không phù hợp, gây ra tình trạng xói mòn đất Thiếu sự quản lý có hệ thống đối
với các nguồn lợi thiên nhiên.
Ngoài ra, những nguyên nhân khác như: đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nông
nghiệp nhìn chung còn yếu, nhất là khâu nghiên cứu cơ bản; Thiên tai tuy không
liên tục nhưng vẫn có các đợt hạn hán, lũ lụt lớn cũng có thể làm hạn chế, thậm
chí làm giảm tới 15-20% sản lượng nông nghiệp.
1.2 Philipin
Philippin là một nước có khí hậu đa dạng do được hình thành từ nhiều hòn
đảo và một số đảo có khí hậu riêng biệt bị ảnh hưởng bởi các dãy núi cao.
Năm 2000 Chính phủ Philippin dự kiến kinh tế nước này sẽ đạt mức tăng
trưởng từ 4,5% đến 5,5%, tăng so với mức 3,5% trong năm 1999. Tốc độ tăng
trưởng của ngành nông nghiệp sẽ giảm từ 6% trong năm 1999 xuống còn 2,5 % đến
3,5%, tuỳ thuộc vào khả năng của Chính phủ trong việc thực hiện các dự án theo
luật hiện đại hoá ngành nông nghiệp và ngư nghiệp .
Khoảng 4 triệu ha trong tổng số 10 triệu ha đất nông nghiệp Philippin được
dùng để trồng lúa. Trung tâm sản xuất lương thực của Philippin là vùng Mindacao,
đây là vùng đất mầu mỡ rộng 102 000 km2 chiếm 34% diện tích Philippin, đóng
góp cho khu vực nông nghiệp, ngư nghiệp của Philippin là 34%. Vùng Mandacao
này cũng chiếm 1/3 ngân sách nông nghiệp (vì Tổng thống Philippin muốn biến
vùng này thành vựa lúa của Philippin). Phần đóng góp của nông nghiệp vào tổng
sản phẩm quốc dân (GDP) ngày càng giảm dần, từ trung bình 30% trong giai đoạn
từ 1966 đến giữa thập kỷ 1970 xuống còn 20% năm 1997. Tuy nhiên, nông nghiệp
vẫn đóng góp đáng kể vào nền kinh tế, chiếm khoảng 9,3% tổng lợi nhuận xuất
khẩu, 8,6% tổng ngân sách nhập khẩu và 42% tổng việc làm.
Bộ Nông nghiệp Philipin (DA) thông qua nhiều chương trình khác nhau đã
phát triển sản xuất và các thiết bị sau thu hoạch. Trong chương trình lương thực,
DA tiến hành các dự án thuỷ lợi như đập ngăn nước, hệ thống thuỷ lợi giếng nông
và giếng sâu. Hỗ trợ các thiết bị sau thu hoạch bao gồm xây dựng các hè đường
phơi sấy đa năng, phân phối các máy sấy nhỏ nhằm tăng tính kịp thời của hoạt động
sấy gạo và công cụ đo độ ẩm để theo dõi độ ẩm của ngô để ngừa và kiểm soát
aflatoxin. Các thiết bị xay sát gạo, trữ gạo (nhà kho) và vận tải cũng được cải thiện
dù hầu hết là của tư nhân.
1.3. Malaysia
Malaysia là một nước có diện tích đất nông nghiệp ít ,chỉ chiếm 14,9 % diện tích
cả nước và chỉ số đất canh tác bình quân đầu người là 0,25 ha(1995).
Năm 1995, đóng góp của ngành nông nghiệp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
là 13,5%. Cũng giống như nhiều nước khác đang tiến hành công nghiệp hoá, đóng
góp tương đối của nông nghiệp vào nền kinh tế đang liên tục giảm. Trong vòng 10
năm qua, mức giảm này càng nhanh hơn, từ mức 20,8% năm 1985 giảm xuống chỉ
5
còn 13,5% năm 1995. Năm 2000 nền kinh tế Malaisia có thể tăng trưởng cao hơn
mức dự đoán chính thức và đạt tới 5.8%, trong đó nông nghiệp tăng 2,0%.
Trong khi đó, nhờ những nỗ lực vượt bậc của chính phủ tập trung vào công
nghiệp hoá, đóng góp của ngành chế tạo vào GDP tăng từ 19,7% năm 1985 đến
33,1% năm 1995. Đã có nhiều bài phân tích cho rằng trong kỷ nguyên này, nông
nghiệp Malaysia bị ảnh hưởng nặng nề bởi triệu chứng tăng trưởng quá nóng, có
nghĩa là mức độ tăng trưởng của những ngành khác vượt xa so với sự phát triển của
nông nghiệp.
Do mức đóng góp giảm dần nên tỉ lệ việc làm trong ngành nông nghiệp so với
những ngành khác cũng suy giảm, từ 31,3% trong tổng số việc làm năm 1985 xuống
còn 18% năm 1995. Trong khi đó việc làm của ngành chế tạo vẫn duy trì ở mức
25% năm 1995. Tuy nhiên, tổng số công nhân làm trong ngành nông nghiệp lại tăng
từ 5,74 triệu người tới 7,9 triệu người trong cùng thời kỳ.
Malaysia chủ yếu tập trung sản xuất các cây công nghiệp phục vụ phát triển như
cây cọ dầu, cao su và cacoa, chiếm 77% tổng diện tích đất trồng nông nghiệp trên cả
nước. Cơ cấu nông nghiệp này của Malaysia đã được duy trì và phát triển trong
vòng 3,5 thập kỷ qua. Cây lương thực bao gồm lúa, dừa và hoa quả cũng được coi
là chủ đạo trong nền nông nghiệp Malaysia trong khi đó những loại cây khác như
thuốc lá, cà phê, chè, đường và cây cọ sagu chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng
diện tích đất.
Trong năm 1995, phần trăm đóng góp của các loại cây xuất khẩu chính cho
GDP nông nghiệp là 71%, trong khi đó riêng dầu cọ chiếm từ 30,5% năm 1985 đến
42,1% tổng giá trị gia tăng của ngành. Mặt khác các sản phẩm lương thực chiếm
chưa đầy 30% tổng giá trị gia tăng nông nghiệp năm 1995, trong đó các cây lương
thực như gạo và rau quả chỉ chiếm 10% GDP nông nghiệp.
Nhìn chung, ngành nông nghiệp Malaysia vẫn chưa có cơ sở vững vàng. Mặc
dù các nhóm cây trồng đa dạng của Malaysia được tách biệt hẳn khỏi sản lượng
ngành nhưng một phần quan trọng trong sản lượng là do nhóm cây trồng dành cho
xuất khẩu đóng góp. Do vậy, chỉ một thay đổi nhỏ trong giá của những hàng hoá
này cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản lượng của nông nghiệp Malaysia.
1.4 Indonesia
Indonesia là một quốc gia bao gồm hàng chục ngàn hòn đảo lớn nhỏ, với
dân số khoảng 205 triệu người. Trong vòng 2 thập kỷ qua, nền kinh tế Indonesia đã
trải qua một sự thay đổi lớn về mặt cơ cấu, do tác động tiêu cực của môi trường
bên ngoài. Kể từ đầu thập kỷ trước, sự tăng trưởng của khu vực phi nông nghiệp lớn
hơn ngành nông nghiệp nhằm đáp ứng chiến lược phát triển kinh tế dài hạn hướng
theo công nghiệp hoá. Mặc dù đóng góp của ngành trong GDP đang suy giảm
nhưng nông nghiệp bao gồm lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn là những ngành lớn nhất
trong nền kinh tế.
6
Trong suốt thời kỳ 1985 - 1996, ngành nông nghiệp tăng trưởng với tốc độ
bình quân 2,7% một năm, trong khi đó các ngành phi nông nghiệp tăng trưởng với tỉ
lệ 7,8%. trong số các ngành phi nông nghiệp, công nghiệp chế tạo, xây dựng,
thương mại, giao thông vận tải, thông tin liên lạc và tài chính phát triển với tốc độ
trung bình hàng năm lần lượt là 10,3%; 11%; 7,5%; 8,2% và 11,6%. Tốc độ tăng
trưởng thấp hơn của ngành nông nghiệp so với các ngành khác phản ánh sự thay
đổi về mặt cơ câú trong nền kinh tế Indonesia. Đóng góp của nông nghiệp đối với
GDP giảm từ 22% năm 1985 xuống còn 18% năm 1996. Cũng trong thời gian đó
đóng góp của ngành chế tạo tăng từ 14,6% đến 30,5%. Năm 1998 nông nghiệp
chiếm khoảng 19% GDP, đứng thứ 2 sau ngành công nghiệp (chiếm 26% GDP).
Tuy nhiên, do ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế - tiền tệ, tình hình
chính trị bất ổn và hạn hán xảy ra nghiêm trọng trong những năm qua, đã làm cho
nông nghiệp của nước này không phát triển được. Theo dự đoán của các nhà kinh
tế Indonesia, thì phải mất ít nhất 8 năm, kinh tế của nước này mới có thể phục hồi
được. Kinh tế Inđônêxia tiếp tục tăng trưởng âm đến năm 2000 trước khi được cải
thiện dần và tăng trưởng trở lại vào năm 2006. Cũng theo số liệu của Cục Thống kê
Trung ương Inđônêxia, năm 1998, trong tổng số 205 triệu dân có khoảng 130 triệu
người sống dưới mức nghèo khổ. Lực lượng lao động bị thất nghiệp tương đối lớn
(tới 38 triệu người trong tổng số khoảng 90 triệu lao động). Lạm phát tăng, thu nhập
bình quân đầu người giảm (từ 1.080 USD/năm những năm đầu thập kỷ 90 xuống
còn 480 USD năm 1998) đã làm cho nền kinh tế Indonesia những năm qua lâm vào
tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, từ sau khi tổng tuyển cử (ngày
7/6/1999), Chính phủ mới đã được thành lập, kinh tế Indonesia nói chung và nông
nghiệp nói riêng đã có dấu hiệu phục hồi.
Trong bản thân ngành nông nghiệp cũng có những tốc độ tăng trưởng khác
nhau. Trong thời kỳ 1985 - 1996, những ngành có tỉ lệ đóng góp vào GDP lớn nhất
là các loại cây lấy gỗ, chăn nuôi và thuỷ sản ( lần lượt là 4,4%, 4,1%, 5,2% một
năm). Trong khi đó các loại cây lương thực chỉ tăng trưởng với tốc độ bình quân
hàng năm là 1,8%. Do tiềm năng lớn nên các loại cây lấy gỗ, chăn nuôi và thuỷ sản
dự đoán sẽ là những nguồn chính mang lại tăng trưởng cho ngành nông nghiệp.
Sự suy giảm việc làm trong ngành nông nghiệp chậm hơn tốc độ suy giảm
trong tỉ lệ đóng góp vào GDP, từ 55% năm 1980 xuống còn 54% năm 1991 và dự
kiến khoảng 49% năm 1995. Mặt dù tỉ lệ giảm nhưng số lượng người làm trong
ngành nông nghiệp vẫn liên tục tăng. Điều này cho thấy nông nghiệp đang và vẫn sẽ
là ngành chủ yếu mang lại nhiều công ăn việc làm. Trong khi đó, tỉ lệ việc làm trong
ngành chế tạo chỉ tăng đôi chút từ 9% năm 1980 đến 11,6% năm 1991. Tất cả
những điều này cho thấy tầm quan trọng của việc tăng cường những việc làm thu
hút lao động ở cả khu vực nông thôn và thành thị nhằm giảm thiểu những vấn đề
thất nghiệp và tránh bạo động xã hội.
2. Sản xuất các ngành hàng chính
7
2.1 Gạo
Sản lượng lúa tiếp tục tăng trưởng nhưng tốc độ lại đang giảm đi. Sản xuất
gạo tăng trưởng mạnh từ giữa những năm 1970 nhờ một chương trình áp dụng tổng
hợp các giống hiện đại, thuỷ lợi và tín dụng. Từ 1981-1990, hạn hán, bão và lụt lội
thay nhau gây thiệt hại đến mùa màng và làm giảm tốc độ tăng trưởng năng suất và
sản lượng. Tỷ lệ tăng trưởng sản xuất lúa gạo từ 1981-1985 trung bình 3%/năm,
giảm 26% so với 1975-1980. Tăng trưởng chủ yếu nhờ tăng diện tích canh tác chứ
không phải nhờ tăng năng suất như thời kì trước. Thời kì 1986-1990, tăng trưởng
sản lượng gạo hàng năm lại giảm hơn nữa, chỉ còn 0,2%/năm, do năng suất giảm.
Tăng năng suất trong những năm này chỉ bằng 1/2 thời kì 1981-1985.
Giai đoạn 1991-1995, sản lượng gạo phục hồi, tăng trưởng trung bình hàng
năm đạt 2,2%, chủ yếu do tăng diện tích canh tác ở những ruộng tưới. Đầu thập kỉ
1990, Chương trình "Tăng Sản lượng Ngũ cốc Gintong Ani" được thực hiện nhằm
tăng và duy trì sản lượng ngũ cốc trong nước, thông qua các biện pháp tăng năng
suất như hệ thống thuỷ lợi, dùng các giống cải tiến được chứng nhận và các thiết bị
sau thu hoạch. Năm 1996, do thời tiết tương đối thuận lợi, sản lượng gạo tăng 12%
so với 1995. Năm 1997, do hiện tượng El Nino, những ruộng nước mưa bị thất thu
lớn làm sản lượng giảm đôi chút so với năm 1996. Cho đến nay (theo số liệu năm
1999) sản lượng thóc của Philippine chỉ đạt khoảng 11.2 triệu tấn, với năng suất
trung bình 2.9 tấn/ha.
Khoảng cách giữa sản lượng lúa và tiêu thụ hàng năm đang ngày càng lớn.
Số những năm thiếu gạo, thưòng là những năm thời tiết không thuận lợi, nhiều hơn
những năm đủ gạo tự cung tự cấp. Số gạo thiếu được bù bằng gạo nhập khẩu. Tuy
nhiên, cần lưu ý rằng nước này chỉ nhập khẩu khi trữ lượng gạo ở mức thấp, sản
xuất gạo giảm đi dẫn đến nhập khẩu trong 1, hai năm tiếp theo. Điều này có thể thấy
rõ ở những năm 1983, 1987 và 1992 khi sản lượng gạo giảm do hạn hán dẫn đến
giảm trữ lượng và nhập khẩu khối lượng lớn trong hai năm tiếp theo. Hiện nay
Chính phủ áp dụng chính sách lượng dự trữ gạo đủ 30 ngày và 15 ngày thay cho 90
ngày trước đây. Lượng dự trữ gạo đủ 30 ngày để giải quyết khủng hoảng thiếu gạo
một tháng có thể xảy ra. Một lượng dự trữ gạo nữa đủ 15 ngày sẽ có bất kỳ lúc nào
trong năm để phòng thiếu gạo do thiên tai hay những lí do do con người gây ra. Dự
trữ gạo lấy từ sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu khi thiếu gạo.
Giá gạo trong nước từ 1980-1997 tăng trung bình 13%/năm, chịu ảnh hưởng
của điều kiện cung gạo. Giá trong nước được duy trì cao hơn giá quốc tế. Bảo hộ
đối với người trồng lúa trong nước vẫn được tiếp tục ngay cả khi tham gia WTO.
2.2 Ngô
Ngô cũng như gạo, có vai trò quan trọng sống còn đối với nông nghiệp Philipin,
đặc biệt là để làm thức ăn cho ngành chăn nuôi gia súc và gia cầm đang phát triển
nhanh chóng ở nước này.
Chính phủ đã tiến hành một số chương trình ngô từ năm 1953, bắt đầu từ việc
khuyến khích sản xuất đủ ngô trắng làm thực phẩm, đến việc sản xuất đủ ngô vàng
8
làm thức ăn chăn nuôi và xuất khẩu. Đáng chú ý nhất là Chương trình ngô năm
1974, bao gồm việc áp dụng giống lai mới thụ phấn tự do (OPV) có năng suất 5 tấn
hoặc 3 tấn, đi kèm với hệ thống tín dụng, tập huấn cho nông dân, trợ giúp vật tư sản
xuất như giống, phân bón và thuốc trừ sâu và dịch vụ marketing cho ngô.
Các chương trình này rất hiệu quả trong việc tăng năng suất ngô, bình quân
4%/năm trong 1976-1980. Thành công của các chương trình còn tiếp tục đến 1997,
năng suất có những năm tăng trung bình hơn 8%. Từ những năm 1990, diện tích
trồng ngô giảm xuống do hạn hán 1991-1993 và việc chuyển sang các cây trồng
khác dùng làm cỏ thức ăn và thức ăn ủ, dẫn tới giảm mạnh sản lượng ngô vàng.
Thêm vào đó, sản lượng và diện tích canh tác của ngô trắng giảm, năng suất giữ
nguyên khiến tổng sản lượng ngô giảm trung bình 3%/năm.
Năm 1997, năng suất trung bình của ngô vàng đạt 2,39 Tấn/ha, cao nhất trong
giai đoạn 1980-1997, tăng 10% so với năm 1996 và 7% so với 1995. Ngô vàng
1997 đạt năng suất 1,1 tấn/ha, thấp hơn 1996 là 1% và 1995 là 2%. Chương trình
ngô của Chính phủ trong những năm gần đây chủ yếu tập trung vào đảm bảo ngô
vàng đủ làm thức ăn chăn nuôi. Năng suất ngô trắng giữ nguyên từ 1986-1997, sản
lượng giảm từ 1991-1997 và diện tích giảm từ 1991-1995. Đến năm 1999, sản
lượng ngô của Philipin đạt 4.2 triệu tấn với năng suất trung bình là 1.61 tấn/ha.
Cung cầu ngô: Lượng cung ngô của Philipin chủ yếu từ sản lượng ngô trong
nước, dù trong những năm gần đây tỷ lệ này đang giảm. Nhập khẩu ngô chiếm
trung bình 18% năm từ 1995-1997. Hơn 60% nhu cầu ngô để sản xuất thức ăn chăn
nuôi, chủ yếu là ngô vàng. Ngô làm lương thực chiếm 18-20% tổng nhu cầu và
khoảng 20% còn lại cho mục đích công nghiệp, chủ yếu là ngô trắng. Ngô sử dụng
làm thức ăn chăn nuôi tăng trung bình 5%/năm trong 5 năm gần đây.
Sản lượng ngô trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu ngô của nước này.
Điều này khiến cho Philipin trở thành nước nhập khẩu ngô trừ năm 1988 và 1990.
Nước này vẫn đang tiếp tục thu được những thành quả từ Chương trình Tăng năng
suất ngô. Tuy nhiên, trong thời gian tiến hành Chương trình Tăng Sản lượng Ngũ
cốc 1991-1995, mức thâm hụt ngô tăng mạnh, gấp 3 lần thời kì 1985-1990. Mức
thiếu hụt này càng tăng mạnh hơn vào năm 1996, 1997, lên đến trên 1 triệu tấn.
Nhập khẩu ngô được quyết định khi trữ lượng hoặc sản lượng ngô thấp và cung cấp
ngô không đủ đáp ứng cho những đối tượng tiêu thụ ngô chủ yếu như các nhà máy
chế biến thức ăn chăn nuôi và những người chăn nuôi.
Giá tại chỗ và giá bán buôn ngô trắng tăng trung bình 4%/năm từ 1987-1997,
đối với ngô vàng là 1% và 3%. Giá ngô trong nước cao hơn nhiều so với giá quốc
tế, năm 1996 giá ngô trắng trong nước cao hơn giá quốc tế 257%, ngô vàng là 350%
năm 1994. Biến động giá trong nước phụ thuộc tình hình cung trong nước. Giá ngô
trong nước cao hơn giá quốc tế chủ yếu do chi phí phân phối và marketing cao,
nguyên nhân do quãng đường vận chuyển dài, phí bốc dỡ hàng tại cảng cao, giá
nhiên liệu cao gấp 8 lần so với các nước ASEAN khác .
2.3 Dừa:
9
Ngành dừa là ngành chính trong nền kinh tế Philipin, đặc biệt trong việc thu ngoại
tệ và tạo công ăn việc làm. Sản xuất và diện tích trồng dừa có xu hướng giảm trong
15 năm qua. Thời kì 1986-1990, diện tích, năng suất dừa giảm mạnh do việc chặt
dừa lấy gỗ và giá dầu dừa quốc tế giảm do có nhiều loại dầu thực vật cạnh tranh
cũng như cung dừa từ các nước sản xuất dừa chính như Indonesia, Papua NiuGhinê
tăng lên. Những năm đầu thập niên 1990, sản lượng dừa hồi phục nhưng không
nhiều. Khoảng 90% lượng dừa ở nước này được chế biến thành cùi dừa khô. 5%
lượng cùi dừa khô là để xuất khẩu, 95% chế biến trong nước thành dầu nấu ăn và
dầu công nghiệp khác.
2.4 Đậu tương:
Đậu tương là cây trồng thứ yếu trong nông nghiệp Philipin. Tổng diện tích trồng
đậu tương là 3,6 nghìn ha. Từ năm 1990-1997, diện tích và sản lượng đậu tương
đang giảm, trung bình 10%. Năng suất thấp do không bón phân do giá vật tư cao.
Sản lượng đậu tương trong nước năm 1990-1993 chỉ đạt 6% tổng cung, năm 1994-
1997 giảm khoảng 2% do nhập khẩu lớn trong các năm này. Sản lượng năm 1996 là
2230 tấn và 1997 là 1786 tấn.
2.5 Sắn:
Sắn chỉ được trồng trong các trang trại nhỏ với tổng diện tích canh tác 114 nghìn ha
vào năm 1991. Từ năm 1981-1997, cả sản lượng và diện tích trồng sắn tăng gần
1%/năm. Năm 1997, sản lượng sắn là 1959 tấn trên diện tích 226500 ha. Năng suất
trung bình vào khoảng 8 tấn/ha.
2.6 Khoai tây:
Khoai tây chủ yếu được trồng xen canh ở các vùng đồi và cao nguyên. Diện tích
trồng khoai tây năm 1990 là 4000 ha, tăng lên 10000ha năm 1992 và 1994, giảm
xuống còn 6400 ha năm 1997. Năm 1995, sản lượng khoai giảm xuống còn 85000
tấn, giảm 42% so với năm 1994 (147000 tấn). Diện tích trồng cũng giảm 47%. Việc
tăng sản lượng chủ yếu do tăng diện tích canh tác hơn là tăng năng suất. Năm 1996,
sản lượng tăng 12% so với năm 1995 nhưng đến năm 1997, sản lượng giảm 9%.
2.7 Chăn nuôi gia súc và gia cầm
Là ngành chính trong nông nghiệp Philipin, 7 năm qua, ngành chăn nuôi gia súc và
gia cầm theo thứ tự chiếm 12% và 9% trong GDP nông nghiệp. Nguồn tăng trưởng
chủ yếu của ngành là từ chăn nuôi lợn và gà. Năm 1997, giá trị sản xuất lợn chiếm
13%, gà 9% và bò 2% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp.
2.8 Gà:
Sản lượng thịt gà vào khoảng 497 nghìn tấn năm 1997, chiếm 30% tổng lượng
cung thịt trong nước, chỉ sau thịt lợn. Trong 12 năm vừa qua, sản lượng thịt tăng
nhanh với tốc độ 12%/năm. Sản xuất trong nước gần đáp ứng đủ nhu cầu trong
10
nước. Do đó, nhập khẩu thịt gà dưới dạng thịt tươi và đông lạnh chiếm một phần
không đáng kể trong tổng lượng cung.
2.9 Lợn:
Thịt lợn chiếm khoảng 1/2 tổng lượng cung thịt trong nước. Cung thịt lợn tương đối
ổn định do cải tiến sản xuất trong nước và nhập khẩu giống. Trong 5 năm qua, lợn
được coi là ngành chính trong chăn nuôi. Xu hướng sản xuất lợn đang tăng, trung
bình 5%/năm. Tính đến tháng 1/1997, đàn lợn của nước này có khoảng gần 10 triệu
con. Sản lượng thịt lợn đạt khoảng 1 triệu tấn trong năm 1996, 1997. Khả năng cung
thịt đảm bảo giá thịt ổn định trong nước, trừ năm 1990 giá thịt lợn cao do giá thức
ăn cao.
2.10 Bò:
Bò là động vật nhai lại được nuôi nhiều nhất ở Philipin. Mức độ thương mại hoá
chăn nuôi bò năm 1980 là 23%, giảm xuống còn 9% từ năm 1992 do giảm các khu
chăn thả lớn. Từ 1993-1997, trữ lượng bò tăng 4%/năm. Vào tháng 1/1997, tổng
đàn bò đạt 2,3 triệu đầu con, cao nhất trong giai đoạn 1980-1997. Điều này một
phần do chương trình tự do hoá nhập khẩu của Chính phủ năm 1990-1993 cho phép
nhập khẩu hầu hết các mặt hàng dùng làm thực phẩm hưởng thuế suất thấp, kể cả
động vật sống, đặc biệt là bò để vỗ béo và làm giống. Trữ lượng đàn bò tăng dẫn
đến sản lượng thịt bò tăng, trung bình 5,4%/ năm từ 1980-1997. Sản lượng thịt năm
1997 đạt 160,8 nghìn tấn, cao hơn 1996 là 105 và 1995 là 20%.
11
II. Xuất khẩu nông sản - thế mạnh và tiềm năng của các nước
II. 1. Thái Lan
Trong giai đoạn 1980 - 1996, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông nghiệp hàng
năm là 11%. Xuất khẩu nông sản tăng chủ yếu nhờ sự gia tăng xuất khẩu của một số
mặt hàng quan trọng như gạo, cao su, đường, tôm và gà đông lạnh, trong khi xuất
khẩu ngô đã giảm mạnh do kết quả của sự tăng trưởng ngành chăn nuôi trong nước
làm tăng nhu cầu về thức ăn gia súc. Xuất khẩu ngô giảm ở mức 18,8% trong giai
đoạn 1980 - 1996.
Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 16,5 tỷ USD trong năm 1996, trong
đó gạo là mặt hàng xuất khẩu chính ngay từ những năm đầu thế kỷ19. Trong thế kỷ
20, cao su đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Tiếp theo đó, nhiều mặt
hàng nông sản khác như ngô, sắn, tôm, gà đông lạnh, v.v đã dần trở thành những
ngành hàng xuất khẩu có giá trị. Tỷ lệ đóng góp của gạo và cao su trong tổng kim
ngạch xuất khẩu nông sản đã giảm tương ứng từ 33,7% năm 1960 xuống 12,3%
năm 1996 đối với gạo, và từ 33,8% năm 1960 xuống 15,4% năm 1996 đối với cao
su. Trong hai thập kỷ qua, thuỷ sản đã trở thành một nguồn cung cấp ngoại tệ lớn
cho Thái Lan.
Thái Lan phải đối mặt với những vấn đề kinh tế nghiêm trọng từ năm
1996, và nông nghiệp ước tính chỉ tăng 3% trong năm 1996.
Đối với Thái Lan, nông sản luôn là ngành xuất khẩu quan trọng
a.Gạo: Thương mại gạo của Thái Lan đang được tự do hoá. Gạo có thể được
xuất khẩu sau khi có giấy phép xuất khẩu từ Cục ngoại thương. Trong một thời gian
dài, Thái Lan luôn là một nước xuất khẩu gạo hàng đầu. Với nhịp độ tăng trưởng
nhanh, từ năm 1980 đến năm 1999 Thái Lan là nước xuất khẩu gạo số một trên thế
giới, với số lượng xuất khẩu hàng năm từ 5 đến 5,6 triệu tấn. Riêng năm 1999, xuất
khẩu gạo của nước này đã đạt 6,67 triệu tấn. Dự kiến trong năm 2000, xuất khẩu
gạo của Thái Lan sẽ đạt 6 triệu tấn. Gạo xuất khẩu của Thái Lan chiếm tới 30-40%
lượng gạo xuất khẩu của toàn thế giới. Đối với gạo chất lượng cao, Hoa kỳ là đối
thủ cạnh tranh chính; còn với gạo chất lượng trung bình và thấp, Việt Nam,
Pakistan, Trung quốc và Myanmar là những đối thủ cạnh tranh chủ yếu.
Trong thời kỳ 1980/96, giá trị và số lượng xuất khẩu gạo của Thái Lan tăng ở
mức tương ứng 5,4% và 3,6%. Trong năm 1996, các thị trường nhập khẩu chính của
gạo Thái Lan là Trung quốc, Malaysia, I-ran, Nigeria, Singapore và Hồng Kông.
Năm 1996, trong kim ngạch xuất khẩu nông sản, gạo chiếm vị trí thứ ba sau
cao su và tôm với số lượng ở mức 5,46 triệu tấn và kim ngạch đạt 2 tỷ USD. Lượng
gạo xuất khẩu trong năm 1997 ước đạt 5,3 triệu tấn.
b.Ngô: Ngô bắt đầu có vị trí quan trọng trong nền kinh tế Thái Lan từ năm
1950 khi nó trở thành một nguồn cung cấp ngoại tệ quan trọng. Trong năm 1950,
Thái Lan xuất khẩu 12,6 nghìn tấn ngô với kim ngạch đạt 0,42 triệu USD. Năm
12
1986, xuất khẩu ngô đạt mức đỉnh cao 3,98 triệu tấn trị giá 367 triệu USD (chiếm
82% tổng sản lượng). Xuất khẩu tăng nhanh đã đưa ngô trở thành một trong 4 mặt
hàng nông sản xuất khẩu chính của Thái Lan. Thời kỳ 1980-91, xuất khẩu chiếm
khoảng 75% tổng sản lượng ngô.
Tuy nhiên, trong giai đoạn 1992-96, việc mở rộng của ngành chăn nuôi, đặc
biệt là gà, đã dẫn tới sự gia tăng nhu cầu trong nước về thức ăn gia súc. Do đó, nhu
cầu về ngô làm nguyên liệu cho thức ăn gia súc đã gia tăng đáng kể, dẫn tới giảm
lượng xuất khẩu từ 146 ngìn tấn năm 1992 xuống 56 nghìn tấn năm 1996 với tốc độ
giảm 21%/năm. Khi sản xuất trong nước không đủ đáp ứng nhu cầu, Thái Lan đã
nhập khẩu ngô với mức 445 nghìn tấn năm 1991/92 lên tới 472 nghìn tấn năm
1995/96, chủ yếu từ Trung quốc và Argentina.
c.Sắn: Xuất khẩu sắn của Thái Lan dưới dạng sắn lát, viên tròn, bột và các
dạng khác. Thái Lan là nước xuất khẩu sắn lớn nhất trên thế giới, chiếm khoảng
78% thương mại sắn toàn thế giới. Từ năm 1980 đến năm 1996, xuất khẩu sắn giảm
1,1%/năm, từ 5,2 triệu tấn xuống còn 4,37 triệu tấn. Trong giai đoạn này, kim ngạch
xuất khẩu sắn tăng từ 595 triệu USD năm 1980 lên mức kỷ lục 1,1 tỷ USD năm
1992 và giảm xuống còn 684 triệu USD năm 1996.
Xuất khẩu bột sắn viên sang EU (nước nhập khẩu chính) đã bị hạn chế. Kể từ
năm 1993, xuất khẩu sắn sang khu vực này bị cạnh tranh gay gắt bởi những sản
phẩm ngũ cốc thay thế. Ngành chăn nuôi EU gia tăng sử dụng ngũ cốc trong nước
để làm thức ăn gia súc nên nhập khẩu sắn viên của Thái Lan sang các nước này
giảm mạnh.
Xuất khẩu sắn bột tuy có tăng đôi chút trong thập kỷ qua nhưng lại vấp phải
những hạn chế nhập khẩu do thuế cao và các yêu cầu đặc biệt khác như trộn bột
sắn với đường hay dầu thực vật. Tuy nhiên, mức thuế nhập khẩu bắt đầu giảm dần
theo hiệp định GATT. Triển vọng thị trường cho bột sắn là sáng sủa thậm chí ngay
cả khi phải cạnh tranh với bột ngô hay bột khoai tây.
d. Mía đường: Xuất khẩu mía đường cũng là một trong những hướng
thương mại nông sản quan trọng của Thái Lan, với kim ngạch liên tục tăng. Lượng
đường giành cho xuất khẩu tăng từ 1,9 triệu tấn năm 1986 lên tới 2,9 triệu tấn năm
1989. Trong thời kỷ 1995 - 1998, lượng đường xuất khẩu đạt bình quân 4 triệu tấn
một năm. Do sản xuất đường chủ yếu là theo hướng xuất khẩu nên chi phí tương
đối thấp, chất lượng cao. Chính vì thế, mặc dù giá đường thế giới những năm gần
đây liên tục hạ, nhưng đường của Thái Lan vẫn có sức cạnh tranh trên thị trường thế
giới.
e. Rau quả: Hiện nay, Thái Lan là nước xuất khẩu dứa hộp đứng đầu thế
giới, với tổng giá trị năm 1998 là 5,5 tỷ baht. Các sản phẩm rau quả hộp chủ yếu là:
dứa hộp, rau quả hộp, nước quả hộp. Thị trường nhập khẩu chủ yếu là: Hồng Kông,
Singapor và Nhật Bản.
Năm 1998, Thái Lan xuất khẩu 8,15 triệu tấn rau quả tươi với tổng giá trị
1.430,56 triệu USD, đứng thứ 2 ở khu vực Châu á - Thái Bình Dương (sau Trung
13
Quốc). Quả tươi xuất khẩu chủ yếu là nhãn, vải thiều (năm 1995 xuất 73 ngàn tấn);
50% sản lượng nhãn được giành cho xuất khẩu.
Năm 1998, xuất khẩu rau đóng hộp đã đạt giá trị 2,5 tỷ baht, xuất khẩu rau
tươi đạt 53.000 tấn, trị giá 640 triệu baht.
f. Cao su: Cao su xuất khẩu của Thái Lan bao gồm tấm hun khói, cao su
khối, cao su cô đặc dạng mủ và crêpe. Năm 1960, cao su là mặt hàng xuất khẩu lớn
nhất của Thái Lan do Chiến tranh Triều Tiên đẩy giá xuất khẩu lên tương đối cao.
Tuy nhiên, kể từ đó giá cao su trên thế giới đã có xu hướng đi xuống và trong năm
1967, giá cao su giảm rất thấp và kim ngạch xuất khẩu cao su cũng vì đó suy giảm
nghiêm trọng. Mặc dù tỷ lệ xuất khẩu cao su trong tổng kim ngạch xuất khẩu giảm,
cao su vẫn luôn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Trong năm 1996, cao su là mặt
hàng nông sản xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan. Trong thời kỳ 1980-1996, xuất
khẩu cao su tăng 10% về lượng và 12% về giá trị. Tuy nhiên, từ năm 1996, xuất
khẩu cao su bắt đầu gặp phải thách thức, giảm 9,2% về lượng và 16,2% về giá trị do
nhiều nước nhập khẩu cao su của Thái Lan gặp khó khăn về kinh tế dẫn tới đình trệ
hoạt động sản xuất công nghiệp. Bên cạnh đó, sản xuất cao su trong nước cũng gặp
phải khó khăn do thiếu nhân công và công nghệ sản xuất trong sản xuất cao su mủ
còn lạc hậu. Do vậy, những cải tiến về công nghệ và nghiên cứu là rất cần thiết để
nâng cấp phương tiện chế biến.
Nhật Bản là thị trường nhập khẩu cao su lớn nhất của Thái Lan. Trong giai
đoạn 1982-1996, xuất khẩu cao su sang Nhật Bản tăng 2,6% và chiếm 39% tổng
lượng xuất khẩu. Trung Quốc là nước nhập khẩu cao su lớn thứ hai của Thái Lan
(chiếm 20%) thay thế vị trí của Mỹ (chiếm 12%). Bên cạnh đó, xuất khẩu cao su từ
Thái Lan sang Malaysia cũng tăng 17% do nhu cầu tái suất của nước này gia tăng.
Xuất khẩu cao su trong năm 1997 ước đạt 2,1 triệu tấn với trị giá 2,6 tỷ USD.
g. Gà: Thái Lan bắt đầu xuất khẩu gà đông vào thị trường thế giới từ năm
1975 với trị giá chỉ khoảng 0,4 triệu USD. Sản phẩm xuất khẩu bao gồm gà nguyên
con hay chặt miếng như ức gà không xương, miếng, chân, đùi, cánh. Phần lớn sản
phẩm xuất khẩu là dưới dạng miếng có xương hoặc không xương. Nhật Bản là nước
nhập khẩu gà không xương chính của Thái Lan, chiếm khoảng 80% gà giò đông
lạnh. Các thị trường xuất khẩu khác là Hà Lan, Đức, Singapore, Hong Kong và
Trung Đông. Thái Lan chiếm khoảng 6% thị trường gà thế giới.
Từ năm 1980 đến 1996, xuất khẩu gà đông lạnh tăng 16% về lượng và 20% về
giá trị. Lượng gà xuất khẩu tăng từ 18,5 nghìn tấn với trị giá 26 triệu USD năm
1980 lên 137 nghìn tấn với trị giá 363 triệu USD năm 1996. Xuất khẩu gà tăng
nhanh một phần nhờ đồng Yên tăng giá so với đồng Baht, qua đó làm giảm giá gà
xuất khẩu của Thái Lan. Thêm vào đó, Nhật Bản đã giảm thuế nhập khẩu của gà
không xương từ 18% xuống 14%, và hiện chỉ còn 12%. Nhờ đó, chi phí gà đông
lạnh xuất khẩu giảm. Thái Lan cũng xuất khẩu gà sống làm giống và cho các mục
đích khác nhưng với số lượng thấp và chủ yếu sang các nước láng giềng. Từ năm
1980 đến năm 1996, xuất khẩu gà giống tăng 26% về lượng và 35% về giá trị. Xuất
khẩu gà sống cho các mục đích khác tăng 25% trong cùng khoảng thời gian đó.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét