LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "phương hướng và giải pháp để thu hút vốn đầu tư vào kcn ở bắc ninh": http://123doc.vn/document/1051965-phuong-huong-va-giai-phap-de-thu-hut-von-dau-tu-vao-kcn-o-bac-ninh.htm
sách phù hợp với lợi ích của họ.
+ ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ. Tính chất là khoản vay nớc
ngoài, do sự u đãi mà ta không nhận thấy khả năng gây nợ của nó, gánh nặng
nợ nần do ODA để lại. Sự phức tạp là ODA không có khả năng đầu t trực tiếp
cho xuất khẩu mà chỉ xuất khẩu mới trả đợc nợ. Do đó, ODA mở đờng cho
FPI quay vào sản xuất để trả nợ vì ODA đầu t vào cơ sở hạ tầng cho các nhà
đầu t nớc ngoài trở lại đầu t. Đôi khi các nhà tài trợ cung cấp ODA nhng yêu
cầu của nớc tài trợ là phải có điều kiện u đãi cho hoạt động đầu t nớc ngoài
của nớc tài trợ tại nớc này => kích thích phát triển.
+ Mục đích của ODA không phải lợi nhuận mà vì sự phát triển của nớc
nhận viện trợ vốn và từ khi ra đời đến nay ODA đang chứa định hai nhân tố:
thúc đẩy tăng trởng bền vững và giảm nghèo ở các nớc đang phát triển tăng
cờng lợi ích chính trị của nớc tài trợ. Các nhà tài trợ là các tổ chức song ph-
ơng, đa phơng, chính phủ. Nớc đợc viện trợ là chính phủ nhân dân các nớc
đang và kém phát triển. Các nớc đầu t ODA mục tiêu phát triển của họ trong
môi trờng toàn cầu hoá nếu nh các nớc khác không phát triển thì họ cũng
không phát triển đợc. Mỹ còn dùng tiền viện trợ để tiêu thụ hàng hoá thừa, để
hớng các nhận viện trợ theo vùng ảnh hởng của Mỹ để thu lợi ích.
- Căn cứ vào các tổ chức ODA hay giác độ vay trả có ODA không hoàn
lại, có hoàn lại hoặc hỗn hợp của 2 hình thức trên.
-Căn cứ vào mục đích có hỗ trợ cơ bản (xây dựng cơ sở hạ tầng,xã hội,
môi trờng,thờng là các khoản vay cho u đãi) và hỗ trợ kỹ thuật (chuyển giao
trí thức, công nghệ,nghiên cứu cơ bản).
-Căn cứ vào điều kiện ODA có ODA không ràng buộc và ODA có ràng
buộc hay ODA có ràng buộc 1 phần.
-Căn cứ vào hình thức dự án có hỗ trợ dự án (để thực hiện dự án cụ thể)
và hỗ trợ phi dự án (gồm hỗ trợ để trả nợ, hỗ trợ cán cân thanh toán).
II. Khu CN tập trung và vai trò đối với phát triển kinh tế :
1. Khái niệm, đặc điểm của KCN tập trung.
a, Khái niệm
Theo luật pháp Việt Nam qui định KCN là khu chuyên sản xuất hàng
công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất, do chính phủ thành lập
hoặc cho phép thành lập. Trong các KCN có các doanh nghiệp KCN hoạt
động. Doanh nghiệp KCN là doanh nghiệp đợc thành lập và hoạt động trong
KCN. KCN có ranh giới địa lý xác định, không có dân c sinh sống.
b,Đặc điểm.
-Trong KCN có các loại doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành phần
kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, KCX, doanh nghiệp chế xuất.
-KCN là khu vực thu hút các dự án đầu t trong và ngoài nớc mà sản
phẩm có thể là xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Quan hệ giữa doanh nghiệp KCN
và thị trờng nội địa là quan hệ nội thơng. Đây không phải là khu thơng mại tự
do mà là một khu sản xuất tập trung.
-Sản phẩm KCN đợc tiêu dùng chủ yếu ở nớc sở tại nên những ngành
nghề ở KCN phải đáp ứng những nhu cầu trớc mắt và lâu dài ở thị trờng nội
địa. So với hàng nhập khẩu, hàng ở KCN có lợi thế về chi phí vận tải, về thủ
tục nhập khẩu, về thuế (đợc u đãi)
2.Vai trò của KCN tập trung .
KCN tập trung là một giải pháp về vốn cho công nghiệp hoá-hiện đại hoá
đất nớc.Mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh,đợc đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng nêu lên chỉ có thể đạt đợc bằng con
đờng phát triển và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hớng CNH-HĐH,
trong đó vấn đề có tính qui luật đã đợc đúc kết qua những năm đổi mới
là:Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phơng hoá
đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Tuy nhiên sự biểu hiện của nó trong từng loại
hình kinh tế không hoàn toàn giống nhau. Đối với KCN tập trung thì tính đặc
thù càng thể hiện rõ nét. Nhằm thực hiện mục tiêu CNH-HĐH đất nớc chúng
ta dựa vào nguồn lực trong nớc là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực
bên ngoài. Chúng ta nhấn mạnh và coi nguồn vốn trong nớc là quyết định, bởi
vì nguồn vốn trong nớc rất phong phú đa dạng, đang tiềm tàng trong xã hội
mà chúng ta có thể nắm đợc để chủ động bố trí, sử dụng theo hớng chiến lợc
CNH-HĐH, trên cơ sở đó thu hút có hiệu quả nguồn vốn từ bên ngoài.
Kể từ ngày 24-9-1991 khi uỷ ban hợp tác và đầu t (nay là bộ kế hoạch và
đầu t) đợc thủ tớng chính phủ uỷ nhiệm cấp giấy phép số 245 thành lập KCX
đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh. Đến tháng 3-2000 trên địa bàn cả nớc có
67 dự án KCN KCX hình thành, trong đó có 63 KCN tập trung. Tổng vốn
đầu t xây dựng hạ tầng cho KCN ớc tính xấp xỉ 2tỷ USD, trong đó nguồn huy
động vốn từ các nhà đầu t nớc ngoài chiếm 40% (800 triệu USD ). Nguồn vốn
do trong nớc phải bỏ ra để đầu t hạ tầng bên trong các KCNchiếm 60% (1,2 tỷ
USD). Đấy là cha kể đến vốn đầu t cho cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào KCN.
Tính đến thời điểm cuối năm 1999 đã có 914 doanh nghiệp đợc cấp giấy phép
hoạt động trong các KCN với tổng vốn kinh doanh đăng ký là 7,8 tỷ USD.
Trong đó có 59 doanh nghiệp nớc ngoài thuộc 24 quốc gia trên thế giới, có
tổng vốn kinh doanh đăng ký là 6,4 tỷ USD chiếm 82% tổng vốn đăng ký kinh
doanh trong các KCN .345 doanh nghiệp trong nớc đợc cấp phép với tổng vốn
đăng ký 18000 tỷ đồng Việt Nam (tơng đơmg với 1,4tỷ USD) chiếm gần 18%
tổng vốn kinh doanh trong các KCN đợc cấp phép. Nghành nghề phát triển
kinh doanh trong các KCN gồm có các doanh nghiệp thuộc các ngành công
nghiệp nhẹ, điện tử, hoá chất, cơ khí chế tạo, luyện thép, dầu khí, chế biến
thức ăn gia súc, phân bón, dịch vụ thơng mại phục vụ xuất khẩu Trong các
KCN đã giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh , có
2000ha mặt bằng đợc thuê, chiếm 3,2% diện tích đất công nghiệp, 12 KCN
cho thuê trên 50% đất công nghiệp. Các doanh nghiệp tại KCN KCX có tốc
độ tăng trởng ngày càng cao nhờ khai thác nguồn lực từ bên ngoài kết hợp với
các nguồn lực của từng vùng, địa phơng.
Năm1999, các KCN đóng góp 25% giá trị sản lợng công nghiệp và 16%
giá trị xuất khẩu của cả nớc, thu hút 14000 lao động, tạo sức mua cho thị tr-
ờng trong nớc khoảng 1000 tỷ đồng/năm. Ngoài ra các doanh nghiệp trong
các KCN còn tạo việc làm cho hàng vạn lao động làm việc trong ngành
xâydựng, dịch vụ tạo cơ sở nguyên liệu, thị trờng, tạo nguồn thu đáng kể cho
ngân sách, góp phần làm cho kinh tế trong nớc phát triển, hội nhập với thị tr-
ờng khu vực và thế giới. Sự hình thành và phát triển các KCN, KCX cũng nh
hoạt động đầu t nớc ngoài khác trong 10 năm qua đã tạo ra những đối trọng
đáng kể thúc đẩy chúng ta kiên quyết giải quyết cải cách hành chính, đổi mới
cơ chế quản lý, giảm bớt tỷ lệ quan liêu, tham nhũng, tạo niềm tin thu hút,
khuyến khích các nhà đầu t trong và ngoài nớc mạnh dạn bỏ vốn kinh doanh
trong các KCN, KCX.
Chơng II
Thực trạng thu hút vốn đầu t
vào khu Công nghiệp ở Bắc Ninh
I. Xu hớng chung của sự phát triển khu CN ở VN và riêng tại
Bắc Ninh
1.Xu hớng chung của sự phát triển khu CN ở VN :
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế ở nớc ta là mục tiêu cũng là
chiến lợc phát triển đất nớc trong những năm tới. Từ chủ trơng tiếp tục đấy
mạnh công cuộc mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả
hợp tác quốc tế ra sức cần kiệm để đẩy mạnh CNH-HĐH nâng cao hiệu quả,
sức cạnh tranh của nền kinh tế, các địa phơng trong cả nớc đã xem xét, đánh
giá lại khả năng của mình để phát huy nội lực, trên cơ sở lấy thế mạnh bù thế
yếu, tập trung sức để chuyển đổi cơ cấu nhằm đa giá trị sản lợng công nghiệp,
dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP của địa phơng. Đứng trớc
mục tiêu CNH-HĐH nền kinh tế và nhu cầu bảo vệ môi trờng sống cho ngời
dân, trong những năm gần đây chính phủ đã có những chủ trơng thành lập các
KCN-KCX gọi là KCN tập trung, đa phần lớn các xí nghiệp công nghiệp tập
trung vào một nơi đợc xây dựng sẵn các hạ tầng kỹ thuật nh : điện, nớc thông
tin liên lạc, nhà máy xử lý nớc thải, rác thải công nghiệp hệ thống cấp thoát n-
ớc, giao thông Phục vụ các nhà máy hoạt động thuận lợi và bảo vệ tốt hơn
môi trờng sống cho nhân dân .
Phát triển khu công nghiệp là một giải pháp quan trọng nhằm tạo thuận lợi
cho đầu t kinh doanh, tiếp kiệm nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng, nên tuy
mới chỉ ra đời trong một thời gian ngắn nhng các KCN đã thu hút cho nền
kinh tế một lợng vốn đăng ký đầu t vào sản xuất công nghiệp trên 70 000 tỷ
đồng (đã đầu t trên 30 000 tỷ) sản xuất ra lợng hàng hoá trị giá ớc tính khoảng
15 000 tỷ đồng (mới tính ở một số khu công nghiệp đã xây dựng cơ bản song
hạ tầng đa vào cho thuê đất công nghiệp), tình hình bình quân mỗi ha đất ở
khu công nghiệp thu hút đầu t khoảng trên 50 tỷ đồng, nhiều KCN đi vào hoạt
động ổn định đã tăng kim ngạch xuất khẩu lên rất nhanh, năm sau cao gấp đôi
năm trớc nh ở khu Tân Thuận, Linh Trung.
Bảng1- Giá trị kim ngạch XK của khu Tân Thuận và Linh Trung từ
năm1995 đến 1998. (Đơn vị: tỷ đồngVNĐ).
Năm 1995 1996 1997 1998
Giá trị XK (tỷ đồng) 500 1100 2500 4700-5000
(Nguồn:Bộ KH và ĐT)
Năm 1995 mới chỉ tạo ra giá trị hàng hoá xuất khẩu khoảng 500 tỷ đồng,
thì năm 1996 đã tăng gấp 2,2 lần, năm 1997 tăng gấp 5 lần thu nhập và trong
năm 1998 đạt từ 4700 tỷ đến 5000 tỷ đồng, tăng gấp 10 lần năm 1995, bình
quân cứ trên mỗi ha ở hai khu này đã tạo ra kim ngạch xuất khẩu khoảng 42 tỷ
đồng / năm và giải quyết việc làm cho khoảng 200 lao động. Hoặc ở KCN-
KCX vùng đồng bằng sông Cửu Long (Cần Thơ) mới đi vào hoạt động tạo ra
hàng chục tỷ đồng giá trị hàng hoá trên mỗi ha đất, trong đó 80% dành cho
xuất khẩu hoặc ở KCN nh khu Sài Đồng B trên mỗi ha đất cũng thu hút đợc
khoảng trên 150 tỷ đồng vốn đầu t sản xuất công nghiệp và taọ ra kim ngạch
xuât khẩu khoảng 50 tỷ/ ha. Trong số 64 KCN đợc thủ tớng chính phủ cho
phép thành lập có 21 KCN mới và hiện đại, bao gồm 13 KCN và KCX hợp tác
với nớc ngoài để phát triển hạ tầng, còn lại là KCN đợc thành lập trên cơ sở đã
có sẵn cụm công nghiệp hoặc các KCN quy mô vừa và nhỏ ở đồng bằng Bắc
Bộ, Duyên Hải miền trung và vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Các KCN trên
đợc phân bố trên địa bàn 26 tỉnh và Thành Phố trong cả nớc; nhiều nhất là
Thành Phố Hồ Chí Minh có 12 khu, Đồng Nai có 9 khu, Bình Dơng có 7 khu
và Hà Nội có 5 khu, Bà Rịa- Vũng Tầu có 4 khu. Đây là thành quả bớc đầu
của quá trình thực hiện quy hoạch phát triển KCN đến năm 2010 ở nớc ta.
Chỉ tính riêng ba năm từ 1997 đến 1999, giá trị sản lợng và xuất khẩu của các
doanh nghiệp trong KCN cả nớc là:
Bảng 2- Giá trị sản lợng và xuất khẩu trong KCN
Cả Nớc từ năm 1997 đến 1998 (Đơn vị: triệu USD)
Năm Giá trị sản lợng
(triệu USD)
Giá trị XK
(triệu USD)
Tốc độ tăng hàng năm
Giá trị SL Giá trị XK
1997 1155 848
1998 1871 1300 61% 53%
1999 2982 1761 59% 35%
( Nguồn: bộ kế hoạch và đầu t)
Năm 1998, giá trị sản lợng công nghiệp cả nớc tăng 12,1% và kim ngạch
xuất khẩu chỉ tăng 0,9% so với năm trớc, nhng các KCN vẫn duy trì sản xuất
công nghiệp tăng 61% và giá trị xuất khẩu tăng 53% so với năm 1997. Đây là
thành tựu có ý nghĩa lớn trong tình hình thị trờng khu vực và thế giới bị thu
hẹp. Giá trị sản lợng của các KCN, KCX trong năm qua đạt 1871 triệu USD,
chiếm hơn 20% sản lợng công nghiệp của cả nớc. Phần lớn các doanh nghiệp
có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài ở các KCN đều có trình độ công nghệ tiên
tiến, hiện đại, nên có khả năng cạnh tranh trên thị trờng. Do đó trong năm qua
đã đạt giá trị xuất khẩu 1300 triệu USD, chiếm 14% giá trị xuất khẩu cả nớc,
vơn lên vị trí hàng đầu của một trong những lĩnh vực xuất khẩu lớn của nớc ta.
Riêng hai KCX Tân Thuận và Linh Trung (Thành Phố Hồ Chí Minh) có 95
doanh nghiệp đi vào sản xuất đã đạt kim ngạch xuất khẩu 405 triệu USD, tính
ra trên 1 ha đất công nghiệp tạo ra giá trị xuất khẩu 3 triệu USD /năm. Các
doanh nghiệp của các KCN ở Đồng Nai năm qua đã đạt kim ngạch xuất khẩu
622 triệu USD, chiếm 66% tổng số doanh thu và đã đóng góp cho ngân sách
nhà nớc 28 triệu USD tăng hơn năm trớc gần 4 triệu USD. Nhờ mở rộng và
phát triển sản xuất, đến nay các KCN trong cả nớc đã thu hút trên 110.000 lao
động (không kể lực lợng lao động sản xuất bên ngoài các KCN) tăng 20 nghìn
ngời so với năm trớc. Tuy nhiên, từ lâu không ít ngời hiểu rằng, KCN chỉ là
nơi để thu hút vốn, kỹ thuật kinh nghiệm quản lý của ngời nớc ngoài, từ đó có
quan điểm cho rằng nếu không có ngời nớc ngoài vào đầu t thì không làm
KCN. Nhng không phải vậy, chúng ta cần hiểu rõ rằng :
KCN là tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ phục vụ cho sản xuất công nghiệp,
có ranh giới địa lý xác định Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp
đợc thành lập và hoạt động trong KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh
nghiệp dịch vụ (Theo điều hai NĐ 36/CP về ban hành quy chế KCN
KCXKCNC ngày 24 - 4 1997 của chính phủ) .
Nh vậy KCN tập trung không chỉ dành riêng cho các doanh nghiệp nớc
ngoài mà còn có cả các doanh nghiệp trong nớc vào đầu t sản xuất công
nghiệp. Vốn đầu t nớc ngoài vào VN nói chung vào KCN nói riêng là cần thiết
nhng trong tình hình khó khăn về thu hút đầu t nớc ngoài vào VN thì chúng ta
dựa vào sức mạnh phát huy nội lực đất nớc để thực hiện mục tiêu CNHHĐH
nền kinh tế. Do đó trong hoàn cảnh nào dù thu hút đầu t nớc ngoài thuận lợi
hay không ta cũng cần phải xây dựng đất nớc bằng con đờng phát triển công
nghiệp, và nh vậy cần có KCN tập trung nơi để các doanh nghiệp công nghiệp
thực hiện sản xuất.
Đến nay việc phát triển công nghiệp không còn là việc riêng của một
ngành hay của chính phủ mà nó là việc của toàn dân. Một xí nghiệp ra đời
trong xã hội văn minh không thể không chú ý đến những tác động trực tiếp và
gián tiếp của nó đối với xung quanh, vì thế một nhà máy từ khi bắt đầu xây
dựng đến khi đa vào hoạt động có một loạt vấn đề nh đất đai để xây dựng, thủ
tục pháp lý, điện nớc giao thông liên lạc, xử lý nớc thải các dịch vụ phục vụ
cho sản xuất nh kho tàng, lao động nhà ở cho công nhân, môi trờng Vì vậy,
không thể xây dựng ở bất cứ nơi nào muốn mà phải có sự quy hoạch đồng bộ.
Thời gian qua nhiều địa phơng do xây dng tự phát nhiều nhà máy xen với khu
dân c gây rất nhiều ô nhiễm nh rác thải, tiếng ồn làm tổn hại sức khoẻ, hậu
quả đó là do không có sự quy hoạch và không có KCN tập trung. Từ thực tiễn
đó ta cần nhận thức rõ hậu quả của việc phát triển tản mạn manh mún nên đã
đa việc quy hoạch ra để bàn bạc trong chiến lợc phát triển kinh tế và điều này
nêu lên yêu cầu cần phải có KCN. Tuy nhiên, từ những KCN đã đợc thành lập
cho thấy quá trình xây dựng một khu công nghiệp từ khi bắt đầu khâu quy
hoạch đến khi có quyết định của chính phủ cho phép xây dựng và sau khi có
quyết định thành lập đến khi hoàn chỉnh xong kết cấu hạ tầng để có thể đa vào
sử dụng và nhà đầu t có thể thuê đất để xây dựng nhà máy cho mình là một
khoảng thời gian dài từ 4 8 năm. Tất cả những KCN đã ra đời đều phải qua
một qui trình nhiều bớc từ chính phủ và các bộ ngành liên quan. Do đó KCN
2002 trở đi nhằm đón lõng thời cơ , đòi hỏi ngay từ bây giờ chúng ta cần có
sự khởi động để bắt đầu. Khi đánh giá KCN nhiều nhà hoạch định cho rằng
KCN có diện tích lớn vài trăm thậm chí đến nghìn ha là qui mô lớn nhng thực
chất ta cần nhìn vào hiệu quả hoạt động của nó, xem xét về hạ tầng kỹ thuật đ-
ợc xây dựng nh thế nào, ai đầu t, công nghệ gìvà KCN có qui mô diện tích
lớn thì việc chọn một khu đất để xây dựng là khó, nhng thuận lợi hơn cho đầu
t hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên đó chỉ là lợi về vốn bỏ ra xây dựng bình quân
cho mỗi ha, còn mục đích cuối cùng là lấp đầy KCN sẽ gặp khó khăn nhiều
hơn so với ở KCN có qui mô nhỏ hơn .
Vậy, trong thực tế hiện nay, xu hớng thuận lợi đang nghiêng về các KCN
có qui mô diện tích dới 100 ha, các KCN đang làm theo phơng thức cuốn
chiếu. Các KCN này đang là thách thức đối với các KCN lớn. Đứng trên góc
độ nhà đầu t thì loại hình KCN dới 100ha có sự linh hoạt và tính thích nghi
nhiều hơn vì họ bỏ vốn ít hơn, thời gian xây dựng ngắn hơn, qui mô diện tích
đất công nghiệp dành cho ngời thuê ít hơn nên việc tiếp thị kêu gọi các nhà
đầu t vào thuê đất để lấp kín diện tích nhanh hơn, điều đó cũng có nghĩa là họ
thu đợc vốn bỏ ra sớm hơn. Ngoài ra họ còn có lợi thế trong việc thơng lợng
với các nhà đầu t, họ ít chịu áp lực của sự cạnh tranh. Đối với nhà nớc, các
KCN có qui mô diện tích chiếm đất không lớn thì việc qui hoạch dễ hơn, việc
di dời giải toả bồi thờng cho ngời dân để giải phóng mặt bằng xây dựng hạ
tầng KCN cũng nhanh hơn, nhiều nhà đầu t có điều kiện hơn để tham gia vào
lĩnh vực xây dựng hạ tầng KCN để kinh doanh. Đồng thời dễ thực hiện theo
một ý đồ phân bố lại lực lợng sản xuất, thúc đẩy việc đô thị hoá nhanh chóng
hơn là chỉ tập trung xây dựng ít KCN với qui mô lớn. Về mặt xã hội, những
KCN loại này cũng ít gây tác động lớn đến mật độ dân c, an ninh chính trị, sự
quá tải ở các đô thị, trái lại nó còn thúc đẩy quá trình ở nhiều khu vực nơi nó
ra đời. Cuối cùng là sự quản lý của nhà nớc với các KCN này cũng dễ hơn.
Với xu thế phát triển các ngành công nghiệp của đất nớc, thực hiện mục
tiêu CNH-HĐH nền kinh tế nớc ta từ nay đến 2020 đòi hỏi phải có các KCN
tập trung tiếp tục ra đời ở những nơi có điều kiện.
2.Khái quát về phát triển KCN ở Bắc Ninh :
Qua tình hình chung của cả nớc và để phát triển thành một vùng công
nghiệp thì việc xây dựng các KCN ở Tỉnh Bắc Ninh là điều cần thiết cho sự
nghiệp CNH-HĐH tỉnh Bắc Ninh. CNH-HĐH là quá trình chuyển đổi căn
bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý kinh tế xã
hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức
lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và phơng pháp tiên tiến hiện đại dựa
trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra năng suất
lao động xã hội cao.
Từ đó, tỉnh uỷ, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các
ngành, các huyện thị tranh thủ sự giúp đỡ của trung ơng xác định chiến lợc
phát triển kinh tế, xã hội chung và các lĩnh vực chuyên ngành của tỉnh. Riêng
về chiến lợc phát triển công nghiệp đợc xác định theo hớng : xây dựng 2 KCN
tập trung Tiên Sơn và Quế Võ, các cụm công nghiệp đa nghề ở các huyện thị,
các cụm công nghiệp làng nghề. Trên cơ sở đó vận dụng xây dựng những
chính sách khuyến khích đầu t để các tổng công ty, tỉnh bạn, trong dân và nớc
ngoài đầu t vào sản xuất kinh doanh ở Bắc Ninh. Việc phát triển công nghiệp
và hình thành các KCN tập trung là một tất yếu khách quan trong công cuộc
CNH-HĐH đất nớc nói chung và tỉnh Bắc Ninh nói riêng. Nó không những
tạo tiền đề cho việc khai thác nội lực vốn có của Bắc Ninh mà còn là bớc đột
phá cho sự phát triển nền công nghiệp hiện đại ở Bắc Ninh. Nhìn lại 5 năm kể
từ khi tỉnh tái lập, tỉnh đã có chủ trơng đẩy mạnh sự phát triển các KCN tập
trung và để thực hiện chủ trơng này, ban quản lý các KCN Bắc Ninh dới sự
lãnh đạo của tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã tích cực triển khai đẩy mạnh tiến độ xây
dựng KCN Tiên Sơn với diện tích 134,7ha (đã đợc chính phủ ra quyết định
thành lập tháng 12/1998 đang triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng, đã khởi công
bàn giao đất cho doanh nghiệp thuê để xây dựng các nhà máy) và KCN Quế
Võ với diện tích 129,7ha đã lập xong qui hoạch chi tiết và đợc phê duyệt. Đây
là công việc hết sức quan trọng ban đầu để tạo điều kiện tiến hành các bớc tiếp
theo thực hiện dự án đầu t. Trong những năm qua, chúng ta đã thấy rất rõ các
dự án đầu t nớc ngoài và đầu t trong nớc vào các KCN đã góp phần quan trọng
vào sự tăng trởng nền kinh tế, tạo ra nhiều chỗ làm việc, góp phần nâng cao
từng bớc đời sống của nhân dân. Đối với tỉnh Bắc Ninh bớc đầu doanh nghiệp
đầu t nớc ngoài trong KCN đã đóng góp tích cực vào tăng trởng kinh tế của
tỉnh.
II.Tình hình thu hút đầu t tại 2 KCN hiện có ở Bắc Ninh :
Ngày 3/2/2000 ban thờng vụ tỉnh uỷ Bắc Ninh đã có riêng nghị quyết số
12/TI về KCN. Hiện nay 2 KCN tập trung là KCN Tiên Sơn và KCN Quế Võ
đã đợc xây dựng xong qui hoạch chi tiết. Riêng KCN Tiên Sơn đã khởi công
xây dựng cơ sở hạ tầng cùng với việc xây dựng các nhà máy sản xuất đá
Granite, nhà máy chế biến nguyên liệu thuốc lá2 KCN này đã và đang đợc
nhiều nhà đầu t để ý và đăng ký thuê đất.
1. Tình hình của KCN Tiên Sơn .
KCN Tiên Sơn nằm trong thế đất u đãi trời cho, nằm giữa hai tuyến
quốc lộ 1A và 1B với tổng diện tích đợc phê duyệt là 134,7ha.
Ngay từ những ngày đầu năm 2000 lãnh đạo đơn vị kết hợp với công ty
đầu t và phát triển hạ tầng KCN Tiên Sơn (Viglacera) và các ngành có liên
quan tiến hành các thủ tục đền bù giải phóng mặt bằng, thu hồi đất giao cho
nhà đầu t theo hình thức Cuốn chiếu (có nhà đầu t đến đâu thu hồi đất đến
đó). Vừa bảo đảm hiệu quả của vốn đầu t, vừa đáp ứng đợc yêu cầu của các
nhà đầu t đề ra. Đến nay diện tích đã thu hồi đợt1 là 18,5 ha /20,1 ha bao
gồm đất giao thông, đất xây dựng cơ sở hạ tầng, và đất cho 2 nhà đầu t đó là :
- Nhà máy gạch Granite đăng ký 4ha, vốn đầu t trên 208 tỷ đồngVN
- Nhà máy nguyên liệu thuốc lá Bắc - đăng ký 10 ha, vốn đầu t giai
đoạn 1 trên 70 tỷ đồng VN (bao gồm cả thiết bị di chuyển từ miền Nam ra).
Tuy nhiên, việc đền bù gặp không ít khó khăn và còn diện tích 1,6 ha dự
kiến xây dựng nhà máy lắp ráp xe máy của công ty Vinagimex đang thực
hiện. Hiện nay đang tiếp tục thu hồi đất khoảng 3,5 ha để xây dựng khu trung
tâm điều hành, trạm điện 110/22 KV và mở đờng vào KCN, 7ha cho nhà máy
ngói Rôman (3ha), nhà máy nguyên liệu gốm sứ (3ha) và nhà máy gạch
Terazo (1ha).
Kết hợp với việc thu hồi đất, việc xây dựng đồng bộ các hạng mục công
trình trong và ngoài hàng rào KCN để tăng sức hấp dẫn cuốn hút đầu t vào
KCN cũng đợc xúc tiến khẩn trơng.
- Đối với phía trong hàng rào: Đã và đang xây dựng một số hạng mục
chính nh đờng trung tâm, đờng phân khu chức năng, trạm cấp nớc và xử lý n-
ớc thải, khu điều hành và một số công trình có thể cho nhà đầu t sử dụng
ngay trong thời gian đầu (văn phòng, kho bãi). Đây là bớc tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho các nhà đầu t trong thời gian khởi đầu xây dựng.
Phía ngoài hàng rào: Ban quản lý đã làm việc với cơ quan chức năng
nhằm tạo điều kiện để triển khai đồng bộ các hạng mục. Công trình di dời hệ
thống kênh mơng nội đồng KCN Tiên Sơn, công trình đờng giao thông ngoài
hàng rào KCN về điểm đầu nối vào KCN ,với đờng 1A mới nối qua nút giao
lập thể với đờng tỉnh lộ 259; Với đờng 1A cũ nối qua nút giao cùng cốt tại km
149 + 350, công trình đờng dây rẽ nhánh va trạm điện 110/22KV cấp đIện
cho KCN; công trình thông tin liên lạc xây dựng tổng đài 1000 số tại Lim cho
KCN Tiên Sơn và dân c vùng lân cận
Việc chào mời, kêu gọi các nhà đầu t quảng cáo giới thiệu về KCN
cũng đợc coi trọng nh: In ấn Marketing giới thiệu về KCN Tiên Sơn, chủ
động tìm các nhà đầu t vào KCN. Đối với KCN thì nhà đầu t chính là khách
hàng. Muốn mời gọi họ, trong điều kiện tình hình đầu t ngày càng khó khăn,
khách hàng càng khó tính thì càng cần phải có những u đãi, khuyến khích đặc
biệt hấp dẫn. Vì vậy thời gian qua UBND tỉnh đã ban hành quyết định
145/1999 / QĐ UB qui định một số u đãi khuyến khích đầu t trong nớc đối
với KCN Tiên Sơn. Đây là một bớc đầu rất quan trọng, tuy nhiên cũng cần
phải nghiên cứu mở rộng hơn phạm vi u đãi, đặc biệt là thực hiện cải cách thủ
tục hành chính. Ban quản lý đã tích cực tiếp xúc với các nhà đầu t trong và
ngoài nớc, thực hiện việc giới thiệu, mời gọi đầu t. Đã thiết lập và công khai
thủ tục hồ sơ, quy trình nghiệp vụ cụ thể, thực hiện quy chế Một cửa, tại chỗ
nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu t.
Do những công tác tích cực trên đến nay KCN đã ký hợp đồng cho thuê
đất đối với những đối tác sau:
Bảng 3- Tình hình đăng ký thuê đất vào KCN Tiên Sơn
(đơnvị: ha)
ST
T
Doanh nghiệp đầu t
Diện tích
đất thuê (ha)
1 Nhà máy nguyên liệu thuốc lá Bắc 10
2 Nhà máy Gạch Granite 4
3 Nhà máylắp ráp xe máy IKD 2
4 Công ty TNHH Nam Hoà 2
5 Nhà máy chế biến gỗ mỹ nghệ XK 0,5
6 Cty liên doanh Viglacera và tập đoàn CN Quảng Tây 3
7 Hãng Shijar Đài Loan 7
8 Công ty Bùi Nguyên 1
9 Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hoà 0,5
10 Công ty TNHH Trờng Phú 1
11 Công ty vật liệu công nghệ LPG 1
Nguồn: Ban quản lý KCN Bắc Ninh
Về phía đối tác trong nớc tính đến nay có 5 dự án với tổng số vốn là
trên 316 tỷ đồng Việt Nam.
- Nhà máy chế biến nguyên liệu thuốc lá Bắc thuộc tổng công ty thuốc lá
VN, diện tích 10 ha vốn đầu t 70 tỷ đồng Việt Nam.
- Nhà máy gạch Granite của công ty kính Đáp Cầu, diện tích 4 ha vốn
đầu t 200 tỷ đồng Việt Nam. (Hai nhà máy này sẽ thu hút đợc 600 lao động
khi đi vào hoạt động).
- Nhà máy lắp ráp xe gắn máy IKD của công ty Vinagimex thuộc hội
đồng Trung ơng liên minh các hợp tác xã, diện tích 2 ha vốn đầu t 14 tỷ đồng
Việt Nam.
- Công ty trách nhiệm hữu hạng Nam Hoà sản xuất giầy da xuất khẩu
diện tích 2 ha, vốn đầu t hơn 20 tỷ đồng.
- Nhà máy chế biến gỗ Mỹ nghệ xuất khẩuCông ty chế biến nông sản
Thăng Long, diện tích 0,5 havốn đầu t 12 tỷ đồng Việt Nam.
Về phiá liên doanh với nớc ngoài và 100% vốn nớc ngoài có 2 dự án với
tổng số vốn đầu t trên 250 tỷ đồng Việt Nam, gồm:
- Công ty liên doanh Viglacera và tập đoàn công nghiệp Quảng Tây
(Trung Quốc) về sản xuất ống bằng vật liệu composit với diện tích 3 ha, vốn
đầu t 100 tỷ đồng Việt Nam.
- Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp của hãng Shi Jac- Đài Loan
với diện tích 7 ha và vốn đầu t là 10 triệu USD.
Ngoài ra còn có các nhà đầu t xin đăng ký đó là :
- Tập đoàn công nghiệp Thợng Hải Trung Quốc đầu t sản xuất phân vi sinh.
- Công ty Bùi Nguyên đầu t sản xuất hàng dệt kim đông xuân
(đăng ký 1 ha).
- Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hòa (Bibica) đăng ký 0,5 ha đất.
- Công ty trách nhiệm hữu hạng Trờng Phú sản xuất phụ tùng ô tô xe máy
đăng ký 1 ha.
- Công ty vật liệu công nghệTrung tâm khoa học tự nhiên và Công
nghệ quốc gia đầu t sản xuất phụ tùng cơ khí chiết nạp gas (LPG), tấm Panen
3D đăng ký 1 ha.
Bảng 4: Phân theo loại hình doanh nghiệp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét