Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

Thiết kế website đăng ký kinh doanh qua mạng

Đồ án tốt nghiệp Trang 5
LỜI NÓI ĐẦU
Nhằm góp phần vào công cuộc xây dựng chính phủ điện tử và áp dụng công
nghệ thông tin vào thực tiển cuộc sống, mọi người bất cứ ai muốn hoạt động kinh
doanh một cách hợp pháp đều phải đến Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư của tỉnh nhà để
đăng ký thành lập Doanh Nghiệp, mà hiện nay vấn đề đăng ký kinh doanh vẫn còn
làm mất thời gian và bất tiện cho không ít người, chính vì vấn đề bức thiết đó đã giúp
tôi nảy sinh ý tưởng là thiết kế một WebSite “Đăng Ký Kinh Doanh Qua
Mạng” cho Sở Kế Hoạnh Và Đầu Tư Bà Rịa – Vũng Tàu.
WebSite này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các Doanh Nghiệp có thể đăng ký
kinh doanh một cách dể dàng và nhanh chống với chi phí thấp nhưng hiệu quả lại
cao. Mọi người không cần phải trực tiếp đến Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư để đăng ký
thành lập Doanh Nghiệp cho mình mà có thể ngồi tại nhà nhưng lại xem được đầy
đủ những thông tin hướng dẫn cũng như những thủ tục đăng ký kinh doanh rất rỏ
ràng và chi tiết, rồi sau đó tự đăng ký kinh doanh cho mình. Ngồi ra qua Website này
các doanh nghiệp có thể cùng trao đổi thông tin với nhau hoặc với Sở Kế Hoach Đầu
Tư thông qua muc Diễn Đàn Doanh Nghiệp.
Trong bản báo cáo này, tôi xin trình bày quá trình phân tích, thiết kế một hệ
thống quản lý đăng ký kinh doanh qua mạng cho “Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư Tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu” với hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server của hãng MICROSOFT.
Bản báo cáo gồm ba phần chính:
Phần 1. Tổng quan về cơ sở lý thuyết
Phần 2. Khảo sát và phân tích hệ thống
Phần 3. Hiện thực chương trình
Sau quá trình tìm hiểu và thiết kế, nay tôi đã hồn thành. Tuy nhiên, thời gian
nghiên cứu có hạn, kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế nên trong quá trình phân
tích, thiết kế cho hệ thống sẽ không tránh khỏi được những sai sót. Rất mong sự góp
ý của thầy cô và phòng đăng ký kinh doanh cùng các bạn sinh viên gần xa để tôi có
thể hoần thành tốt hơn Website của mình .
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Nguyễn Đức Thuần và các Cô Chú đang
công tác tại Sở Kế Hoạch Đầu Tư đã hướng dẫn và tạo nhiều điều kiện thuận lợi
cho tôi hồn thành tốt Đồ Aùn của mình.
Nha Trang, tháng 08 năm 2003
Sinh viên thực hiện
Lê Hữu Xuân
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 6
PHẦN 1.
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
PHẦN 1.
TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Đồ án tốt nghiệp Trang 7
CHƯƠNG I.

GIỚI THIỆU VỀ WORD WIDE WEB
Ι.1. Lịch sử
Web được sinh ra bởi Internet, và nó cho thấy khả năng tự trị và giới hạn của kiến
trúc Internet. Ngày nay, các chương trình duyệt Web có các khả năng truy cập vào các
công nghệ Internet khác nhau như : Emai, Word Wide Web…. Nhưng Web và Internet
không chỉ là một ngành kỹ thuật mà đó là môi trường để con người liên lạc, học tập, và
tác động qua lại nhau trong cùng một môi trường văn hóa.
Năm 1926, Paul Baran, mô tả trên giấy lời giải một vấn đề làm đau đầu các nhà
quân sự lúc bấy giờ, tựa :”Liên lạc phân tán qua mạng “. Anh ta đưa ra một hệ thống
máy tính rộng khắp đất nước kết nối lại với nhau sử dụng hệ thống mạng không tập
trung (decentralized) do đó nếu một hay nhiều node mạng chính bị phá hủy thì các node
còn lại vẫn tự động điều chỉnh các kết nối để duy trì việc liên lạc.
Do mạng là không tập trung (decentralized), nên ta có thể thêm vào một máy tính
thông qua đường dây điện thoại, một thiết bị phần cứng, và một số phần mềm NCP
(network control protocol), ví dụ mạng ARPAnet.
Một ứng dụng chính được phát triển đầu tiên trên ARPAnet là thư điện tử
(electronic mail). Ngày nay, email là một phần không thể thiếu được của Net và nó được
thiết kế sẵn bên trong các trình duyệt Web (ví dụ netscape) do đó một chương trình đơn
lẻ để xem email là không cần thiết.
Ι.2. Giao thức TCP/IP
Vào những năm 1970, nhu cầu trao đổi truyền tin trên các mạng phân biệt có
“ngôn ngữ ” khác biệt nhau là cần thiết. Năm 1974, Vint Cerf và Bob Kahn đã đưa ra
việc thiết kế chi tiết cho một protocol để liên lạc giữa các mạng khác nhau. Đến năm
1982, việc thiết kế này được cài đặt và được gọi là TCP/IP (Transmission control
protocol /Internet protocol).
Phần TCP của giao thức TCP/IP cung cấp cơ chế kiểm tra việc truyền dữ liệu giữa
Client và Server: nếu dữ liệu bị mất hay hỏng TCP sẽ yêu cầu gởi lại dữ liệu cho đến
khi hết các lỗi.
Phần IP trong giao thức TCP/IP di chuyển dữ liệu từ node này sang node khác. Nó
sẽ giải mã các địa chỉ và tìm đường để đưa dữ liệu đến đích. Nó có thể sử dụng bởi các
máy tính nhỏ để liên lạc trên các mạng LAN (ethernet hay token ring) có thể sử dụng cả
giao thức TCP/IP và các giao thức khác nhau như novel hay window for workgroups.
Một máy có thể ở mạng LAN và sử dụng TCP/IP để kết nối với các máy khác trên thế
giới .
Bộ quốc phòng Mỹ nhanh chóng định nghĩa TCP/IP như protocol chuẩn cho các
hệ thống liên mạng của quân sự. Tuy nhiên với ưu thế của mình TCP/IP nhanh chóng
thâm nhập và trở thành chuẩn mới cho tất cả các hệ thống mạng dân dụng và là tiền đề
cho mạng Internet ngày nay .
Telnet
TCP/IP cung cấp khả năng login từ xa thông qua giao thức của telnet. Với telnet,
User có thể liên kết và tìm thông qua các thư mục trên một hệ thống ở xa và chạy các
chương trình.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 8
Ι.3. Giao thức FTP
File transfer protocol: là một phần mềm (software) cho phép truyền file nhị phân
hoặc file text từ một máy này sang máy khác trên Internet, hay nói khác hơn, FTP là
dịch vụ (service) cho phép chúng ta sao chép một file từ bất kỳ Internet host này đến bất
kỳ Internet host khác.
Giống như những dịch vụ khác trên Internet, FTP sử dụng hệ thống Client /Server.
Một hệ thống Client /Server có thể hiểu như sau:
Khái quát:
Một trong những nguyên tắc sử dụng mạng là cho phép chia sẻ các tài nguyên. Rất
nhiều thời gian việc chia sẻ này được hồn thành bởi hai chương trình riêng biệt, mỗi
chương trình chạy trên máy tính khác nhau. Một chương trình gọi là Server, cung cấp
một tài nguyên riêng. Chương trình kia gọi là Client để sử dụng tài nguyên đó.
Dịch vụ này có tên là FTP, để kết nối vào một chương trình Server trên máy tính
từ xa. Bằng cách sử dụng chương trình Client chúng ta phát ra những lệnh được chuyển
đến Server. Server sẽ trả lời bằng cách tải những gì mà tập lệnh tới nơi phát ra yêu cầu
đó.
Để sử dụng, dùng lệnh FTP và mô tả địa chỉ của host từ xa mà chúng ta muốn kết
nối vào.
Anonymous FTP:
Khi dùng FTP để chuyển file từ máy này đến máy khác trên Internet, có một vài
hạn chế: Chúng ta không thể truy cập vào một máy tính trừ khi được sự cho phép. Nghĩa
là chúng ta phải có User ID (account name) và password thì mới xâm nhập vào được.
Khi sử dụng chương trình FTP để kết nối vào một anonymous FTP host, nó hoạt
động giống như nghi thức FTP, ngoại trừ khi nó đòi hỏi một User ID, nó là anonymous.
Khi nó đòi hỏi password, chúng ta đánh vào địa chỉ email hoặc tên của mình.Vì vậy,
người quản trị hệ thống có thể lần ra dấu vết ai đang truy cập vào files của họ.
Khi người quản trị hệ thống cài đặt một máy tính như là một anonymous FTP host
định rõ những thư mục dùng cho việc truy cập chung. Như một biện pháp an tồn, hầu
hết những anonymous FTP host cho phép User download file, nhưng không cho phép
upload file (chép lên Server).
Nếu như một anonymous cho phép upload, người quản trị hệ thống yêu cầu User
copy tất cả những file mới này để chỉ thư mục upload đã xác định trước đó. Sau đó,
người quản trị hệ thống có dịp kiểm tra những file này, rồi chuyển chúng đến một trong
những thư mục download chung. Bằng cách này có thể ngăn chặn được nhiều người,
bảo vệ họ khỏi upload những file có thể phá hoại hệ thống.
Như một User trên Internet, chúng ta có thể sử dụng nghi thức FTP để sao chép
file giữa hai host bất kỳ trên Internet. Thực tế, mặc dù hầu hết mọi người chỉ có một tài
khoản (account) duy nhất trên Internet và nghi thức FTP hầu như được sử dụng để
download file dùng chung.
I.4. Giao Thức Word Wide Web
Word Wide Web là một tập protocol sử dụng cấu trúc trang (Web page) để cung
cấp các thông tin cho User chạy Web Client software như netscape, navigator… Nó
không những cho phép kết nối dữ liệu từ những Web page khác nhau hoặc từ những vị
trí khác nhau trong một trang mà còn cho phép truy xuất đến các Internet services khác.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
HTTP
HTTP
HTML
Page
Window NT Server
Public
Internet or
Private
Internet
SQL Server
DBMS
Internet
Informatio
n Server
(Web
Server)
Active
Server Page
HTML
Form
Internet Explorer
other Web
Browser
Database
Server
Any Client Platform
Đồ án tốt nghiệp Trang 9



Hình :Cấu Trúc Web
Web có khả năng liên kết với những loại tài nguyên của Internet như: một file văn
bản, một phiên kết nối của telnet….
Giống như nhiều tài nguyên khác trên Internet, Web dùng một hệ thống
Client/Server. Các Client được gọi là Web Browser dùng để truy cập vào mọi dịch vụ và
tài nguyên trên Internet. Điều quan trọng nhất là một Browser cũng biết cách kết nối vào
Web Server để đưa ra các tài liệu hypertext công cộng.
Có rất nhiều Web Server nằm khắp nơi trên mạng Internet và hầu hết chúng
chuyên về một lĩnh vực nào đó.
Sự bùng nổ Web
Web sử dụng công nghệ mới HTML (hypertext markup language ) được sử dụng
để viết trang Web, một máy Web Server sử dụng HTTP (hypertext transfer protocol) để
truyền các trang này và một trình duyệt Web tại máy Client để nhận dữ liệu, xử lý và
đưa ra kết quả.
HTML là một ngôn ngữ đánh dấu (markup) có nghĩa là các trang Web chỉ có thể
xem thông qua một chương trình duyệt Web.
Vào năm 1993, National Center for SupercomputingApplications (NCSA) tại đại
học Illinois đưa ra phiên bản Mosaic, một chương trình Web được thiết kế bởi Marc
Andreessen. Nó đã lan rộng trên Internet và chỉ trong vòng một năm có đến hai triệu
người sử dụng Web với Mosaic. Mọi người cùng tạo và truy cập các trang Web. Đó là
sự phát triển rất lớn chưa từng có trong lịch sử phát triển máy tính.
Vào giữa năm 1993 có 130 sites trên Word Wide Web. Sáu tháng sau có hơn sáu
trăm sites. Ngày nay, có gần một trăm nghìn Web Sites trên thế giới.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 10
CHƯƠNG II.
SƠ LƯỢC VỀ CÁC MÔ HÌNH CSDL TRÊN MẠNG
II.1. Một số khái niệm cơ bản
II.1.1. Công nghệ Client /Server
Công nghệ Client /Server thực hiện việc phân tán xử lý giữa các máy tính. Về bản
chất, một cộng nghệ được chia ra và xử lý bởi nhiều máy tính. Các máy tính được xem
là Server thường được dùng để lưu trữ tài nguyên để nhiều nơi truy xuất vào. Các Server
sẽ thụ động chờ để giải quyết các yêu cầu từ các Client truy xuất đến chúng. Một Client
đưa ra yêu cầu về thông tin hoặc về tài nguyên cho Server. Server sẽ lấy thông tin và gởi
đến cho Client và Client hiển thị thông tin đó cho người dùng. Chỉ có máy tính nào thực
hiện tác vụ Client / Server mới được gọi là máy Client hay Server và chương trình chạy
trên máy này được gọi là chương trình Client hay Server.
II.1.2. Internet
Internet là một mạng máy tính có phạm vi tồn cầu bao gồm nhiều mạng nhỏ cũng
như các máy tính riêng lẻ được kết nối với nhau để có thể liên lạc và trao đổi thông tin.
Trên quan điểm Client / Server thì có thể xem Internet như là mạng của các mạng của
các Server, có thể truy xuất bởi hàng triệu Client.
Việc chuyển và nhận thông tin trên Internet được thực hiện bằng nghi thức
TCP/IP. Nghi thức này gồm hai thành phần là Internet protocol (IP) và transmission
control protocol (TCP). IP cắt nhỏ và đóng gói thông tin chuyển qua mạng, khi đến máy
nhận, thì thông tin đó sẽ được ráp nối lại. TCP bảo đảm cho sự chính xác của thông tin
được chuyền đi cũng như của thông tin được ráp nối lại đồng thời TCP cũng sẽ yêu cầu
truyền lại tin thất lạc hay hư hỏng .
II.1.3. Web Server
Tùy theo thông tin lưu trữ và mục đích phục vụ mà các Server trên Internet sẽ
được phân chia thành các loại khác nhau như Web Server, email Server hay FTP Server.
Mỗi loại Server sẽ được tối ưu hóa theo mục đích sử dụng.
Web Server là Web cung cấp thông tin ở dạng siêu văn bản (các tập tin HTML ),
được biểu diễn ở dạng trang. Các trang có chứa các liên kết tham chiếu đến các trang
khác hoặc đến các tài nguyên khác trên cùng một Web Server một trên một Web Server
khác.
II.1.4. Cơ sở dữ liệu (CSDL)
Cơ sở dữ liệu là một sưu tập thông tin về một chủ đề, nhằm tổ chức hợp lý nhằm
đạt đến mục đích quản lý, tìm kiếm và xử lý thông tin được thuận tiện và nhanh chóng.
II.2. Kết hợp CSDL và Web
Trong quá trình khai thác Web Server, do sự bùng nổ thông tin nên số lượng các
trang Web (mà vốn được lưu trữ dưới dạng các tập tin) tăng lên rất nhanh dẫn đến việc
quản lý Web Server ngày càng trở nên khó khăn. Web Server là trọng tâm của hệ thống,
do đó việc quản lý tốt Web Server sẽ làm cho tồn bộ hệ thống hoạt động tốt hơn. Trong
vô số các trang Web chứa trong một Web Server người ta thấy rằng rất nhiều trang mà
nội dung của chúng hồn tồn có thể đưa vào CSDL. Nếu thay những trang Web như trên
bằng một trang Web duy nhất có khả năng hiển thị thông tin lấy từ cơ sở dữ liệu thì tốt
hơn tìm kiếm trên những tập tin rời rạc.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 11
Như vậy vấn đề quản lý tốt Web Server dẫn đến việc xây dựng một CSDL lưu trữ
thông tin.
Khi xây dựng một ứng dụng CSDL, ngoại trừ CSDL đó chỉ phục vụ cho mục đích cá
nhân, còn không thì xem xét việc tạo khả năng để nhiều người có thể truy xuất đến CSDL.
Muốn vậy thì cần có một hệ thống gồm nhiều máy tính, tất cả đều được kết nối với nhau và
với Server chứa CSDL. Khi đó sẽ nảy sinh một số vấn đề sau:
- Với trường hợp những người muốn truy xuất đến ở xa Server với một khoảng vài
km, vài trăm hay vài ngàn km, nhưng việc thiết lập riêng một hệ thống mạng trên diện
rộng đến như thế là không khả thi.
- Các máy tính truy xuất đến CSDL có thể thuộc nhiều họ máy, chạy trên nhiều hệ
điều hành khác nhau. Do đó cần phải xây dựng các ứng dụng thích hợp với các nền tảng
đó, và các ứng dụng này sẽ được phân tích tại mỗi Client. Sau một thời gian khai thác,
khi dó nhu cầu sừa đổi các ứng dụng Client thì phải sửa các ứng dụng trên từng Client.
Có một số chuyên gia cho rằng Worl Wide Web là một giải pháp cho vấn đề này,
vì các lý do sau:
- Hỗ trợ đa nền tảng.
- Hỗ trợ mạng.
II.2.1. Hỗ trợ đa nền tảng
Một trong những điểm nổi bậc nhất củaWeb là một trang Web có thể xem được
trên nhiều họ máy tính khác nhau. Do đó trong hệ thống CSDL Web, các Client có thể
gồm nhiều máy tính chạy trên các hệ điều hành khác nhau mà không cần phải phát triển
các ứng dụng để chạy trên từng máy mà chỉ cần xây dựng một trang Web đặt tại Web
Server. Điều này sẽ giảm thời gian và chi phí phát triển ứng dụng, giảm chi phí bảo trì
và cập nhật các ứng dụng đó.
II.2.2. Hỗ trợ mạng
Một điều quan trọng cần phải xét đến khi thiết kế các ứng dụng CSDL là làm thế
nào để truy xuất CSDL từ các máy ở xa (remote computer). Như đã đề cập ở trên không
một cá nhân hay tổ chức nào có thể xây dựng mỗi một hệ thống mạng máy tính trải rộng
trên qui mô hàng trăm, hàng ngàn km, trong khi đó đã tồn tại một hệ thống mạng có
phạm vi tồn cầu là Internet. Web Server và Web Brower mới có những tính năng về
mạng. Chúng được thiết kế để chuyển và nhận thông tin thông qua Internet hay mạng
cục bộ. Vậy tại sao không sử dụng Internet cho mục đích truy cập CSDL.
Nếu xét ở khía cạnh quản lý tốt tài liệu của Web Server hay ở khía cạnh khai thác tốt
CSDL trên phạm vi rộng đều dẫn đến một nhu cầu là tích hợp Web với CSDL.
Tích hợp Web với CSDL bao gồm việc tạo khả năng truy cập và cập nhật dữ liệu
thông qua Web. Để có thực hiện việc tích hợp Web với CSDL thì cần phải xây dựng lại
hệ thống trong đó có cơ chế chuyển thông tin giữa trang Web và CSDL, cơ chế truy cập
đến CSDL và những trang Web động trong môi trường Web và phải có những tính năng
như là một hệ thống ứng dụng CSDL trên Web.
Trong trang Web thì việc giao tiếp với người sử dụng được thực hiện thông qua các
“HTML form”. Các form này chức các phần tử dùng để nhập liệu như là textbox,
checkbox, option button. Khi hồn tất việc nhập liệu bằng cách bấm vào một nút để chấp
nhận submit, hành động này sẽ gởi nội dung của form đến Web Server.
Do Internet là hệ thống Web Client/Server nên hệ thống ứng dụng CSDL trên Web
sẽ mang những đặc điểm của một hệ thống ứng dụng CSDL Client/Server. Do đó, việc
nghiên cứu về cách tiếp cận để xây dựng hệ thống ứng dụng Client/Server là rất cần
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 12
thiết. Hiện nay đa số nhà phát triển phần mềm cho rằng cách tiếp cận dựa trên thành
phần (component_based) là cách tiếp cận tốt để phát triển các ứng dụng Client/Server.
II.3. Các giải pháp tích hợp Web và CSDL
Trong phần này, mô tả một số mô hình đã được áp dụng cho các Web site có tích
hợp với CSDL và xem xét ở hai khía cạnh, thứ nhất là sự liên lạc giữa các Client/Server,
thứ hai là phương pháp truy xuất CSDL.
Những mô hình bao gồm:
Mô hình Web site theo kiến trúc 1 lớp.
Mô hình Web site theo kiến trúc 2 lớp cổ điển.
Mô hình Web site tích hợp với CSDL theo kiến trúc 3 lớp.
Mô hình Web site tích hợp với CSDL theo kiến trúc 3 lớp cải tiến.
II.3.1. Mô hình kiến trúc một lớp
Ứng dụng một lớp đơn giản chỉ là một lớp, một chương trình Stand-alone chạy
trên máy của User. Nó có thể liên lạc với CSDL nhưng CSDL này nằm trên cùng một
máy, một điểm chính là cả 3 dịch vụ: User, bussiness và dữ liệu được kết nối vào trong
một chương trình.
II.3.2. Mô hình kiến trúc hai lớp
Các Web Sites đầu tiên được xây dựng theo kiến trúc Client/Server hai lớp
bao gồm:
- Lớp thứ nhất có Web Browser.
- Lớp thứ hai có Web Server chứa các trang Web (các tập tin HTML),
được thiết kế từ trước.
II.3.3. Mô hình kiến trúc ba lớp
Các kiến trúc Web site được xây dựng theo mô hình này bao gồm 3 lớp như sau:
- Lớp thứ nhất gồm Web Browser.
- Lớp thứ hai gồm Web Server và Application Server.
- Lớp thứ ba Server CSDL, chứa CSDL và phần giao tiếp với CSDL.
II.3.4. Các vấn đề bảo mật
Đối với các nhà ứng dụng Web, có rất nhiều người truy cập đến cho nên vấn đề bảo
mật để kiểm sốt quyền truy cập người dùng cũng rất phức tạp và quan trọng.
Có rất nhiều cách bảo mật, gồm:
- Vị trí đặt chế độ bảo mật
- Quyền truy cập chế độ người dùng.
- Các nguyên tắc bảo mật thời điểm thiết kế (design-time security).
- Quyền truy cập tới các ứng dụng Web, các thư mục và các tập tin.
- Các chế độ bảo mật thời điểm thực thi.
- Giới hạn truy cập Web visitor.
- Bảo mật qua đường truyền HTTP.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 13
CHƯƠNG III.
TÌM HIỂU VỀ IIS
(INTERNET INFORMATION SERVER)
III.1. Giới thiệu
Ngày nay, Web Server đã đủ mạnh để có thể trở thành các hạt nhân không thể
thiếu, dù chúng dùng trong Intranet hay cho một Web site trên Internet thì các công cụ
quản trị mạng vẫn cần thiết để quản lý hệ thống.
Việc chọn một Web Server trở nên rất dễ dàng, chúng ta hỗ trợ việc cung cấp các
trang web tĩnh (static) khi một trình duyệt (Browser) đòi hỏi. Tuy nhiên, các ứng dụng
Web ngày nay càng tân tiến và đòi hỏi sự tương tác rất nhiều với người sử dụng, đây là
các ứng dụng Web động. Các Web Server đòi hỏi phải có các công cụ quản lý chặt chẽ
tích hợp với các Server của cơ sở dữ liệu (CSDL), có các công cụ để phát triển ứng
dụng, tốc độ đảm bảo và chi phí sở hữu thấp.
Khó mà thiết lập những yêu cầu về Server nếu không lưu ý về hệ điều hành.
Người ta đang quan tâm đến Server chạy trên Linux ,Windows NT. Trong thử nghiệm
về hiệu suất thì chỉ có ICSS (Internet connection secure Server ) của IBM chạy trên
AIX (thể Unix thông dụng ).
Để điều khiển Windows NT nhóm thử nghiệm đã tăng lưu lượng cho Server ứng
dụng và loại bỏ một số dịch vụ Server như plug and play (cấm và chạy ), alter (thông
báo ), thông điệp và trợ giúp TCP/IP. Trên AIX người ta tăng kích thước hàng truyền
(transmit queue) và kích thước lưu trữ gởi nhận TCP/IP.
Ơû mức độ ứng dụng, việc điều chỉnh các Web Server này tương đối đơn giản.
Trên IIS ta có thể tăng thời gian mà đối tượng được lưu trên bộ nhớ cache và thời gian
luân chuyển truy cập. Trên IIS người ta tắt chức năng truy cập thông tin về trình duyệt
truy cập trang và thông tin yêu cầu, tăng số lượng tối đa về số luồng (thread) kích hoạt.
Với Netscape, nhóm thử nghiệm tăng số lượng yêu cầu.
Vấn đề đặt ra là Web Server nào đủ tinh vi để có thể xử lý các yêu cầu ngồi
HTML như:
- Dễ cài đặt.
- Khả năng mở rộng và chất lượng của các kết nối để phát triển ứng dụng.
- Mức độ và chất lương hỗ trợ (kể cả tài liệu).
- Chi phí sở hữu.
Các nhà thiết kế đã đưa ra bốn giải pháp:
- Giải pháp apache.
- Giải pháp IBM.
- Giải pháp Microsoft.
- Giải pháp Netscape.
Giải pháp Microsoft có các thành phần liên quan:
- Internet Information Server (IIS).
- Windows NT Server.
- Active Server Pages.
- Front Pages.
Chưa đến hai năm rưỡi kể từ khi khai sinh IIS (Internet Information Server) đã
xứng đáng chiếm vị trí thứ hai trên thị trường Web Server của Internet. Tính dễ sử
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần
Đồ án tốt nghiệp Trang 14
dụng, tính tích hợp chặt chẽ của IIS và hệ điều hành Windows NT đã ràng buộc bất kỳ
công ty nào chuyên sử dụng phần mềm Microsoft. Ngồi ra, trong môi trường xây dựng
trang HTML động của IIS thì vừa mạnh mẽ và vừa sử dụng. Nhưng đối với giải pháp
dành cho nhiều hệ thống khác nhau, tính tích hợp và dễ dùng thì chưa đủ để trở thành
giải pháp phù hợp.
Giải pháp quản trị của IIS tạo ra sự dễ dàng nhờ ứng dụng ISM (Internet Server
Manager). Đã có phiên bản HTML của ISM nhưng giao diện chưa hấp dẫn. Thiết lập
Server hay thư mục ảo dùng ISM rất tiện lợi và đơn giản, có thể tạo người dùng (User)
Web với cùng các công cụ như tạo User trong NT (User manager của NT). Nếu đã quen
thuộc với chức năng bảo mật của NT, việc truy cập hạn chế đến tồn bộ từng phần trong
Sites của chúng sẽ rất dễ dàng. Để hạn chế User có thể sử dụng tài khoản (acount) hoặc
mã khóa (password) để hạn chế quyền vào tài khoản người dùng hay chỉ cho phép truy
vào các thư mục nhất định bằng access control lists (Acls) trong hệ thống file NT.
Để kết nối vào dịch vụ Web, IIS đòi hỏi theo mô hình logic bao gồm thiết lập quản
trị IIS và bảo mật NT.
IIS hỗ trợ điều khiển SNMP nhưng hỗ tổng thể rất ít. Dùng management
information base IIS có thể điều khiển tối đa 24 bộ đệm trong performance monitor
nhưng không thể định cấu hình IIS.
IIS có log bên trong riêng để theo dõi xem ai truy cập Server hay truy cập những
file nào. Có thể định cấu hình truy cập đến file hay CSDL SQL và IIS hỗ trợ dạng chuẩn
từ hoạt động truy cập của IIS. IIS hỗ trợ ASP, dễ dàng tạo các ứng dụng phía Server
bằng ngôn ngữ mô tả ActiveX bất kỳ như VBscript hay Jscript.
III.2. Tìm hiểu về Internet Information Server
III.2.1. Internet Information Server (IIS) là gì ?
Microsoft Internet Information Server (IIS) là một Web Server giúp chúng ta hiển
thị thông tin trên Internet va Intranet . IIS hiển thị thông tin bằng cách sử dụng giao thức
HTTP. Ngồi ra, IIS còn hỗ trợ các giao thức truyền FTP (file transfer protocol), FTP
giúp người sử dụng chuyển những tập tin từ Web.
IIS rất linh động trong việc nhiều chức năng quan trọng từ việc hỗ trợ hệ thống
files Server đơn đến việc hỗ trợ hệ thống site Server rộng lớn. Ví dụ : như
www.Microsoft.Com và www.Msn.Com là một trong những file bận rộn nhất trên
Internet ngày nay và cả hay dùng nhiều Server để chạy IIS.
III.2.2. Những khảo sát về Internet và Intranet
Có một số khảo sát mà chỉ hóa cho những ứng dụng Internet và Intranet. Những
packages phần cứng và phần mềm sau đây sẽ được cài đặt và định cấu hình trên
Internet Information Server nếu chúng ta hoạch kế hoạch công bố thông tin trên
Intranet:
- Cài đặt card mạng tương thích mà nó sẽ kết nối với mạng cục bộ(LAN). Điều này
sẽ cho phép thông tin truyền giữa máy tính này và máy tính khách trên mạng.
- Một “option” mà thật sự không là một, là Wins Server. Điều này cho phép những
người dùng của tập đồn Intranet sử dụng các tên thân thiện thay vì với những địa chỉ
khó chịu mỗi khi muốn duy chuyển quanh Intranet.
SVTH: Lê Hữu Xuân GVHD: THs. Nguyễn Đức Thuần

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét