Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
lãnh. Nhưng ngân hàng, người cung cấp dịch vụ và cam kết thanh toán có
hai mối quan hệ với hai đối tượng khác nhau và phải hành động mang tính
độc lập trên cơ sở quyền và nghĩa vụ của từng hợp đồng.
Như vậy bảo lãnh ngân hàng mang tính chất độc lập và tách biệt trong
quan hệ hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng. Mặc dù nội
dung thư bảo lãnh được xây dựng trên nền tảng của hợp đồng cơ sở nhưng về
mặt pháp lý, thư bảo lãnh tách rời khỏi cơ sở hình thành nó.
Tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng thể hiện rõ nhất ở trách nhiệm
thanh toán của ngân hàng phát hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với
mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người được bảo lãnh. Khi các điều
kiện bảo lãnh của ngân hàng được tuân thủ thì ngân hàng không thể viện dẫn
bất cứ lý do khách quan hay chủ quan nào để từ chối hay trì hoãn việc thanh
toán. Trách nhiệm này đòi hỏi ngân hàng phải thực sự cân nhắc và thận trọng
trước khi ra quyết định cung cấp bảo lãnh cho một khách hàng nào đó.
Nhưng vấn đề mà người được bảo lãnh gặp phải và những tranh chấp
phát sinh từ hợp đồng cơ sở không ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của ngân
hàng bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh phải chuyền tiền từ tài khoản của người
được bảo lãnh trên cơ sở đòi tiền hợp lệ của người thụ hưởng hoặc quyền
được đòi hoàn trả từ người được bảo lãnh nếu ngân hàng trả tiền từ tài khoản
của ngân hàng. Nghĩa vụ của người được bảo lãnh cũng được xác định rất rõ:
uỷ quyền đầy đủ cho ngân hàng bảo lãnh trích tài khoản của mình thanh toán
cho người thụ hưởng, hoặc hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã thanh toán trước
theo bảo lãnh. Cho dù người được bảo lãnh phá sản hoặc mất khả năng chi trả
thì ngân hàng vẫn phải thanh toán cho người thụ hưởng theo đúng điều khoản
của bảo lãnh. Ngay cả khi có tranh chấp của hai bên, ngân hàng vẫn không có
quyền ngưng thanh toán. Người được bảo lãnh do đó sẽ hoàn tiền theo
nguyên tắc” thanh toán trước, khiếu kiện sau”. Người được bảo lãnh có quyền
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
khiếu nại nếu bị đối xử không công bằng và bị lạm dụng. Toà sẽ xem xét
và quyết định, lúc này người yêu cầu được bảo lãnh mới có cơ hội được bù
đắp tổn thất do sự lạm dụng của người thụ hưởng.
Nghĩa vụ của ngân hàng là phải thanh toán cho người thụ hưởng khi
nhận được yêu cầu đòi tiền kèm các chứng từ theo đúng các điều khoản của
bảo lãnh. Chính vì vậy, tính độc lập của bảo lãnh phụ thuộc vào các điều kiện
của bảo lãnh. Ví dụ, nếu bảo lãnh quy định việc thanh toán là theo văn bản
yêu cầu của người thụ hưởng thì người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh
toán mà không cần một điều kiện nào ngoài văn bản yêu cầu. Ngân hàng phát
hành bảo lãnh phải thanh toán và người được bảo lãnh phải bồi hoàn cho ngân
hàng. Khi đó tính độc lập gần như tuyệt đối.
Ngược lại nếu bảo lãnh quy định xuất trình chứng từ của phía thứ ba
như chứng thực của cơ quan độc lập, về sự vi phạm của đối tác, quyết định
của trọng tài thậm chí phán quyết của tòa án hay văn bản của người được bảo
lãnh thì tính độc lập của giao dịch bảo lãnh cũng sẽ bị giảm sút. Tính độc lập
đem lại nhiều ưu đãi thuận lợi cho người nhận bảo lãnh nên nó được sử dụng
nhiều trong thực tế.
1.1.2 Vai trò của hoạt động bảo lãnh
Hiện nay bảo lãnh đã phát triển rộng rãi trên hầu hết các lĩnh vực. Có
thể khẳng định rằng những thương vụ có giá trị lớn về mặt tài chính và phức
tạp về mặt kỹ thuật, đặc biệt là có đối tác nước ngoài tham gia thì không thể
không có một hình thức bảo lãnh nào đó đi kèm. Bảo lãnh không chỉ hỗ trợ
cho các hợp đồng thương mại mà cả các giao dịch phi thương mại, tài chính
cũng như phi tài chính. Bảo lãnh không chỉ là một hoạt động tạo sự phát triển
của ngân hàng mà còn có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp nói
riêng và với tất cả nền kinh tế nói chung. Sau đây là vai trò của bảo lãnh đối
với ngân hàng, đối với nền kinh tế, đối với doanh nghiệp.
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
1.1.2.1 Đối với ngân hàng
Trước hết đối với ngân hàng, bảo lãnh là một trong các dịch vụ mà ngân
hàng cung cấp cho nền kinh tế. Đồng thời bảo lãnh đem lại lợi ích trực tiếp
cho ngân hàng thông qua phí bảo lãnh. Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận
ngân hàng một khoản không nhỏ, nó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch
vụ của các ngân hàng hiện nay. Một ưu điểm của bảo lãnh ngân hàng là
không phải chi phí huy động như cho vay, không mất chi phí cơ hội cho mục
đích kinh doanh khác, và khi thực hiện bảo lãnh cho khách hàng thì chắc chắn
thu được phí bảo lãnh. Ngoài ra, khách hàng muốn được ngân hàng bảo lãnh
cho mình cần phải kí quỹ bảo lãnh, ngân hàng sẽ giữ số tiền này trong suốt
thời gian bảo lãnh. Đối với ngân hàng thì đây là nguồn vốn không phải trả lãi
và tương đối ổn định.
Và bên cạnh đó thì nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng còn góp phần không
nhỏ trong việc mở rộng quan hệ của ngân hàng với khách hàng. Sự ra đời của
nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đã hoàn thiện khả năng đáp ứng các nhu cầu
của khách hàng, đa dạng hoá hoạt động kinh doanh cũng như gia tăng nguồn
vốn thông qua việc mở rộng các quan hệ thanh toán, các tài khoản giao dịch.
Nghiệp vụ bảo lãnh hỗ trợ các hình thức thanh toán của ngân hàng như thanh
toán quốc tế (bảo lãnh hối phiếu, bảo lãnh L/C trả chậm…). Bảo lãnh cũng
làm nâng cao uy tín và tăng cường quan hệ của ngân hàng trên thị trường đặc
biệt là thị trường quốc tế. Thông qua bảo lãnh ngân hàng tạo được thế mạnh,
uy tín giúp tăng khách hàng và lợi nhuận.
1.1.2.2 Đối với doanh nghiệp
Đó là vai trò của bảo lãnh đối với bên được bảo lãnh và bên hưởng bảo
lãnh mà ta đã trình bày trong sự ra đời của bảo lãnh. Bên cạnh đó, với chức
năng đôn đốc hoàn thành hợp đồng thì bảo lãnh thúc đẩy các doanh nghiệp
làm ăn nghiêm túc hơn, có trách nhiệm hơn và thực hiện hợp đồng đúng quy
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
định hơn. Mặt khác đối với các doanh nghiệp khi được ngân hàng bảo lãnh
thì phải chịu phí bảo lãnh, đó là một khoản chi phí của doanh nghiệp do đó
đòi hỏi các doanh nghiệp phải có biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đồng
vốn một cách tối đa từ đó sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động chung của doanh
nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
1.1.2.3 Đối với nền kinh tế
Sự tồn tại của bảo lãnh ngân hàng là một khách quan đối với nền kinh
tế, đáp ứng cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nó tồn tại được như vậy là
do vai trò to lớn của nó với nền kinh tế. Hoạt động bảo lãnh ngân hàng tạo
điều kiện thúc đẩy sản xuất, hỗ trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, các khu
vực trọng điểm phát triển và ngành kinh tế kém phát triển. Thông qua các
chính sách ngân hàng như mở rộng bảo lãnh cho vay vốn nước ngoài, hạn
mức bảo lãnh, … có thể tăng năng lực sản xuất, khuyến khích các ngành này
phát triển, gia tăng đầu tư vào các lĩnh vực then chốt trong nền kinh tế.
Ngoài ra bảo lãnh ngân hàng có vai trò như chất xúc tác đối với các hợp
đồng kinh tế. Nhờ có bảo lãnh mà các bên có thể yên tâm ký kết và có trách
nhiệm với hợp đồng mình đã ký kết. Bảo lãnh đem lại lợi ích cho tất cả các
bên tham gia và là công cụ thúc đẩy trao đổi buôn bán giữa các bên do đó có
tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế.
Bảo lãnh ngân hàng còn có vai trò rất quan trọng đối với việc đáp ứng
nhu cầu vốn cho các chủ thể kinh tế. Các đơn vị kinh tế có thể dễ dàng trong
vịêc tìm kiếm những nguồn vốn rẻ cả trong và ngoài nước khi có được sự bảo
lãnh của ngân hàng. Điều này còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn đối với
nền kinh tế Việt Nam. Với đặc điểm đang phát triển theo hướng kinh tế thị
trường, nghiệp vụ bảo lãnh thúc đẩy quá trình chu chuyển vốn trong nền kinh
tế, góp phần tăng tổng sản phẩm quốc dân. Bảo lãnh giúp tạo dựng uy tín cho
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
các doanh nghiệp Việt Nam, giúp cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường
ra nước ngoài, tăng vị thế của hàng Việt Nam.
Bảo lãnh ngân hàng cũng là một trong những giải pháp để phòng chống
rủi ro có hiệu quả và được sử dụng phố biến trong các hoạt động tín dụng, xây
dựng và thương mại. Do đó với bảo lãnh ngân hàng, nền kinh tế có điều kiện
để phát triển một cách ổn định và an toàn hơn.
Và thực tế đã chứng minh nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng ngày càng mở
rộng và phát triển, nó đã thể hiện sự cần thiết cũng như vai trò và tác dụng
hữu hiệu không chỉ từng doanh nghiệp mà còn cả nền kinh tế một nước và
nền kinh tế thế giới.
1.2 Các hình thức bảo lãnh Ngân hàng
1.2.1 Căn cứ vào phương thức phát hành
1.2.1.1 Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh trực tiếp là một bảo lãnh ngân hàng trong đó ngân hàng phát
hành chịu trách nhiệm trực tiếp với bên thụ hưởng, bên được bảo lãnh chịu
trách nhiệm trực tiếp với ngân hàng phát hành.
Như vậy trong bảo lãnh trực tiếp gồm có : Hợp đồng thương mại giữa
bên thụ hưởng và bên được bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh giữa ngân hàng phát
hành và bên được bảo lãnh, cam kết bảo lãnh do ngân hàng phát hành gửi cho
bên thụ hưởng.
Sơ đồ 1.1: Bảo lãnh trực tiếp
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
(3)
(2) (1)
Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh trực tiếp:
(1) Người mua và người bán thoả thuận ký kết hợp đồng mua-bán trong
đó có điều kiện yêu cầu người mua phải có bảo lãnh thanh toán cho người bán;
(2) Người mua gửi "Đơn đề nghị phát hành bảo lãnh", đề nghị ngân
hàng của mình phát hành một bảo lãnh theo mẫu hay theo những điều khoản
đã thoả thuận với người bán;
(3) Ngân hàng của người mua gửi "Cam kết bảo lãnh" cho người bán
nêu lên những điều kiện và phạm vi bảo lãnh;
Ưu điểm của hình thức bảo lãnh này là loại bảo lãnh đơn giản nhất và
người xin bảo lãnh thì không phải mất phí hoa hồng cho bên ngân hàng đại lý.
Bảo lãnh này thường được sử dụng trong các quan hệ kinh tế trong nước và
chịu sự điều chỉnh của luật hoặc các quy định về bảo lãnh của nước mà ngân
hàng bảo lãnh trực thuộc. Nhưng hạn chế trong các quan hệ kinh tế, ngoại
giao với nước ngoài.
1.2.1.2 Bảo lãnh gián tiếp
Khác với bảo lãnh trực tiếp, vì một lý do nào đó, người bán không tin
tưởng vào khả năng tài chính của ngân hàng của người mua. Người bán yêu
cầu bảo lãnh thanh toán phải được phát hành bởi một ngân hàng ở nước của
người bán, và do người bán chỉ định, vì vậy mà xuất hiện bảo lãnh gián tiếp.
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
NH phát hành
(NH của người mua)
Bên thụ hưởng
(Người bán)
Bên được bảo lãnh
(Người mua)
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
Như vậy bảo lãnh gián tiếp là bảo lãnh mà trong đó ngân hàng bảo
lãnh đã phát hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ
cho người được bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác (bảo lãnh đối ứng).
Bảo lã đối ứng là một cam kết của ngân hàng trung gian thanh toán cho
ngân hàng phát hành bảo lãnh khi mà ngân hàng phát hành thực hiện đúng
những điều khoản được quy định trong bảo lãnh đối ứng.
Sơ đồ 1.2: Bảo lãnh gián tiếp
(4)
(3) (1)
(2)
Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh gián tiếp:
(1) Người mua và người bán thoả thuận ký kết hợp đồng mua-bán trong
đó có điều kiện yêu cầu người mua phải có bảo lãnh thanh toán cho người
bán và bảo lãnh phải do ngân hàng mà người bán chỉ định phát hành;
(2) Người mua đề nghị ngân hàng của mình (NHB) chỉ thị cho ngân
hàng mà người bán chỉ định phát hành một bảo lãnh theo mẫu hay theo những
điều khoản và điều kiện đã thoả thuận với người bán. Người mua có thể sẽ
phải ký quỹ hoặc hay thế chấp tài sản của mình theo yêu cầu của NHB để
được thực hiện đề nghị trên;
(3) NHB phát hành bảo lãnh đối ứng gồm những nội dung như đề nghị
của người mua và đề nghị NHA phát hành thư bảo lãnh cho bên thụ hưởng.
NHA nhận được bảo lãnh đối ứng từ NHB và nội dung đề nghị phát hành thư
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
NH phát hành
(NH A)
Bên thụ hưởng
(Người bán)
NH chỉ dẫn
(NH B)
Bên được bảo lãnh
(Người mua)
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
bảo lãnh. Bảo lãnh đối ứng là một cam kết của NHB thanh toán cho NHA
(Bên thụ hưởng của bảo lãnh đối ứng) khi NHA thực hiện đúng những điều
khoản được quy định trong bảo lãnh đối ứng;
(4) NHA gửi thư bảo lãnh cho bên thụ hưởng. NHA cam kết thanh toán
cho Bên thụ hưởng nếu bên thụ hưởng xuất trình những chứng từ theo yêu
cầu trong thư bảo lãnh;
Trong bảo lãnh gián tiếp thì người thụ hưởng hoàn toàn không có quyền
yêu cầu ngân hàng trung gian thanh toán bảo lãnh. Giữa ngân hàng trung gian
và người thụ hưởng hoàn toàn không có quan hệ gì hay nói cách khác ngân
hàng trung gian không có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng. Tương tự
như vậy thì ngân hàng phát hành bảo lãnh hoàn toàn không có quyền yêu cầu
người được bảo lãnh bồi hoàn. Chỉ có trung gian mới có nghĩa vụ bồi hoàn
cho ngân hàng phát hành theo bảo lãnh đối ứng.
Với bảo lãnh gián tiếp người được bảo lãnh thường phải chịu chi phí
bảo lãnh cao hơn so với bảo lãnh trực tiếp.
1.2.1.3 Bảo lãnh được xác nhận
Khác với bảo lãnh gián tiếp, bảo lãnh được xác nhận có một ngân hàng
phát hành và một ngân hàng xác nhận. Bên thụ hưởng có thể muốn một ngân
hàng trong nước có quan hệ với mình xác nhận một bảo lãnh do một ngân hàng
nước ngoài phát hành. Loại bảo lãnh này rất ít xảy ra vì nếu không tin tưởng
vào khả năng tài chính của ngân hàng phát hành thì bên thụ hưởng có thể yêu
cầu bảo lãnh gián tiếp.
Sơ đồ 1.3: Bảo lãnh được xác nhận
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
(3)
(2) (4)
(1)
Quy trình bảo lãnh được xác nhận
(1) Người mua và người bán thoả thuận ký kết hợp đồng mua-bán trong
đó có điều kiện yêu cầu người mua phải có bảo lãnh thanh toán cho người bán
và bảo lãnh phải được xác nhận bởi ngân hàng mà người bán chỉ định;
(2) Người mua đề nghị ngân hàng của mình phát hành một bảo lãnh
theo mẫu hay theo những điều khoản đã thoả thuận với người bán;
(3) Ngân hàng phát hành bảo lãnh gửi thư bảo lãnh sang ngân hàng xác
nhận,yêu cầu xác nhận khả năng tài chính của ngân hàng phát hành. Để được xác
nhận bảo lãnh thì ngân hàng phát hành có thể phải mở một tài khoản ký quỹ tại
ngân hàng xác nhận hoặc phát hành một bảo lãnh cam kết thanh toán cho ngân
hàng xác nhận trong trường hợp ngân hàng xác nhận phải thanh toán bảo lãnh;
(4) Ngân hàng xác nhận gửi bảo lãnh do ngân hàng phát hành phát
hành đã được xác nhận cho bên thụ hưởng và cam kết thanh toán trong trường
hợp ngân hàng phát hành không có khả năng chi trả;
1.2.1.4 Đồng bảo lãnh
Trong một số dự án có giá trị bảo lãnh lớn, để giảm thiểu rủi ro các ngân
hàng có thể thực hiện đồng bảo lãnh. Trường hợp này một ngân hàng đóng
vai trò đầu mối phát hành bảo lãnh nhưng có sự tham gia của các ngân hàng
khác. Nếu chi trả cho người thụ hưởng theo bảo lãnh đã lập, ngân hàng chính
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
NH phát hành
(NH của người
mua)
NH xác nhận
Bên được bảo lãnh
(Người mua)
Bên thụ hưởng
(Người bán)
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD:TS Đặng Ngọc Đức
có thể đòi bồi hoàn từ các ngân hàng cùng tham gia đồng bảo lãnh theo tỉ lệ
tham gia của họ, dựa trên các bảo lãnh đối ứng do các ngân hàng này phát
hành. Đến lượt mình, các ngân hàng này lại tiến hành truy đòi từ người được
bảo lãnh.
Sơ đồ 1.4: Đồng bảo lãnh
Quy trình bảo lãnh được xác nhận
(1) Hợp đồng gốc
(2) Người được bảo lãnh yêu cầu phát hành bảo lãnh
(3) Ngân hàng dàn xếp đồng bảo lãnh cùng với các ngân hàng đồng
minh
(4a,4b) Ngân hàng chính phát hành bảo lãnh cho người thụ hưởng,
chuyển trực tiếp hoặc qua ngân hàng thông báo.
1.2.2 Căn cứ vào mục đích
Bảo lãnh ngân hàng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, theo
mục đích bao gồm các loại bảo lãnh sau:
1.2.2.1 Bảo lãnh vay vốn
Bảo lãnh vay vốn là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng phát
Hà Văn Chiến Lớp Ngân hàng 45B
Ngân hàng 1
Ngân hàng 3
Ngân hàng 2
Ngân hàng phát hành
Người được bảo lãnh
Ngân hàng thông báo
Người thụ hưởng bảo
lãnh
3
2
1
4b
4b
4a
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét