Như vậy, hoạt động của doanh nghiệp thực chất là sự vận động, kết hợp,
chuyển đổi nội tại các yếu tố sản xuất kinh doanh đã bỏ ra để tạo ra các sản phẩm,
công việc, lao vụ nhất định. Trên phương diện đó, khái niệm chi phí có ý nghĩa rất
quan trọng đối với doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt
động sản xuất trong một thời kỳ nhất định (có thể là tháng, quý, năm).
Trong các DN xây dựng giao thông, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện
bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết mà DN
đã chi ra để tiến hành hoạt động xây dựng, lắp đặt các công trình trong một kỳ kinh
doanh nhất định.
Khi xem xét bản chất của chi phí của doanh nghiệp, cần chú ý đặc biệt
các khía cạnh sau đây:
+ Nội dung chi phí có thể biểu hiện bằng công thức:
C + V
Trong đó:
C: Hao phí lao động vật hoá bao gồm các hao phí về: nguyên vật liệu, công
cụ, dụng cụ, khấu hao tài sản cố định…
V: Hao phí lao động sống bao gồm hao phí về: tiền lương, tiền công, phụ cấp
cho người lao động và các khoản trích theo lương…
+ Các chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền
trong một khoảng thời gian xác định (năm, tháng, quý).
+ Độ lớn của chi phí phụ thuộc 2 nhân tố chủ yếu:
Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong một thời kỳ nhất
định.
Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền lương (tiền công) của một đơn
vị lao động đã hao phí.
1.2.2. Bản chất của chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với một kỳ sản xuất nhất định và
phải là chi phí thực. Vì vậy, để hiểu rõ bản chất của chi phí sản xuất kinh doanh làm
cơ sở cho việc kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần phân
biệt chi phí và chi tiêu.
Chi phí trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ phần tài sản hao mòn
hoặc tiêu dùng hết cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ. Ngoài ra chi phí
trong kỳ còn bao gồm các khoản chi phí trích trước, là các khoản chưa thực chi ra
trong kỳ.
5
Chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các khoản tiền và tương
đương tiền đã chi ra cho các quá trình mua hàng, quá trình sản xuất kinh doanh. Chi
tiêu cho quá trình mua hàng làm tăng tài sản, còn chi tiêu cho quá trình sản xuất
kinh doanh làm cho các khoản tiêu dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh tăng lên
và làm phát sinh chi phí.
Hầu hết các khoản đã chi tiêu đều là chi phí nhưng cũng có những khoản đã
chi tiêu nhưng chưa được tính là chi phí và ngược lại có những khoản được tính là
chi phí nhưng không phải là khoản chi tiêu trong kỳ.
1.2.3. Các cách phân loại chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm nhiều khoản khác nhau
cả về nội dung, tính chất, công dụng, mục đích…trong từng doanh nghiệp sản xuất.
Để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán cần phải tiến hành phân loại chi phí
sản xuất kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau nhằm nâng cao tính chi tiết của
thông tin chi phí, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, lập kế hoạch đồng thời tạo
cơ sỏ tin cậy cho việc phấn đấu giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh tế của chi phí.
Dưới đây la một số cách phân loại chủ yếu:
1.2.3.1 . Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo nội dung tính chất kinh tế
của chi phí .
Cách phân loại này dựa trên nguyên tắc những chi phí có cùng nội dung kinh
tế được xếp vào một loại, mỗi loại là một yếu tố chi phí, không kể cả chi phí đó
phát sinh ở lĩnh vực hoạt động nào, địa điểm nào và dùng vào mục đích gì trong sản
xuất kinh doanh. Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ được chia làm các
yếu tố chi phí sau :
a. Chi phí vật liệu
Chi phí vật liệu là giá trị thực tế các vật liệu dùng chung cho sản xuất sản
phẩm.
Đối với các doanh nghiệp xây dựng giao thông chính là giá trị thực tế nguyên
vật liệu dùng cho xây dựng công trình và thực hiện các dịch vụ khác do doanh
nghiệp thực hiện.
b. Chi phí nhân công.
Chi phí nhân công trực tiếp là :
+ Các chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp
thực hiện các lao vụ, dịch vụ như tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp,
tiền công.
6
+ Các khoản trícn theo tiền lương của công nhân trực tiếp.
+ Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.
c. Chi phí khấu hao tài sản cố định.
Chi phí khấu hao tài sản cố định bao gồm khấu hao của tài sản cố định dùng
cho sản xuất sản phẩm (khấu hao máy móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải,
nhà xưởng…).
Trong các doanh nghiệp xây dựng giao thông là khấu hao máy móc thiết bị
dùng cho xây dựng công trình và thực hiện các dịch vụ sản xuất sản phẩm khác.
d. Chi phí dịch vụ mua ngoài.
Chi phí dịch vụ mua ngoài gồm các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như tiền điện, nước, tiền thuê sửa chữa tài sản
cố định…
e. Chi phí khác bằng tiền.
Chi phí khác bằng tiên bao gồm chi phí hội nghị, tiếp khách…
Cách phân loại này cho biết chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
gồm nhưng nội dung chi phí nào, tỷ trọng từng loại chi phí trên tổng số, làm cơ sở
cho việc lập kế hoạch như kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương…Tuy
nhiên cách nhìn này không cho biết chi phí sản xuất trên tổng chi phí của doanh
nghiệp là bao nhiêu.
1.2.3.2. Phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Cách này căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm dựa vào
mục đích, công dụng của chi phí và mức phân bố chi phí cho từng đối tượng (không
phân biệt chi phí có nội dung như thế nào). Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh
được phân thành các khoản mục :
a. Chi phí trực tiếp : là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trực tiếp
tạo ra sản phẩm, bao gồm :
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phản ánh toàn bộ giá trị thực tế nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ,
nhiên liệu… trực tiếp tạo ra sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ.
Đối với các doanh nghiệp xây dựng giao thông là giá trị thực tế nguyên vật
liệu sử dụng cho xây dựng công trình ví dụ như : đá, cát, xi măng…
7
- Chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền công, phụ cấp lương trả
cho công nhân sản xuất trực tiếp.
Chi phí nhân công không bao gồm:
+ Tiền lương công nhân vận chuyển ngoài phạm vi công trường.
+ Tiền lương công nhân sản xuất phụ.
+ Tiền lương công nhân lái máy.
- Chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm chi phí cho các máy thi công nhằm
thực hiện khối lượng xây lắp bằng máy, máy móc thi công là loại máy trực tiếp
phục vụ xây lắp công trình. Đó là những máy móc chuyển động bằng động cơ hơi
nước, diezen, xăng, điện…
Chi phí sử dụng máy thi công gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời.
+Chi phí thường xuyên cho hoạt động của máy thi công gồm : lương chính,
phụ của công nhân điều khiển, phục vụ máy thi công. Chi phí nguyên liệu, vật liệu,
công cụ dụng cụ, chi khấu hao tài sản cố định, chi phí dich vụ mua ngoài (sửa chữa
nhỏ, điện, nước, bảo hiểm xe, máy ) và các chi phí khác bằng tiền.
+Chi phí tạm thời : chi phí sửa chữa máy thi công, chi phí công trình tạm thời
cho máy thi công (lều, lán, bệ, đương ray chạy máy…). Chi phí tạm thời của máy
có thể phát sinh trước, sau đó phân bổ dần vào chi phí sử dụng máy thi công nhiều
kỳ sản xuất sau. Hoặc phát sinh sau nhưng phải tính trước vào chi phí sử dụng máy
thi công trong kỳ (do liên quan đến việc sử dụng thực tế máy móc thi công trong
kỳ). Trường hợp này phải tiến hành trích trước chi phí tiền lương trả cho công nhân
điều khiển và phục vụ máy thi công, bao gồm :
Chi phí nhiên liệu dùng cho máy thi công
Chi phí công cụ, dụng cụ dùng cho máy thi công
Chi phí khấu hao máy thi công
Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho máy thi công, tiền điện, nước, tiền thuê
sửa chữa máy thi công
Chi phí bằng tiền khác
- Trực tiếp phí khác
Bao gồm chi phí bơm nước, vét bùn, thí nghiệm vật liệu, di chuyển nhân lực
và thiết bị thi công đến công trường và trong nội bộ công trường, an toàn lao động,
bảo vệ môi trường cho người lao động và môi trường xung quanh. Trực tiếp phí
khác được tính bằng 1,5% trên tổng chi phí vật liệu, nhân công và máy thi công nói
trên.
8
b. Chi phí chung.
Chi phí chung là những chi phí phát sinh có tính chất phục vụ chung cho toàn
bộ công trình, có liên quan đến quản lý và điều hành sản xuất tại công trường của
doanh nghiệp xây dựng bao gồm :
- Chi phí quản lý hành chính : là những khoản chi phí nhằm đảm bảo cho hoạt
động của bộ máy quản lý và chỉ đạo thi công. Chi phí quản lý hành chính cuả doanh
nghiệp xây dựng gồm các chi phí sau :
+ Tiền lương và phụ cấp lương của cán bộ công nhân viên trong bộ máy quản
lý doanh nghiệp.
+ Bảo hiểm xã hội
+ Chi phí y tế
+ Chi phí tàu xe, nghỉ phép năm của người lao động
+ Chi phí điện nước nơi làm việc và sinh hoạt, chi phí tiếp khach và phục vụ
hội nghị sơ kết, tổng kết
+ Chi phí đi công tác
+ Chi phí văn phòng phẩm cho bộ máy quản lý
+ Chi phí bưu phí: điện thoại, internet, tem bưu chính
+ Chi phí nghiệp vụ
+ Chi phí công tác an toàn, bảo hộ lao động cho người lao động
+ Chi phí sửa chữa thường xuyên dụng cụ quản lý và dụng cụ sinh hoạt
- Chi phí phục vụ công nhân: là những khoản chi phí phục vụ công nhân trực
tiếp thi công đảm bảo mức sinh hoạt của công nhân theo chế độ hiện hành. Chi phí
này gồm :
+ Tiền lương và các khoản phụ cấp của công nhân trực tiếp thi công được
hưởng trong những ngày, giờ nghỉ việc theo chế độ
+ Bảo hiểm xã hội của công nhân trực tiếp sản xuất
+ Tiền thuốc men chữa bệnh và chi phí đưa người ốm đi viện
+ Tiền tàu xe nghỉ phép năm và tiền nghỉ việc riêng được thanh toán
+ Tiền điện nước phục vụ sinh hoạt
+ Chi phí sửa chữa thường xuyên các dụng cụ sinh hoạt
- Chi phí phục vụ thi công : là những khoản chi phí cần thiết để phục vụ quá
trình thi công gồm :
+ Sửa chữa thường xuyên các dụng cụ thi công
+ Chi phí về an toàn, bảo hộ lao động cho công nhân trực tiếp sản xuất
9
+ Chi phí xây dựng công trình tạm loại nhỏ như để che mưa, nắng cho người,
máy móc, thiết bị thi công, hàng rào…
+ Chi phí về điều động công nhân
+ Chi phí dọn dẹp, bàn giao công trình
- Chi phí khác: là những khoản chi phí có tính chất phục vụ chung toàn doanh
nghiệp. Khoản chi phí này gồm :
+ Chi phí bảo vệ công trừơng
+ Chi phí về tuyển dụng lao động và thôi việc
+ Chi phí về bồi dưỡng nghiệp vụ ngắn hạn và luyện tập quân sự hàng năm
1.2.3.3. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo mối quan hệ với khối
lượng sản phẩm,công việc lao vụ sản xuất trong kỳ.
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng giao thông được
chia thành :
- Chi phí cố định (định phí): là những khoản chi phí không thay đổi theo khối
lượng sản phẩm (hay giá trị sản lượng) thay đổi. Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn
vị sản phẩm thì định phí lại biến đổi. Định phí thường bao gồm : chi phí khấu hao
tài sản cố định sử dụng chung, tiền lương nhân viên, cán bộ quản lý…
- Chi phí biến đổi (biến phí): là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận
với khối lượng công việc hoàn thành, thường bao gồm: chi phí nguyên vật liệu, chi
phí nhân công, chi phí bao bì,…Biến phí trên một đơn vị sản phẩm luôn là một mức
ổn định.
- Chi phí hỗn hợp: là chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố biến phí và
định phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của
định phí, quá mức đó nó lại thể hiện đặc tính của biến phí. Hỗn hợp phí thường
gồm: chi phi sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp…
Phân loại theo cách này thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí,
xác định điểm hoà vốn, phân tích tình hình tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh.
Đồng thời làm căn cứ để đề ra biện pháp thích hợp hạ thấp chi phí sản xuất kinh
doanh trên một đơn vị sản phẩm cũng như xác định phương án đầu tư thích hợp.
1.2.3.4. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
và mối quan hệ giữa đối tượng chịu chi phí .
- Chi phí trực tiếp:là những chi phí chỉ quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất
một loại sản phẩm, một công việc, lao vụ hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất
định và hoàn toàn có thể hạch toán, quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, công việc, lao
vụ…đó.
10
- Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có quan hệ đến sản xuất ra nhiều
loại sản phẩm,không phân định được cho từng đối tượng cho nên phải phân bổ thao
đối tượng nhất định.
Cách phân loại này có ý nghĩa thuần tuý đối với kỹ thuật hạch toán. Trường
hợp có phát sinh chi phi gián tiếp, bắt buộc phải áp dụng phương pháp phân bổ, lựa
chọn tiêu thức phân bổ phù hợp. Mức độ chính xác của chi phí gián tiếp tập hợp cho
từng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêu chuẩn phân bổ chi
phí. Vì vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp phải hết sức quan tâm đến việc lựa chọn
tiêu thức phân bổ chi phí nếu muốn có các thong tin chân thực về chi phí và kết quả
lợi nhuận từng loại sản phẩm, dịch vụ, từng loại hoạt đông trong doanh nghiệp.
1.2.3.5. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo cách thức kết chuyển chi
phí
- Chi phí sản phẩm
Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản
phẩm. Như vậy chi phí sản phẩm bao gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung.
Nếu sản phẩm chưa được tiêu thụ thì chi phí sản phẩm sẽ nằm trong hàng tồn
kho trên Bảng cân đối kế toán. Chi phí sản phẩm trên bảng cân đối kế toán sẽ trở
thành chi phí “giá vốn hàng bán” trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi
sản phẩm được tiêu thụ.
- Chi phí thời kỳ
Chi phí thời kỳ là các chi phí để hoạt động kinh doanh trong kỳ, không tạo
nên hàng tồn kho mà ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả lợi nhuận của kỳ mà chúng
phát sinh.
Theo hệ thống kế toán hiện hành, chi phí thời kỳ bao gồm:
+ Chi phí bán hàng
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp
Như vậy, chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ khác nhau ở chỗ: chi phí thời kỳ
phát sinh ở thời kỳ nào được tính ngay vào kỳ đó và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi tức
của kỳ mà chúng phát sinh. Ngược lại, chi phí sản phẩm chỉ phải tính để xác định
kết quả ở kỳ mà sản phẩm được tiêu thụ, không phải tính ở kỳ mà chúng phát sinh.
Tuy nhiên, chi phí sản phẩm cũng ảnh hưởng đến lợi tức của doanh nghiệp, có thể
đến lợi tức của nhiều kỳ vì sản phẩm có thể được tiêu thụ ở nhiều kỳ khác nhau.
11
1.3. Kiểm soát chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng
giao thông.
1.3.1. Khái niệm
Kiểm soát chi phí là hành động chủ quan của các nhà quản lý doanh nghiệp
nhằm kiểm soát các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện các hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Để làm tốt chức năng này nhà quản lý cần trả lời các câu hỏi :
+ Doanh nghiệp có những khoản mục chi phí nào?;
+ Tiêu chuẩn, định mức chi phí là bao nhiêu?
+ Chi phí nào chưa hợp lý?
+ Nguyên nhân vì sao?
+ Biện pháp giải quyết?
Để tiến hành kiểm soát chi phí các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải đưa ra
các tiêu chuẩn, nội dung và mục tiêu kiểm soát chi phí, dựa trên các nguyên tắc
thống nhất. Từ đó xây dựng hệ thống kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp với
những hình thức kiểm soát thích hợp, cùng chi phí kiểm soát, phương tiện công cụ
được sử dụng cho hoạt động kiểm soát này và cuối cùng đi tới các giải pháp điều
chỉnh.
1.3.2. Tính tất yếu của việc kiểm soát chi phí
Có nhiều nguyên nhân làm cho kiểm soát chi phí trở thành chức năng tất yếu
của quản lý. Trong kinh doanh, kiểm soát chi phí là để kiểm chứng xem các khoản
chi có được thực hiện theo đúng kế hoạch hay không, và phải tìm ra nguyên nhân
sai sót để điều chỉnh.
Kiểm soát chi phí là nhu cầu cơ bản nhằm hoàn thiện các quyết định trong
quản lý trong lĩnh vực tài chính. Thẩm định tính đúng sai, hiệu quả của các khoản
chi phí. Đồng thời kiểm soát được những yếu tố ảnh hưởng đến tính hợp lý và khi
kiểm soát chi phí được mở rộng đối tượng tham gia trong toàn doanh nghiệp sẽ tăng
khả năng hợp tác hiệu quả giữa các ban ngành, các bộ phận, các cá nhân mở rộng
dân chủ, khuyến khích uỷ quyền, một xu hướng trong nền kinh tế thị trường. Đó
phải là hoạt động liên tục với những sự đổi mới không ngừng.
Các tổ chức kinh doanh khác nhau ở sản phẩm hay dịch vụ mà chúng cung
cấp, do vậy chúng ta có thể chia doanh nghiệp thành các loại sau:
- Doanh nghiệp sản xuất: sản xuất ra sản phẩm và đem bán cho khách hàng,
công ty thương mại, hay cho một doanh nghiệp sản xuất khác.
12
- Doanh nghiệp thương mại: mua hàng cho doanh nghiệp khác sản xuất rồi bán
cho người tiêu dùng.
- Doanh nghiệp dịch vụ: cung cấp dịch vụ (như dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân
hàng, dịch vụ kế toán…) cho người sử dụng.
Dù cung cấp những sản phẩm hay dịch vụ khác nhau, song hoạt động chủ yếu
của các doanh nghiệp là chuyển hoá các dạng khác nhau của nguồn lực kinh tế
thành các dạng khác có giá trị hơn để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Vấn đề
tiêu hao các nguồn lực kinh tế ban đầu của các doanh nghiệp trong kế toán đó được
xem là chi phí. Như vậy chi phí là khoản tiêu hao của các nguồn lực đã sử dụng cho
một mục đích, biểu hiện bằng tiền.
Đối với nhà quản lý thì các chi phí là mối quan tâm hàng đầu, bởi vì lợi
nhuận thu được nhiều hay ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của những chi phí đã chi ra.
Do đó, kiểm soát chi phí là vấn đề quan trọng và mang tính sống còn đối với doanh
nghiệp.
1.3.3. Vai trò của kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp
Kiểm soát chi phí là việc tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về việc sử
dụng các nguồn vốn và chi phí, từ đó đưa ra những quyết định về các chi phí ngắn
hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp. Kiểm soát chi phí là một hoạt động quan
trọng của quản lý chi phí. Đối với nhà quản lý, để kiểm soát được chi phí phát sinh
hàng ngày, điều quan trọng là phải nhận diện ra các loại chi phí, đặc biệt là nhà
quản lý nên nhận dạng những chi phí kiểm soát được để đề ra biện pháp kiểm soát
chi phí thích hợp và nên bỏ qua những chi phí không thuộc phạm vi kiểm soát của
mình nếu không việc kiểm soát sẽ không mang lại hiệu quả so với công sức, thời
gian bỏ ra.
Chi phí cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn có những biến động
nhất định trong kỳ. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý chi
phí là xem xét, lựa chọn cơ cấu chi phí sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất. Quản lý chi
phí bao gồm:
- Tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu chi phí và nguồn vốn huy động tối
ưu cho doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
- Thiết lập một chính sách phân chia chi phí cùng các mức lợi nhuận một cách
hợp lý đối với doanh nghiệp.
- Kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong công ty, tránh tình trạng sử dụng
lãng phí, sai mục đích.
13
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh. Khác với các tổ chức không vì lợi
nhuận như cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, tôn giáo,… . Doanh nghiệp được
thành lập với mục đích thu được lợi nhuận.
Suy cho cùng doanh nghiệp nào cũng hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Mà
chúng ta biết rằng lợi nhuận được xác định bởi công thức đơn giản sau:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Như vậy để thu được nhiều lợi nhuận chúng ta chỉ có hai cách:
Một là tăng doanh thu, điều này đồng nghĩa với việc tăng giá bán. Giải pháp
này thiếu tính khả thi vì trên thi trường đầy những đối thủ cạnh tranh…
Hai là giảm chi phí bằng hoạt động kiểm soát của doanh nghiệp. Đó là những
khoản chi mà doanh nghiệp có thể chủ động giảm, sử dụng có hiệu quả. Và khi mà
doanh nghiệp tính giá bán bằng cách cộng giá thành với lợi nhuận mong muốn thì
việc giảm chi phí sẽ làm giảm giá thành, đó là lợi thế cạnh tranh rất lớn trong nền
kinh tế thi trường gắn với xu thế hội nhập hiện nay.
Rõ ràng là kiểm soát chi phí có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý
doanh nghiệp, một nội dung cần tập trung nghiên cứu, chủ động tiến hành liên tục,
triệt để.
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp.
Kiểm soát chi phí bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, cả bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp. Nhưng tập trung lại có những nhân tố cơ bản sau:
- Thông tin thực tế các khoản chi phí trong doanh nghiệp. Đó là điều kiện tiên
quyết để các chủ thể quản lý thực hiện chức năng kiểm soát, chỉ khi nhận biết và
hiểu thực tế chi phí trong doanh nghiệp thì mới có thể xác định được những khoản
chi phí cần điều chỉnh cũng như những kinh ngiệm tốt từ những khoản chi hiệu quả.
- Hệ thống tiêu chuẩn định mức mà doanh nghiệp xây dựng. Đó là những mục
tiêu đã được số hoá trên những kế hoạch, chương trình mục tiêu của doanh nghiệp,
trên cơ sở từ những kết quả phân tích kinh tế vi mô và mục tiêu của doanh nghiệp.
Quan hệ cung cầu trên thị trường đầu vào cũng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới
kết quả chi phí. Sự biến động quan hệ cung cầu đầu vào biểu hiện qua giá cả, khi
giá tăng chi phí sẽ tăng và giá giảm doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ giảm được giá
thành sản phẩm. Đây là nhân tố thuộc môi trường bên ngoài doanh nghiệp, do đó
doanh nghiệp chỉ có thể chấp nhận, thích ứng theo xu hướng biến động đó. Cuối
cùng kiểm soát chi phí chịu tác động từ chính những hệ thống giải pháp, công cụ
mà doanh nghiệp đưa ra. Trên cơ sở những thông tin có được, những giải pháp để
sử dụng chi phí một cách có hiệu quả sẽ được đưa ra và kết quả đạt được đến đâu
phụ thuộc vào tính đúng đắn của những biện pháp đó.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét