Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Tài liệu Chuyên đề tốt nghiệp - Kế toán tập hợp (3) ppt

Như đã trình bày ở trên, sản xuất XDCB có những đặc thù riêng từ
đó làm cho việc quản lý về XDCB khó khăn phức tạp hơn một số ngành
khác. Chính lẽ đó, trong quá trình đầu tư, XDCB phải đáp cứng được các
yêu cầu là :" Công tác quản lý đầu tư XDCB phải đảm bảo tạo ra
những sản phẩm dịch vụ được xã hội và thị trường chấp nhận về giá
cả, chất lượng và đáp ứng các mục tiêu phát triển KT-XH trong từng
thời kì, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH, đẩy mạnh
tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân.
Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn vốn đầu
tư trong nước cũng như các nguồn vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào
Việt Nam, khai thác tốt tài nguyên, tiềm năng lao động, đất đai và mọi
tiềm lực khác nhằm động viên tất cả những tiềm năng của đất nước
phục vụ cho quá trình tăng trưởng phát triển nền kinh tế, đồng thời
bảo vệ môi trường sinh thái. Xây dựng phải theo quy hoạch được
duyệt, thiết kế hợp lý, tiên tiến, thẩm mĩ, công nghệ hiện đại, xây dựng
đúng tiến độ đạt chất lượng cao với chi phí hợp lý và thực hiện bảo
hành công trình"
(Trích điều lệ Quản lý và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định
số 177/CP ngày 20/10/1994 của Chính phủ {03}).
ở nước ta trong nhiều năm qua, do việc quản lý vốn đầu tư trong
lĩnh vực XDCB chưa thật chặt chẽ đã để xảy ra tình trạng thất thoát vốn
đầu tư và kéo theo đó là hàng loạt các hậu quả nghiêm trọng khác Từ
thực trạng đó, Nhà nước đã thực hiện quản lý xây dựng thông qua việc
ban hành các chế độ, chính sách về giá, các nguyên tắc các phương pháp
lập dự toán, các căn cứ định mức kinh tế- kỹ thuật Từ đó xác định tổng
mức VĐT, tổng dự toán công trình nhằm hạn chế sự thất thoát vốn đầu
tư của Nhà nước, nâng cao hiệu quả cho quá trình đầu tư.
5
Trong cơ chế thị trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu của các
Doanh nghiệp (DN) nói chung phải tăng cường quản lý kinh tế mà trước
hết là quản lý chi phí sản xuất và tính giá sản phẩm.
1.1.2.2. Nhiệm vụ của công tác quản lý hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Để đáp ứng được yêu cầu trên, kế toán ngành phải thực hiện các
nhiệm vụ sau:
- Tham gia vào việc lập dự toán chi phí sản xuất xây lắp trên
nguyên tắc phân loại chi phí.
- Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng
tính giá thành sản phẩm xây lắp.
- Tổ chức kế toán chi phí xây lắp theo đúng đối tượng và phương
pháp đã xác định trên sổ kế toán.
- Xác định đúng chi phí xây lắp dở dang làm căn cứ tính giá thành.
- Thực hiện tính giá thành sản phẩm kịp thời, chính xác.
- Phân tích tình hình thực hiện định mức chi phí và giá thành sản
phẩm để có quyết định trước mắt cũng như lâu dài.
1.2. Những vấn đề lý luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây dựng cơ bản.
1.2.1. Khái niệm chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất trong
Xây dựng cơ bản.
1.2.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất.
Như đã biết, bất kỳ một doanh nghiệp lớn hay nhỏ…muốn tiến hành
sản xuất cũng cần bỏ ra những chi phí nhất định. Những chi phí này là điều
kiện vật chất tiền đề, bắt buộc để các kế hoạch, dự án xây dựng trở thành hiện
thực. Trong quá trình tái sản xuất mở rộng thì giai đoạn sản xuất là giai đoạn
quan trọng nhất- nơi đó luôn diễn ra quá trình biến đổi của cải, vật chất, sức
lao động (là các yếu tố đầu vào), đề tạo ra các sản phẩm, hàng hoá - tiền tệ thì
các chi phí bỏ ra cho hoạt động sản xuất đều được biểu hiện dưới hình thái giá
6
trị (tiền tệ). Hiểu một cách chung nhất, chi phí sản xuất là toàn bộ hao phí về
lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà các Doanh
nghiệp phải bỏ ra tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
Nếu xét ở một phạm vi hẹp hơn, chi phí sản xuất XDCB là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cùng các chi phí
khác mà DN phải bỏ ra để tiến hành sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
1.2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất trong sản xuất cơ bản.
Trong XDCB, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có nội dung
kinh tế,công dụng và yêu cầu quản lý đối với từng loại khác nhau. Việc
quản lý chi phí, không chỉ dựa vào số liệu tổng hợp mà còn căn cứ vào
số liệu cụ thể của từng loại chi phí theo từng công trình (CT). Hạng mục
công trình (HMCT). Do đó, phân loại chi phí sản xuất là một yêu cầu tất
yếu để hạch toán chính xác chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
1.2.1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của
chi phí.
Theo cách phân loại này các chi phí nội dung, tính chất kinh tế
giống nhau được xếp vào một yếu tố, không phân biệt chi phí đó phát
sinh trong lĩnh vực nào, ở đâu, mục đích và tác dụng của chi phí đó như
thế nào.
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành các yếu
tố sau đây.
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại
nguyên vật liệu chính, vật liệu phục, phụ tùng thay thế, thiết bị
XDCB mà doanh nghiệp đã sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ
như: Xi măng, sắt, thép, cát, đá, các loại dầu mỡ vận hành máy móc…
- Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền lương phải trả và các
khoản trích theo lương của các công nhân sản xuất trong kỳ.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp
trích khấu hao cho tất cả các loại TSCĐ tham gia hoạt động xây lắp
7
như : các loại máy thi công (máy vận thăng, máy cẩu…), nhà xưởng,
phương tiện vận chuyển…
- Chi phí dịch mua ngoài: Là toàn bộ số tiền DN đã chi trả về các
loại dịch mua ngoài: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại…phục vụ cho
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ các chi phí dùng cho hoạt
động sản xuất ngoài chi phí kể trên.
Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí giúp
nhà quản lý biết được kết cấu tỷ trọng từng loại chi phí trong tổng chi
phí qua đó đánh giá được tình hình thực hiện dự toán chi phí. Hơn nữa,
cách phân loại này còn là cơ sở để lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu
tố trên Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, xây dựng định mức Vốn lưu
động, lập kế hoạch mua sắm vật tư, tổ chức lao động tiền lương, thuê
máy thi công…
1.2.1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí.
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích và công dụng của
chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi
khoản mục chi phí bao gồm những chi phí có cùng mục đích và công
dụng.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ trị giá nguyên vật
liệu sử dụng trực tiếp cho thi công công trình mà đơn vị xây lắp bỏ ra
(vật liệu chính, vật liệu phụ, cấu kiện bê tông chế sẵn…) chi phí này
không bao gồm thiết bị do chủ đầu tư bàn giao.
- Chi phí nhân công trực tiếp: gồm toàn bộ tiền lương chính, lương
phụ và phụ cấp của công nhân trực tiếp sản xuất, công nhân vận chuyển
vật liệu thi công, công nhân làm nhiệm vụ bảo dưỡng, dọn dẹp trên công
trường.
- Chi phí sử dụng máy thi công: Gồm chi phí trực tiếp liên quan
đến việc sử dụng máy thi công để thực hiện công tác xây dựng và lắp đặt
8
các CT, HMCT bao gồm: Tiền lương công nhân điều khiển máy, nhiên
liệu, khấu hao máy thi công, v.v
- Chi phí sản xuất chung: Bao gồm các chi phí có liên quan đến tổ,
đội xây lắp, tức là liên quan đến nhiều CT, HMCT. Nội dung của các
khoản chi phí này bao gồm: lương công nhân sản xuất, lương phụ của
công nhân sản xuất, khấu hao TSCĐ (không phải là khấu hao máy móc
thi công), chi phí dịch vụ mua ngoài (điện, nước, văn phòng
phẩm….),chi phí bằng tiền khác: Chi phí tiếp khách, nghiệm thu bàn
giao công trình.
Các phân loại này phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất
theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm và
phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, từ đó lập định mức chi
phí sản xuất và kế hoạch giá thành cho kỳ sau.
Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp và phương pháp lập dự toán
trong XDCB là dự toán được lập cho từng đối tượng theo các khoản mục
giá hành nên cách phân loại chi phí theo khoản mục là phương pháp sử
dụng phổ biến trong các DNXDCB.
Trên đây là các cách phân loại chi phí sản xuất thường dùng trong
doanh nghiệp XDCB, ngoài ra chi phí sản xuất còn được phân loại thành:
Định phí và biến phí, chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
1.2.2. Giá thành và phân loại giá thành sap xây lắp.
1.2.2.1. Giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong sản xuất, chi phí sản xuất chỉ là một mặt thể hiện sự hao
phí, để đánh giá chất lượng SX-KD của một doanh nghiệp, chi phí sản
xuất phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với kết quả sản xuất
quan hệ so sánh đó hình thành nên khái niệm giá thành sản phẩm.
Gía thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ các chi phí về lao động và
lao động vật hoá được biểu hiện bằng tiền để hoàn thành một khối lượng
sản phẩm xây lắp trong kỳ.
9
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế chất lượng tổng hợp
quan trọng bao quát mọi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.2.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp.
Trong XDCB, giá thành sản phẩm thường được phân loại theo các
tiêu thức sau đây.
1.2.2.2.1. Căn cứ vào thời điểm và cơ sở số liệu để tính giá thành, giá
thành sản phẩm được phân loại thành:
- Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối
lượng xây lắp CT, HMCT được xác định trên cơ sở các định mức kinh
tế- kỹ thuật và đơn giá của Nhà nước ban hành.
Giá thành dự toán
của CT, HMCT
=
Giá trị dự toán
của CT, HMCT
- Lãi định mức
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được xây dựng trên cơ sở
những điều kiện cụ thể của doanh nghiệp về các định mức đơn giá, biện
pháp thi công…giá thành kế hoạch được xác định theo công thức:
Giá thành kế
hoạch của CT,
HMCT
=
Giá thành dự
toán của CT,
HMCT
-
Mức hạ giá
thành kế hoạch
- Giá thành thực tế: là biểu hiện bằng tiền của những chi phí thực
tế để hoàn thành khối lượng xây lắp. Căn cứ vào kết quả đánh giá sản
phẩm dở dang cuối kỳ, chi phí sản xuất được tập hợp trong kỳ. Giá thành
sản phẩm bàn giao được xác định theo công thức.
Giá thành
thực của KL
xây lắp HT
bàn giao
=
CP thực tế
KL xây lắp
dở dang
đầu kỳ
-
CP thực tế
phát sinh
trong kỳ
-
CP khối
lượng xây lắp
dở dang cuối
kỳ
Cũng cần phải nói thêm rằng, muốn đánh giá được chất lượng của
công tác xây lắp, ta phải tiến hành so sánh các loại giá thành với nhau.
10
Nói chung, để đảm bảo có lãi, về nguyên tắc khi xây dựng kế hoạch giá
thành và tổ chức thực hiện kế hoạch giá thành phải đảm bảo mối quan hệ
sau.
Giá thành thực tế <Giá thành kế hoạch < Giá thành dự toán.
1.2.2.2.2. Căn cứ vào phạm vi tính giá thành, giá thành sản phẩm được
phân loại thành:
- Giá thành sản phẩm hoàn chỉnh: Là giá thành của CT, HMCT đã
hoàn thành đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chất lượng theo thiết kế, hợp đồng
được chủ đầu tư chấp nhận thanh toán.
- Giá thành công tác xây lắp hoàn thành quy ước: Là giá thành của
khối lượng hoàn thành đến một giai đoạn nhất định và phải đảm bảo điều
kiện.
+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng quy định.
+ Khối lượng phải được xác định một cách cụ thể, được Chủ đầu
tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán
+ Phải đạt được đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý.
1.2.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Để tiến hành hoạt động sản xuất, doanh nghiệp phải bỏ ra những
chi phí nhất định như: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi
phí máy móc thi công Kết quả là Doanh nghiệp thu được những sản
phẩm là các CT, HMCT…Các CT, HMCT cần phải tính giá thành tức là
chi phí đã bỏ ra để có chúng. Do vậy, chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm là hai mặt của một quá trình.
Chi phí sản xuất và giá thành giống nhau về chất nhưng khác nhau
về lượng. Nội dung cơ bản của chúng đều là biểu hiện bằng tiền của
những chi phí mà Doanh nghiệp đã bỏ ra trong hoạt động sản xuất.
Trong khi chi phí sản xuất là tổng thể các chi phí trong một thời kỳ nhất
định thì giá thành sản phẩm lại là tổng các chi phí gắn liền với một khối
lượng xây lắp hoàn thành bàn giao. Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ
11
liên quan đến những sản phẩm đã hoàn thành mà còn liên quan đến cả
chi phí của sản phẩm dở dang cuối kì. Trong khi đó, giá thành sản phẩm
liên quan đến cả chi phí của khối lượng công tác xây lắp trước chuyển
sang nhưng laị không bao gồm chi phí thực tế của khối lượng dở dang
cuối kì. 1.3. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong Doanh nghiệp xây dựng cơ bản.
1.3.1. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
1.3.1.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để
tập hợp chi phí nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm soát chi phí và tính giá
thành sản phẩm. Như vậy, thực chất của việc xác định đối tượng kế toán
tập hợp chi phí sản xuất là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí hay xác
định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.
Để xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp chi phí cần căn
cứ vào các yếu tố sau đây.
+ Đặc điểm và công dụng của chi phí trong quá trình sản xuất.
+ Đặc điểm, cơ cấu tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ, chế
tạo sản phẩm (giản đơn, liên tạc hay song song…)
+ Loại hình sản xuất sản phẩm (Đơn chiếc hay hàng loạt…)
+ Yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu hạch toán kế toán
nội bộ Doanh nghiệp.
+ Khả năng trình độ quản lý nói chung và hạch toán nói riêng của
Doanh nghiệp.
…………
1.3.1.2. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất.
Đối với XDCB, do phát sinh nhiều chi phí mà quá trình sản xuất
lại phức tạp và sản phẩm mang tính đơn chiếc có quy mô lớn và thời
gian sử dụng lâu dài. Mỗi CT lại bao gồm nhiều HMCT, nhiều công việc
khác nhau nên có thể áp dụng phương pháp tập hợp chi phí sau:
12
1.3.1.2.1. Phương pháp tập hợp theo công trình, hạng mục công trình.
Theo phương pháp này, hàng kỳ (quý, tháng), các chi phí phát sinh
có liên quan đến CT, HMCT nào thì tập hợp cho CT, HMCT đó. Giá
thành thực tế của đối tượng đó chính là tổng chi phí được tập hợp kể từ
khi bắt đầu thi công đến khi CT, HMCT hoàn thành. Phương pháp này
được sử dụng khi đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ CT, HMCT.
1.3.1.2.2. Phương pháp tập hợp chi phí theo đơn đặt hàng.
Theo phương pháp này, hàng kỳ chi phí phát sinh được phân loại
và tập hợp theo từng đơn đặt hàng (ĐĐH) riêng. Khi ĐĐH được hoàn
thành thì tổng chi phí phát sinh được tập hợp chính là giá hành thực tế.
Phương pháp này được sử dụng khi đối tượng tập hợp chi phí là các
ĐĐH riêng.
1.3.1.2.3. Phương pháp tập hợp chi phí theo đơn vị thi công.
Theo phương pháp này, các chi phí phát sinh được tập hợp theo
từng đơn vị thi công công trình. Trong từng đơn vị thi công đó, chi phí
lại được tập hợp theo từng đối tượng chịu chi phí như: CT, HMCT. Cuối
tháng tập hợp chi phí ở từng đơn vị thi công để so sánh với dự toán. Trên
thực tế có nhiều yếu tố chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng,
khi đó chi phí cần được phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí một
cách chính xác và hợp lí, có thể sử dụng các phương pháp tập hợp sau:
+ Phương pháp tập hợp trực tiếp.
Phương pháp này áp dụng đối với những chi phí có liên quan đến
một đối tượng kế toán tập hợp chi phí. Trong trường hợp này, kế toán
căn cứ vào các chứng từ gốc để tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng.
+ Phương pháp phân bổ gián tiếp.
Phương pháp này áp dụng khi một loại chi phí có liên quan đến
nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất (CPSX), không thể tập
hợp trực tiếp cho từng đối tượng. Trường hợp này phải lựa chọn tiêu
13
thức hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho từng đối tượng liên quan
theo công thức.
Ci =
C
x t
i
T
i
Trong đó - Ci: Chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng thứ i.
- C: Tổng chi phí sản xuất cần phân bổ
- T
i
: Tổng đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ.
- t
i
: Đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ của
đối tượng i
1.3.1.3. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong Doanh nghiệp xây
dựng cơ bản theo chế độ kế toán hiện hành.
Đối với Doanh nghiệp xây lắp, do đặc điểm sản phẩm, ngành nghề
riêng biệt: Các sản phẩm xay lắp thường mang tính đơn chiếc với quy
mô lớn, quy trình công nghệ phức tạp nên theo QĐ 1864/1998/QĐ-BTC
ban hành ngày 16/12/1998 về chế độ kế toán áp dụng cho doanh nghiệp
xây lắp thì trong hệ thống tài khoản đã bỏ và thay thế một số tài khoản,
trong đó bỏ TK611- “Mua hàng”; TK631 “Giá thàn sản xuất”. Vì thế cơ
bản chỉ tồn tại và được áp dụng phương pháp KKTX.
1.3.1.3.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
*TK sử dụng:
Để phản ánh chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CP NVLTT), kế
toán sử dụng TK621 “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”. TK này được
sản xuất để tập hợp các chi phí nguyên liệu, vật liệu sản xuất trực tiếp
cho hoạt động xây lắp các CT, HMCT hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ của
Doanh nghiệp xây lắp phát sinh trong kỳ, TK này được mở chi tiết cho
từng đối tượng tập hợp chi phí và cuối kỳ kết chuyển sang TK 154 “Chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang’
1.3.1.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
- Tài khoản sử dụng:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét