Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Quy hoạch sử dụng đất xã Xuân Lam – huyện Thọ Xuân – tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2008 - 2015

Quy hoạch sử dụng đất nói chung và quy hoạch sử dụng đất cấp xã nói
riêng phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, điền kiện kinh tế xã hội, căn cứ vào
hiện trạng sử dụng đất, tình hình biến động đất đai và mục tiêu phương hướng
phát triển, tận dụng các nguồn nhân lực của địa phương để đưa ra các biện
pháp sử dụng đất đai phù hợp, hiệu quả, khoa học và có tính khả thi cao.
1.2. Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất
Nội dung và phương pháp nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất rất đa
dạng và phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố của điều kiện tự nhiên, điều kiện
kinh tế xã hội.
Kết hợp bảo vệ đất và bảo vệ môi trường cần đề ra nguyên tắc đặc thù,
riêng biệt về chế độ sử dụng đất, căn cứ vào những quy luật đã được phát hiện,
tùy theo từng điều kiện và từng mục đích cần đạt được, như vậy đối tượng của
quy hoạch sử dụng đất là:
- Nghiên cứu quy luật về chức năng chủ yếu của đất như một tư liệu sản
xuất chủ yếu.
- Đề xuất các biện pháp sử dụng đất phù hợp, có hiệu quả cao, kết hợp
với bảo vệ đất và bảo vệ môi trường của tất cả các ngành.
1.3. Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và các loại hình quy
hoạch khác
1.3.1. Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế xã hội
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội là một trong những tài liệu
tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội, trong đó có đề cập đến dự kiến sử dụng đất ở mức độ
phương hướng với một số nhiệm vụ chủ yếu. Trong khi đó, nhiệm vụ chủ yếu
của quy hoạch sử dụng đất là căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế và các điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội mà điều chỉnh cơ cấu và phương hướng sử dụng
đất, xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất thống nhất và hợp lý. Như vậy
quy hoạch sử dụng đất cụ thể hóa quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội,
5
và nội dung của nó phải được điều hòa thống nhất với quy hoạch tổng thể phát
triển kinh tế xã hội.
1.3.2. Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với dự báo và chiến
lược dài hạn sử dụng đất đai
Dự báo sử dụng đất đai là một bộ phận của dự báo dài hạn về phát triển
kinh tế xã hội của đất nước phù hợp với trình độ phát triển của lực luợng sản
xuất và các mối quan hệ sản xuất. Trong quy hoạch sử dụng đất cả nước và quy
hoạch sử dụng đất các cấp đều giải quyết chung một nhiệm vụ là sử dụng hợp lý
quỹ đất gắn với việc phân bổ lực lượng sản xuất theo nguyên tắc từ trên xuống
và ngược lại, sẽ chỉnh lý, bổ sung, hoàn thiện theo chiều từ dưới lên.
Quy hoạch sử dụng đất phải dựa theo dự báo và chiến lược dài hạn sử
dụng đất đai, có như vậy quy hoạch sử dụng đất mới khai thác được triệt để tài
nguyên thiên nhiên và đi theo quỹ đạo của nó. Dự án thiết kế về cơ sở hạ tầng
là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng và tính khả thi cho đồ án quy
hoạch sử dụng đất.
1.3.3. Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát
triển nông nghiệp.
Quy hoạch phát triển nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu của phát triển
kinh tế, xã hội đối với sản xuất nông nghiệp để xác đinh hướng đầu tư, biện
pháp, bước đi về nhân lực, vật lực đảm bảo cho ngành nông nghiệp phát triển
đạt được các chỉ tiêu về đất đai, lao động, giá trị sản phẩm trong một thời gian
dài với tốc độ và tỷ lệ nhất định. Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong
những căn cứ sử dụng đất, song quy hoạch phát triển nông nghiệp lại phải tuân
theo quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là việc xác định cơ cấu sử dụng đất phải
đảm bảo được việc chống suy thoái, ô nhiễm đất và bảo vệ môi trường.
1.3.4. Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch nông thôn
Trong quy hoạch nông thôn, cùng với việc bố trí cụ thể từng khoảnh đất
dùng cho phát triển nông nghiệp, các dự án sẽ giải quyết cả vấn đề tổ chức và
sắp xếp lại các nội dung xây dựng. Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành
6
nhằm xác định chiến lược dài hạn về vị trí, quy mô và cơ cấu sử dụng toàn bộ
đất đai cũng như bố cục không gian trong khu vực quy hoạch.
1.3.5. Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành
Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành là quan
hệ tương hỗ vừa phát triển vừa hạn chế lẫn nhau. Quy hoạch các ngành là cơ
sở và bộ phận hợp thành của quy hoạch sử dụng đất nhưng lại chịu sự chỉ đạo
và khống chế của quy hoạch sử dụng đất.
1.3.6. Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất cả nước với quy hoạch
sử dụng đất của các địa phương
Quy hoạch sử dụng đất cả nước và quy hoạch sử dụng đất các địa
phương hợp thành một hệ thống quy hoạch sử dụng đất hoàn chỉnh. Quy hoạch
sử dụng đất cả nước là căn cứ định hướng để xây dựng quy hoạch sử dụng đất
cấp tỉnh. Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện dựa trên cơ sở quy hoạch sử dụng
đất cấp tỉnh. Quy hoạch sử dụng đất cấp xã là khâu cuối cùng của hệ thống quy
hoạch sử dụng đất, được xây dựng dựa vào quy hoạch sử dụng đất cấp huyện.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất cấp dưới là nền tảng để bổ sung hoàn thiện
quy hoạch sử dụng đất cấp trên.
2. Căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất
2.1. Những căn cứ pháp lý chung của quy hoạch sử dụng đất
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế đã gâp áp lực ngày càng lớn đối với đất đai. Chính vì vậy Đảng
và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Nhà nước ta đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật Đất
đai và các văn bản hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng đất, cụ thể như sau:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã
khẳng định tại Điều 18, Chương II: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai
theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả”.
- Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định “Quản lý quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất” là một trong 13 nội dung “Quản lý Nhà nước về đất đai”.
7
- Điều 23, 25, 26, 27 Luật Đất đai năm 2003 quy định cụ thể nội dung
của quy hoạch sử dụng đất, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp trong công tác lập, thẩm định, điều
chỉnh và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Ngoài ra còn có các văn bản dưới Luật như:
+ Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 09/02/2004 của Thủ tướng Chính
phủ về việc thi hành Luật Đất đai.
+ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
việc thi hành Luật Đất đai.
+ Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
2.2. Những căn cứ pháp lý và kỹ thuật của quy hoạch sử dụng đất
xã Xuân Lam – huyện Thọ Xuân – tỉnh Thanh Hoá
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về
việc thi hành Luật Đất đai.
- Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Báo cáo: Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010,
tầm nhìn đến năm 2020 tỉnh Thanh Hoá.
- Báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2002 - 2010 huyện
Tiên Du.
- Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ xã Xuân Lam trình tại
Đảng bộ nhiệm k ỳ 2005 - 2010.
- Số liệu kiểm kê đất đai xã Xuân Lam năm 2005.
- Các tài liệu hướng dẫn về nội dung phương pháp và các bước tiến hành
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
8
3. Tình hình nghiên cứu quy hoạch trong và ngoài nước
3.1. Quy hoạch sử dụng đất ở một số nước
3.1.1. Quy hoạch sử dụng đất ở Liên Xô và các nước Đông Âu
Sau cuộc cách mạng vô sản thành công, Liên Xô (cũ) và các nước Đông
Âu tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, một trong những nhiệm vụ đầu tiên là
xóa bỏ sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị. Sau một thời gian xây dựng và
phát triển theo quy hoạch, đời sống vật chất văn hóa nông thôn không xa thành
thị là bao nhiêu, đây là thực tiễn chứng tỏ lý luận và thực tiễn trong vấn đề quy
hoạch sử dụng đất ở nước này là thành công hơn.
Theo A.Condukhop và A.Mikholop, quá trình thực hiện quy hoạch phải
giải quyết được một loạt vấn đề như:
- Quan hệ giữa khu dân cư với giao thông bên ngoài.
- Quan hệ giữa khu dân cư với vùng sản xuất, khu vực canh tác.
- Hệ thống giao thông nội bộ, các công trình hạ tầng kỹ thuật.
- Việc bố trí mặt bằng hài hòa cho từng vùng địa lý khác nhau đảm bảo
sự thống nhất trong tổng thể kiến trúc.
- Quy hoạch khu dân cư mang nét của đô thị hóa đảm bảo thỏa mãn các
nhu cầu của nhân dân.
Quy hoạch sử dụng đất ở nông thôn của A.Condukhop và A.Mikholop
thể hiện mỗi vùng dân cư (làng, xã) có một trung tâm gồm các công trình công
cộng và nhà ở có dạng giống nhau cho nông trang viên. Đến giai đoạn sau, các
công trình quy hoạch sử dụng đất ở nông thôn của G.Deleur và I.khokhon đã
đưa ra sơ đồ quy hoạch huyện bao gồm 3 trung tâm:
- Trung tâm của huyện.
- Trung tâm xã của tiểu vùng.
- Trung tâm của làng, xã.
3.1.2. Quy hoạch sử dụng đất ở nông thôn Thái Lan
Trong những năm gần đây, Thái Lan đã có những bước tiến lớn trong xây
dựng quy hoạch sử dụng đất ở nông thôn nhằm phát triển kinh tế, ổn định đời
9
sống xã hội. Vấn đề quy hoạch nhằm thể hiện các chương trình kinh tế của Hoàng
gia Thái Lan, các dự án phát triển đã xác định vùng nông thôn chiếm một vị trí
quan trọng về kinh tế, chính trị nước này. Quá trình quy hoạch sử dụng đất ở
nông thôn tại các làng, xã đó được xây dựng theo mô hình mới với nguyên lý hiện
đại, khu dân cư được bố trí tập trung, khu trung tâm làng, xã là nơi xây dựng các
công trình phục vụ công cộng, các khu sản xuất được bố trí thuận tiện nằm ở
vùng ngoài.
Kết quả sau 7 lần thực hiện kế hoạch 5 năm Thái Lan đã đạt được sự
tăng trưởng kinh tế nông nghiệp rõ rệt, các vùng nông thôn đều có cơ sở hạ
tầng, hệ thống giao thông phát triển, phục vụ công cộng được nâng cao, đời
sống nhân dân được cải thiện không ngừng.
Qua vấn đề lý luận và thực tiễn quy hoạch sử dụng đất ở nông thôn Thái
Lan cho thấy: Muốn phát triển vùng nông thôn ổn định phải có quy hoạch hợp
lý, khoa học, phù hợp với điều kiện cụ thể. Xây dựng được hệ thống cơ sở hạ
tầng và hệ thống giao thông hoàn thiện, xây dựng trung tâm làng, xã trở thành
hạt nhân phát triển kinh tế, văn hóa và tạo môi trường thuận lợi cho việc tiếp
thu văn minh đô thị để phát triển nông thôn mới văn minh hiện đại, song vẫn
giữ được nét truyền thống văn hóa.
3.2. Tình hình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất ở trong nước
Công tác xây dựng quy hoạch sử dụng đất ở nông thôn được triển khai
bắt đầu từ những năm 1960 khi phong trào hợp tác hóa nông nghiệp phát triển
ở miền Bắc. Ban đầu công tác quy hoạch còn ở mức độ nhỏ bé do việc quy
hoạch nông thôn do Bộ Xây dựng thực hiện, đến năm 1980 công tác quy
hoạch được phát triển mạnh mẽ rộng khắp cả nước.
3.2.1. Giai đoạn 1960 – 1969
Công tác quy hoạch trong giai đoạn này lấy hợp tác xã làm đối tượng
chính, phương châm chủ yếu là: phục vụ sản xuất nông nghiệp, phục vụ đời
sống nhân dân lao động, phong trào hợp tác hóa. Trong quá trình xây dựng lựa
chọn những xã có phong trào hợp tác xã mạnh để thiết kế quy hoạch, sau đó
10
mới tiến hành mở rộng quy hoạch. Nội dung của quy hoạch thời kỳ này được
thể hiện:
- Thiết kế xây dựng mọi cơ sở kinh tế kỹ thuật phục vụ cho hợp tác hóa.
- Khai khẩn mở rộng diện tích đất sản xuất.
- Quy hoạch cải tạo làng, xã, di chuyển một số xóm nhỏ lẻ giải phóng
đồng ruộng đưa cơ giới vào canh tác, xây dựng các công trình công cộng cho
trung tâm xã.
- Cải thiện điều kiện sống, xây dựng nhà ở, sắp xếp các lô đất ngăn nắp,
trật tự, cải tạo đường làng ngõ xóm.
3.2.2. Giai đoạn 1970 – 1986
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, V chúng ta đã tăng
cường tổ chức lại sản xuất, phân bố lao động, xây dựng cơ cấu nông nghiệp coi
nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp tiến lên sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa.
Một cao trào làm quy hoạch nông thôn đã diễn ra sôi nổi, trọng tâm của
công tác quy hoạch thời kỳ này là lập đề án xây dựng vùng huyện. Nhiều
huyện được chọn làm huyện điểm để tiến hành quy hoạch như: Đông Hưng
(Thái Bình); Thọ Xuân (Thanh Hóa); Nam Ninh (Nam Định)… Nội dung quy
hoạch dựa trên cơ sở phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp.
- Tiến hành bố trí hệ thống công trình phục vụ sản xuất 3 cấp: huyện,
tiểu vùng – cụm kinh tế và xã – hợp tác xã.
- Cải tạo mạng lưới dân cư theo hướng tập trung và tổ chức tốt đời sống
nhân dân.
- Quy hoạch xây dựng hệ thống công trình phục vụ công cộng và phục
vụ sản xuất của huyện, tiểu vùng và ở xã như: hệ thống giao thông, điện, cấp
thoát nước…
11
3.2.3. Giai đoạn từ 1987 đến nay
Trong giai đoạn này đất nước đã có nhiều chuyển biến lớn trên con
đường đổi mới từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, việc này tác động mạnh đến công tác quản lý và quy hoạch
sử dụng đất.
Giai đoạn 1987 – 1992: Năm 1987, Luật Đất đai đầu tiên của nước ta
được ban hành, trong đó có một số Điều đề cập đến công tác quy hoạch đất
đai. Tuy nhiên nội dung chính của quy hoạch sử dụng đất chưa được nêu ra.
Ngày 15/04/1991 Tổng cục Quản lý ruộng đất ban hành Thông tư 106/QH-
KH/RĐ hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng đất. Thông tư này đã hướng dẫn đầy
đủ, cụ thể quy trình, nội dung và phương pháp lập quy hoạch sử dụng đất. Kết
quả là trong giai đoạn này nhiều tỉnh đã lập quy hoạch cho nhiều xã bằng kinh phí
địa phương. Tuy nhiên ở cấp huyện, tỉnh chưa được thực hiện.
Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: Tháng 07/1993 Luật Đất đai sửa đổi
được ban hành rộng rãi. Trong đó nêu cụ thể các điều khoản về quy hoạch sử
dụng đất đai.
Đầu năm 1994, Tổng cục Địa chính triển khai công tác quy hoạch sử
dụng đất trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 1996 – 2010, đồng thời xây dựng kế
hoạch sử dụng đất toàn quốc giai đoạn 1996 – 2000. Đây là căn cứ quan trọng
cho các bộ ngành, các tỉnh xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất.
Ngày 12/10/1998, Tổng cục Địa chính ra Công văn số 1814/CV-TCĐC
về việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cùng với các hướng dẫn kèm theo về
công tác lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất.
Ngày 01/10/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/NĐ-CP về việc
triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 4 cấp hành chính.
Ngày 01/11/2001, Tổng cục Điạ chính đã ban hành Thông tư số
1842/2001/TT-TCĐC kèm theo các Quyết định 424a, 424b, Thông tư số
2074/2001/TT-TCĐC ngày 14/12/2001 nhằm hướng dẫn các địa phương thực
hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo Nghị định 81/NĐ-CP.
12
Ngày 01/07/2004 Luật Đất đai năm 2003 chính thức có hiệu lực, trong
đó quy định rõ về công tác quản lý nhà nước về đất đai. Tại Mục 2, chương II
quy định cụ thể về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Ngày 29/10/2004 Chính phủ ban hành Nghị định số 181/2004/NĐ-CP
về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003.
Ngày 01/11/2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số
30/2004/TT-BTNMT về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
13
PHẦN 2
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nội dung nghiên cứu
1.1. Nghiên cứu tổng quan
- Cơ sở lý luận của quy hoạch sử dụng đất.
- Cơ cở pháp lý của quy hoạch sử dụng đất.
- Tình hình quy hoạch sử dụng đất trong và ngoài nước.
1.2. Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý.
- Địa hình.
- Đặc điểm khí hậu, thủy văn.
Các nguồn tài nguyên khác.
- Cảnh quan môi trường.
- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường
1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
- Tình hình tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Thực trạng phát triển các ngành kinh tế xã hội.
- Dân số, lao động và việc làm.
- Tình hình giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao.
- Đánh giá chung về điều kiện kinh tế xã hội.
1.2.3. Hiện trạng về cơ sở hạ tầng
- Các công trình xây dựng cơ bản.
- Hệ thống giao thông.
- Hệ thống thủy lợi.
1.3. Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất đai
- Tình hình quản lý đất đai.
- Hiện trạng sử dụng đất năm 2007.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét