độc mã” mà
là “buôn có bạn, bán có phường”.
12
Bốn bộ phận hợp thành cơ chế thị trường kể trên có quan hệ mật thiết với nhau,
như là những khâu trong một guồng máy. Giá cả là cái nhân của thị trường, cung
– cầu là trung tâm và cạnh tranh là linh hồn, là sức sống của thị trường.
Trong nền KTTT, tồn tại một số loại thị trường sau đây:
Thị trường độc quyền đơn phương; là loại thị trường chỉ có một người, nói đúng
hơn là một chủ thể bán ( người sản xuất duy nhất ) không có sản phẩm nào khác
có thể thay thế. Đó là hình thái thị trường độc quyền của một chủ thể duy nhất
bán hàng hay còn gọi là độc quyền tự nhiên. Ơ các nước trên thế giới cũng như
nước ta, hình thái thị trường này chỉ tồn tại trong một số ngành sản xuất nhất
định như : điện nước, bưu điện, hàng không Trong hình thái thị trường này,
nhu cầu về sản phẩm ít co dãn, nên người bán có thể kiểm soát hoàn toàn khối
lượng hàng hoá, dịch vụ bán trên thị trường và tự quyết định giá cả. Để bảo vệ
lợi ích của người tiêu dùng, Nhà nước phải tham gia quản lý vĩ mô đối với loại
thị trường này bằng những biện pháp chống độc quyền như : thuế, kiểm soát giá
cả, kiểm soát tồn kho hàng hoá, quy định luật lệ cấm liên kết để hình thành độc
quyền, bảo vệ tự do cạnh tranh.
Thị trường độc quyền đa phương: là loại thị trường, trong đó số người bán vừa
đủ để cho những hoạt động của một người có ảnh hưởng đến lượng cung và giá
cả của những doanh nghiệp khác ( ví dụ : sản phẩm xi măng, sắt thép ). Do tên
thị trường độc quyền đa phương còn có cạnh tranh, nên giá cả cũng luôn biến đổi
Thị trường cạnh tranh độc quyền: là thị trường, trong đó, có nhiều người bán
hàng cùng một sản phẩm, nhưng sản phẩm của mỗi người có ít nhiều khác nhau
về chất lượng, mẫu mã và giá cả ( ví dụ thị trường sản phẩm ngành dệt, thị
trường sản phẩm ngành giày dép ).
Thực tế trong nền KTTT, thì cạnh tranh mang tính mâu thuẫn, nó vừa là động
lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa là yếu tố kìm hãm, sự phá sản, tình trạng
13
thất nghiệp, sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng và các bộ phận dân cư, và
nhất là không thể tránh khỏi những tệ nạn xã hội do mặt trái của KTTT gây ra.
Thực tế cho thấy, sản phẩm hàng ngoại tràn lan trên thị trường Việt nam, lấn áp
hoàn toàn hàng hoá trong nước. Nguyên nhân chủ yếu, đó là do sức cạnh tranh
của nước ta còn yếu, tâm lý người dân muốn dùng hàng ngoại. Mặc dù hàng
ngoại bán trên thị trường có thể đắt hơn so với giá trị thực của nó, song những
người mua hàng luôn có suy nghĩ rằng giữa hàng ngoại và hàng trong nước luôn
có sự khác nhau cả về chất lượng lẫn mẫu mã của sản phẩm. Một số doanh
nghiệp nhà nước bị phá sản, phải đóng cửa vì không đủ sức để có thể cạnh tranh
được trên thị trường. Hàng hoá trong nước không được ưa chuộng, do mẫu mã
cũng như chất lượng sản phẩm không thể cạnh tranh được với hàng ngoại được
sản xuất với dây truyền công nghệ hiện đại.

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét