LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hoàn thiện hạch toán nguyên vật liệu tại công ty xây dựng dân dụng hà nội": http://123doc.vn/document/1053184-hoan-thien-hach-toan-nguyen-vat-lieu-tai-cong-ty-xay-dung-dan-dung-ha-noi.htm
liệu chỉ được phép hao hụt trong định mức. Bên cạnh đó, quá trình thu mua
cũng cần được quản lý chặt chẽ về mặt thời gian, tiến độ thực hiện.
Trong quá trình bảo quản, để bảo quản tốt nguyên vật liệu, giảm thiểu
hư hao, mất mát, các doanh nghiệp cần có hệ thống kho đủ tiêu chuẩn, đảm
bảo cả về số lượng, chất lượng và giá trị của nguyên vật liệu. Doanh nghiệp
cần bố trí thủ kho có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ để quản lý nguyên vật
liệu và thực hiện các nghiệp vụ nhập, xuất kho, tránh việc bố trí kiêm nhiệm
chức năng thủ kho với tiếp liệu và kế toán vật tư.
Trong khâu sử dụng, cần tổ chức tốt việc ghi chép nhằm phản ánh
chính xác tình hình xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu. Trên cơ sở đó, so
sánh với giá thành kế hoạch để đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu. Từ
đó, tìm biện pháp sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên vật liệu.
Trong dự trữ nguyên vật liệu, đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán chính
xác giá thành kế hoạch trên cơ sở giá thành dự toán, từ đó xác định lượng
nguyên vật liệu cần thiết cho mỗi công trình và dự trữ đầy đủ. Tuy nhiên, cần
nói rõ hơn về vấn đề dự trữ như sau: trong các doanh nghiệp xây lắp, các công
trình ở rải rác các nơi nên doanh nghiệp không thể tiến hành dự trữ nguyên
vật liệu vì chi phí bảo quản và vận chuyển quá lớn. Doanh nghiệp chỉ dự trữ
tại kho công trình đảm bảo việc thi công chính công trình đó được diễn ra liên
tục, không bị ngừng do thiếu nguyên vật liệu.
Với cách thức quản lý nguyên vật liệu như vậy, doanh nghiệp sẽ có đầy
đủ thông tin về giá trị, hiện vật của từng loại khi cần.
1.1.3.Vai trò và nhiệm vụ hạch toán nguyên vật liệu.
Hạch toán nguyên vật liệu là việc ghi chép, phản ánh đầy đủ tình hình
thu mua, nhập, xuất và dự trữ nguyên vật liệu lên sổ sách kế toán. Thông qua
tài liệu kế toán nguyên vật liệu, nhà quản lý có thể có được những thông tin
cần thiết về nguyên vật liệu như: vật liệu có đảm bảo chất lượng không, thừa
hay thiếu so với nhu cầu sản xuất, nguồn cung cấp nào tốt, Những thông tin
này giúp cho nhà quản lý có những quyết sách đúng đắn, kịp thời, phù hợp
với thực tế, đảm bảo yêu cầu quản lý nguyên vật liệu.
Như vậy, hạch toán nguyên vật liệu có vai trò quan trọng trong quản lý
và sử dụng nguyên vật liệu. Để phát huy được vai trò đó đòi hỏi công tác hạch
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
5
Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn tốt nghiệp
toán nguyên vật liệu phải đảm bảo những yêu cầu nhất định về quản lý và cần
thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế
toán hàng tồn kho, phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu.
- Ghi chép, tính toán, phản ánh trung thực, chính xác, kịp thời số lượng,
chất lượng và giá thành thực tế của nguyên vật liệu nhập kho.
- Tập hợp và phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời số lượng và giá trị
nguyên vật liệu xuất kho, kiểm tra tình hình chấp hành các định mức tiêu hao
nguyên vật liệu.
- Phân bổ hợp lý giá trị nguyên vật liệu sử dụng vào các đối tượng.
- Tính toán và phản ánh chính xác số lượng và giá trị nguyên vật liệu
tồn kho, phát hiện kịp thời nguyên vật liệu thừa, thiếu, kém phẩm chất, có
biện pháp xử lý kịp thời.
- Thực hiện việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thu
mua, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu.
1.2. Phân loại và tính giá nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp.
1.2.1. Phân loại nguyên vật liệu.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, nguyên vật liệu có nhiều loại, nhiều
thứ có vai trò, công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất thi công. Trong
thực tế công tác quản lý và hạch toán ở các doanh nghiệp, đặc trưng dùng để
phân loại nguyên vật liệu thông dụng nhất là vai trò và tác dụng của nguyên
vật liệu trong quá trình sản xuất thi công. Theo đặc trưng này, nguyên vật liệu
được phân ra các loại như sau:
- Nguyên liệu và vật liệu chính (NVLC): Là nguyên liệu, vật liệu mà
sau quá trình sản xuất thi công sẽ cấu thành nên hình thái vật chất của sản
phẩm. Danh từ nguyên liệu ở đây dùng để chỉ đối tượng lao động chưa qua
chế biến công nghiệp.
- Nhiên liệu là những thứ dùng để tạo ra nhiệt năng như than đá, than
bùn, củi, xăng, dầu,…Nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một loại
vật liệu phụ nhưng được tách ra thành một loại riêng vì việc sản xuất và tiêu
dùng nhiên liệu chiếm một tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
6
Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn tốt nghiệp
kinh tế quốc dân. Nhiên liệu cũng có yêu cầu và kỹ thuật quản lý hoàn toàn
khác với các loại vật liệu phụ thông thường.
- Vật liệu phụ là những vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình sản
xuất kinh doanh, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để hoàn thiện và
nâng cao tính năng, chất lượng của sản phẩm hoặc được sử dụng để đảm bảo
cho công cụ lao động hoạt động bình thường, hoặc dùng để phục vụ cho nhu
cầu kỹ thuật, nhu cầu quản lý.
- Phụ tùng thay thế là loại vật tư được sử dụng cho hoạt động sửa chữa,
bảo dưỡng TSCĐ.
- Thiết bị và vật liệu xây dựng cơ bản là các loại thiết bị, vật liệu phục
vụ cho hoạt động xây lắp, xây dựng cơ bản.
- Vật liệu khác là các loại vật liệu đặc chủng của từng doanh nghiệp
hoặc phế liệu thu hồi.
Hạch toán theo cách phân loại nói trên đáp ứng được yêu cầu phản ánh
tổng quát về mặt giá trị đối với mỗi loại nguyên vật liệu, giúp cho doanh
nghiệp tổ chức tài khoản chi tiết dễ dàng hơn trong việc quản lý và hạch toán
vật liệu. Tuy nhiên, do quá trình sản xuất cụ thể được tiến hành ở các doanh
nghiệp khác nhau nên việc phân loại vật liệu như trên chỉ mang tính chất
tương đối.
Phân loại theo nguồn hình thành: Bao gồm nguyên vật liệu nhập mua
ngoài, gia công chế biến, nhận góp vốn. Phân loại nguyên vật liệu theo cách
này cho biết nguồn nhập vật liệu là từ nguồn nào, từ đó giúp cho công tác tính
giá nguyên vật liệu được chính xác hơn.
Phân loại theo quyền sở hữu: Bao gồm vật liệu của doanh nghiệp, vật
liệu giữ hộ, vật liệu nhận gia công chế biến. Cách phân loại này cho biết vật
liệu nào thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, vật liệu nào không thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp.
Phân loại theo các nhu cầu khác nhau: Bao gồm nguyên vật liệu
phục vụ cho công tác quản lý, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, nguyên vật
liệu phục vụ công tác bán hàng. Phân loại theo cách này giúp cho doanh
nghiệp quản lý nguyên vật liệu theo từng nơi sử dụng, từ đó giúp cho việc
phân bổ nguyên vật liệu được chính xác.
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
7
Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn tốt nghiệp
1.2.2. Tính giá nguyên vật liệu.
Tính giá nguyên vật liệu là việc xác định giá trị của chúng theo những
nguyên tắc nhất định. Thông qua việc tính giá mới có thể tính đúng, tính đủ
chi phí nguyên vật liệu vào giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả quản lý và
sử dụng nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu được đánh giá theo nguyên tắc giá phí. Nguyên tắc này
đòi hỏi tất cả các loại nguyên vật liệu hiện có ở doanh nghiệp phải được phản
ánh trong sổ sách kế toán và báo cáo kế toán theo trị giá vốn thực tế tức là
toàn bộ số tiền doanh nghiệp bỏ ra để có được nguyên vật liệu đó.
*Tính giá nguyên vật liệu nhập kho.
Giá thực tế của NVL là loại giá được hình thành trên cơ sở các chứng
từ hợp lệ chứng minh các khoản chi hợp pháp của doanh nghiệp để tạo ra
NVL. Giá thực tế của NVL nhập kho được xác định tuỳ từng nguồn nhập.
- Với vật liệu mua ngoài:
Giá thực tế
của NVL
=
Giá mua ghi
trên hoá đơn
+
Chi phí
thu mua
-
Hao hụt được
bồi thường
Trong đó, giá mua ghi trên hoá đơn là giá mua không có thuế giá trị gia
tăng (GTGT) đối với doanh nghiệp tính giá theo phương pháp khấu trừ, và là
giá bao gồm thuế GTGT đối với doanh nghiệp tính giá theo phương pháp trực
tiếp.
Chi phí thu mua bao gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản từ nơi
mua đến kho của doanh nghiệp, chi phí thuê kho bãi trung gian, công tác phí
của cán bộ thu mua, các khoản thuế, lệ phí phải nộp phát sinh trong quá trình
thu mua và hao hụt trong định mức được phép tính vào giá vật liệu.( Cũng
được xác định trên cơ sở phương pháp tính thuế GTGT mà doanh nghiệp
chọn.)
- Với vật liệu tự chế:
Giá thực tế
NVL
=
Trị giá thực tế
NVL xuất kho
+
Chi phí gia
công chế biến
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
8
Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Chi phí gia công chế biến bao gồm các khoản chi phí thực tế mà doanh
nghiệp đã chi ra để chế biến vật liệu.
- Với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Giá thực tế nhập kho là giá
thực tế của vật liệu xuất thuê ngoài gia công cộng với chi phí bốc dỡ, vận
chuyển đến nơi thuê gia công và từ nơi đó về doanh nghiệp, cộng tiền thuê
ngoài gia công.
- Với vật liệu được góp vốn liên doanh: Giá thực tế của NVL là giá trị
NVL được các bên tham gia góp vốn thừa nhận.
- Với vật liệu vay mượn tạm thời của đơn vị khác thì giá thực tế nhập
kho được tính theo giá thị trường hiện tại của số NVL đó.
- Với phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh
nghiệp thì giá thực tế được tính theo đánh giá thực tế hoặc theo giá bán trên
thị trường.
*Tính giá nguyên vật liệu xuất kho.
Để xác định giá thực tế ghi sổ của nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ,
tuỳ theo đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lý và trình
độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, có thể sử dụng một trong các phương pháp
sau đây:
o Phương pháp giá thực tế đích danh.
o Phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO).
o Phương pháp nhập sau - xuất trước (LIFO).
o Phương pháp giá bình quân.
o Phương pháp giá hạch toán.
Phương pháp giá thực tế đích danh.
Theo phương pháp này, vật liệu xuất kho sẽ được sử dụng giá nhập để
xác định (nhập giá nào xuất theo giá đó). Vật liệu sẽ được quản lý riêng cả về
hiện vật và giá trị theo từng lô, từng lần nhập. Xuất vật tư của lô nào sẽ tính
theo giá thực tế của lô đó. Phương pháp giá thực tế đích danh thường sử dụng
trong các doanh nghiệp có ít loại vật liệu hoặc vật liệu ổn định, có tính tách
biệt và nhận diện được. Đối với những doanh nghiệp có nhiều loại NVL với
số lượng lớn thì không nên áp dụng phương pháp này.
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
9
Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Phương pháp này có ưu điểm là công tác tính giá NVL được thực hiện
kịp thời và thông qua việc tính giá NVL xuất kho, kế toán có thể theo dõi
được thời hạn bảo quản của từng lô NVL.
Tuy nhiên, để áp dụng được phương pháp này, thì điều kiện cốt yếu là
hệ thống kho tàng của doanh nghiệp cho phép bảo quản riêng từng lô NVL
nhập kho.
Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO).
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số nguyên vật liệu nào nhập
trước thì xuất trước, xuất hết đợt nhập trước mới đến đợt nhập sau theo giá
thực tế của từng đợt hàng nhập. Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là
giá thực tế của nguyên vật liệu và giá mua thực tế của nguyên vật liệu nhập
kho trước sẽ được sử dụng làm giá để tính giá thực tế của nguyên vật liệu xuất
trước. Và do vậy, giá trị nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của
số nguyên vật liệu nhập kho sau cùng.
Phương pháp này có ưu điểm là nó gần đúng với luồng nhập - xuất
NVL trong thực tế. Không kể trường hợp đặc biệt, việc nhập - xuất NVL
trong thực tế gần như là nhập trước - xuất trước. Hơn thế nữa, trong trường
hợp NVL được quản lý theo đúng hình thức nhập trước - xuất trước, phương
pháp này sẽ gần với phương pháp giá thực tế đích danh, do đó sẽ phản ánh
tương đối chính xác giá trị NVL tồn kho và xuất kho. Tuy nhiên nhược điểm
của phương pháp nhập trước - xuất trước là phải tính giá theo từng danh điểm
NVL và phải hạch toán chi tiết NVL tồn kho theo từng loại giá nên tốn nhiều
công sức. Phương pháp nhập trước - xuất trước chỉ thích hợp với những
doanh nghiệp có ít danh điểm NVL, số lần nhập kho của mỗi danh điểm
không nhiều
Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO).
Phương pháp này giả định lô nguyên vật liệu nào nhập sau sẽ được xuất
trước, xuất hết đợt nhập sau mới sử dụng đến đợt nhập trước đó. Xuất của đợt
nhập nào thì lấy theo giá nhập của đợt nhập đó.
Về cơ bản ưu, nhược điểm và điều kiện vận dụng của phương pháp
nhập sau - xuất trước cũng giống như phương pháp nhập trước - xuất trước,
nhưng sử dụng phương pháp nhập sau - xuất trước giúp cho chi phí kinh
doanh của doanh nghiệp phản ứng kịp thời với giá cả thị trường của NVL.
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
10
Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Phương pháp giá bình quân.
Theo phương pháp này, căn cứ vào giá thực tế của NVL tồn đầu kỳ và
nhập trong kỳ, kế toán xác định được giá bình quân của một đơn vị NVL, căn
cứ vào lượng NVL xuất trong kỳ và giá đơn vị bình quân để xác định giá thực
tế NVL xuất trong kỳ.
Giá thực tế của
NVL xuất kho
=
Số lượng NVL
xuất kho
x
Đơn giá
bình quân
Trong đó, đơn giá bình quân có thể tính theo một trong ba cách sau:
+Theo đơn giá bình quân cả kỳ dự trữ:
Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít danh điểm
NVL nhưng số lần nhập, xuất của mỗi danh điểm nhiều.
Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ có ưu điểm là giảm nhẹ
được việc hạch toán chi tiết NVL so với phương pháp nhập trước - xuất trước
và nhập sau - xuất trước, không phụ thuộc vào số lần nhập, xuất của từng
danh điểm NVL.
Nhược điểm của phương pháp này là dồn công việc tính giá NVL xuất
kho vào cuối kỳ hạch toán nên ảnh hưởng đến tiến độ của các khâu kế toán
khác, đồng thời sử dụng phương pháp này cũng phải tiến hành tính giá theo
từng danh điểm NVL.
+Theo đơn giá bình quân cuối kỳ trước.
Theo phương pháp này, kế toán xác định giá đơn vị bình quân dựa trên
giá thực tế và lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước. Dựa vào giá đơn vị bình
quân nói trên và lượng NVL xuất kho trong kỳ để kế toán xác định giá thực tế
NVL xuất kho theo từng danh điểm.
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
11
Đơn giá bq
cả kỳ dự trữ
Giá thực tế của NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Số lượng của NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Đơn giá bq
cuối kỳ trước
Giá thực tế NVL tồn kho cuối kỳ trước
Số lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước
Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Phương pháp này cho phép giảm nhẹ khối lượng tính toán của kế toán,
nhưng độ chính xác của công việc tính giá phụ thuộc vào tình hình biến động
giá cả NVL, trường hợp giá cả thị trường NVL có sự biến động lớn thì việc
tính giá NVL xuất kho theo phương pháp này trở nên thiếu chính xác và có
trường hợp gây ra bất hợp lý (tồn kho âm).
+Theo đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập:
Trong phương pháp này, sau mỗi lần nhập kế toán phải xác định giá
bình quân của từng danh điểm NVL. Căn cứ vào giá đơn vị bình quân và
lượng NVL xuất kho giữa hai lần nhập kế tiếp để kế toán xác định giá thực tế
NVL xuất kho.
Phương pháp này cho phép kế toán tính giá NVL xuất kho kịp thời
nhưng khối lượng công việc tính toán nhiều và phải tiến hành tính giá theo
từng danh điểm NVL.
Phương pháp này chỉ sử dụng được ở những doanh nghiệp có ít danh
điểm NVL và số lần nhập của mỗi loại không nhiều.
Phương pháp giá hạch toán.
Ngoài các phương pháp cơ bản trên, trong thực tế công tác kế toán, để
giảm nhẹ việc ghi chép cũng như để bảo đảm tính kịp thời của thông tin kế
toán, để tính giá thực tế của vật liệu xuất dùng, kế toán còn sử dụng phương
pháp giá hạch toán. Theo phương pháp này, toàn bộ nguyên vật liệu biến
động trong kỳ được tính theo giá hạch toán (giá kế hoạch hoặc một loại giá ổn
định trong kỳ). Cuối kỳ, kế toán sẽ tiến hành điều chỉnh từ giá hạch toán sang
giá thực tế theo công thức:
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
12
Gía thực tế của
NVL nhập kho
trước đợt nhập đó
+
Giá thực tế của
NVL nhập kho
thuộc đợt nhập đó
Số lượng NVL tồn
kho trước đợt
nhập đó
+
Số lượng NVL
nhập kho thuộc
đợt nhập đó
Đơn giá bq
sau mỗi lần
nhập
Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Giá thực tế của
NVL xuất kho
=
Giá hạch toán
NVL xuất kho
x Hệ số giá
Trong đó:
Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại vật liệu, giá cả thường xuyên
biến động, nghiệp vụ nhập - xuất vật liệu diễn ra thường xuyên thì việc hạch
toán theo giá thực tế trở nên phức tạp, tốn nhiều công sức và nhiều khi không
thực hiện được. Do đó, việc hạch toán hàng ngày nên sử dụng giá hạch toán.
Phương pháp hệ số giá cho phép kết hợp chặt chẽ hạch toán chi tiết và
hạch toán tổng hợp về NVL trong công tác tính giá, nên công việc tính giá
được tiến hành nhanh chóng và không bị phụ thuộc vào số lượng danh điểm
NVL, số lần nhập, xuất của mỗi loại nhiều hay ít.
1.3. Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp xây lắp.
1.3.1. Chứng từ kế toán sử dụng.
Trong các doanh nghiệp xây lắp, khối lượng nguyên vật liệu cần thiết
cho quá trình thi công rất lớn. Do vậy, công tác hạch toán chi tiết nguyên vật
liệu khá phức tạp và tốn nhiều công sức, đòi hỏi phải theo dõi cả giá trị, số
lượng cũng như chất lượng của từng danh điểm nguyên vật liệu. Vì thế, mọi
nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến nhập, xuất nguyên vật liệu đều phải
được lập chứng từ. Theo Quyết định 1864/1998/QĐ-BTC ngày 16/12/1998,
chế độ chứng từ kế toán gồm hai hệ thống là hệ thống chứng từ bắt buộc và
hệ thống chứng từ hướng dẫn. Để hạch toán nguyên vật liệu cần sử dụng các
chứng từ sau:
Hoá đơn GTGT (Mẫu 01 - GTKT)
Hoá đơn bán hàng ( Mẫu 01 - BH)
Phiếu nhập kho (Mẫu 01 - VT)
Phiếu xuất kho (Mẫu 02 - VT)
Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (Mẫu 03 - VT)
Thẻ kho (Mẫu 06 - VT)
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
13
Hệ số
giá NVL
Giá thực tế NVL tồn kho đầu kỳ
và nhập trong kỳ
Giá hạch toán NVL tồn kho đầu kỳ
và nhập trong kỳ
Đại học Kinh tế Quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm, hàng hoá (Mẫu 08 - VT)
Ngoài các chứng từ mang tính chất bắt buộc như trên, căn cứ vào nhu
cầu quản lý thực tế của mình, các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các
chứng từ hướng dẫn như:
Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (Mẫu 04 - VT)
Biên bản kiểm nghiệm vật tư, sản phẩm, hàng hoá (Mẫu 05 - VT)
Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ (Mẫu 07 - VT)
Về nguyên tắc, chứng từ dùng để hạch toán nguyên vật liệu phải được
lập đầy đủ, ghi chép đúng quy định, trung thực, rõ ràng. Tất cả chứng từ gốc
đều phải tập trung về bộ phận kế toán. Bộ phận kế toán phải kiểm tra kỹ các
chứng từ đó trước khi ghi sổ.
1.3.2. Hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song.
Tại kho: Thủ kho căn cứ vào các chứng từ nhập, xuất nguyên vật liệu
để ghi số lượng nguyên vật liệu vào “Thẻ kho”. “Thẻ kho” được mở theo từng
danh điểm NVL trong từng kho.
Tại phòng kế toán: kế toán nguyên vật liệu cũng dựa trên chứng từ
nhập, xuất nguyên vật liệu để ghi số lượng và giá trị nguyên vật liệu nhập,
xuất vào “Thẻ kế toán chi tiết vật liệu” (mở tương ứng với từng “Thẻ kho”).
Cuối kỳ, kế toán tiến hành đối chiếu số liệu trên “ Thẻ kế toán chi tiết vật
liệu” với “Thẻ kho” tương ứng do thủ kho chuyển đến, đồng thời từ “ Sổ kế
toán chi tiết vật liệu”, kế toán lấy số liệu để ghi vào “Bảng tổng hợp nhập xuất
tồn vật liệu” theo từng danh điểm, từng loại nguyên vật liệu để đối chiếu với
số liệu kế toán tổng hợp nhập, xuất, tồn
Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ làm, dễ đối chiếu kiểm
tra. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm đối với kế toán thủ công là
khối lượng ghi chép lớn, ghi trùng lặp. Mặt khác, việc kiểm tra đối chiếu
được thực hiện vào cuối tháng nên có sự hạn chế trong việc kiểm tra các
trường hợp bất thường xảy ra.
Phương pháp này thường được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít danh
điểm nguyên vật liệu.
Hoàng Thị Ngọc Thuý Lớp: Kế toán 44D
14
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Thẻ kho
Sổ kế toán
chi tiết NVL
Bảng
tổng
hợp
nhập
xuất tồn
NVL
Sổ kế
toán
tổng
hợp về
NVL
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét