Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014
Cái đẹp cổ điển trong thời kỳ Hy Lạp cổ điển
1
Cái đẹp cổ điển
A. PHẨN MỞ ĐẦU
Từ khi con người có sự nhận thức về cái xấu thì cũng là lúc họ đặt
ra cho mình câu hỏi: Vậy cái đệp là gì? Đó cũng là câu hỏi mà hàng ngàn
năm nay con người vẫn đang cố tìm ra đáp án. Nhưng để có thể đưa ra câu
trả lời cho vấn đề này thực sự khơng đơn giản. Cho đến nay nó vẫn đang
còn là một vấn đề khoa học mang tính bức thiết. Thường xun được đưa
ra tranh luận trong các cuộc hội thảo khoa học Mỹ học trong nước cũng
như quốc tế.
Lịch sử Mỹ học đã có một q trình lâu dài, trải qua nhiều thời kì
lịch sử. Ngay từ thời cổ đại, các nhà Mỹ học triết học Hy Lạp đã đưa ra
những quan niệm về cái đẹp nhằm trả lời cho câu hỏi cái đẹp là gì? Đây
được xem là những quan niệm mỹ học đặc sắc về cái đẹp mà chính nó làm
nền tảng cho hệ thống các quan điểm, quan niệm về cái đẹp sau này. Tìm
hiểu về những quan niệm về cái đẹp trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại có một ý
nghĩa rất lớn đối với việc hệ thống q trình phát triển của lịch sử Mỹ
học, và từ đó có thể đưa ra được định nghĩa chính xác nhất về cái đẹp, để
trả lời cho vấn đề vẫn được coi là nan giải trong lịch sử Mỹ học xưa nay,
đó là cái đẹp là gì? bản chất của cái đẹp là gì. Đó cũng chính là lí do mà
tơi chọn đề tài: cái đẹp trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA VỀ CÁI ĐẸP
Thuật ngữ cái đẹp được xác định là một phạm trù cơ bản, trung tâm
của Mỹ học. Do đó việc làm sáng tỏ bản chất của cái đẹp ln là một vấn
đề bức thiết và rất có ý nghĩa đối với việc tiếp tục nghiên cứu quy luật
khác của đời sống thẩm mĩ.
Để đưa ra được một định nghĩa chính xác và đầy đủ về cái đẹp
khơng phải là một điều đơn giản. Lịch sử Mỹ học cho tới nay đã trải qua
nhiều thời kì lịch sử khác nhau cùng với q trình lịch sử phát triển của
nhân loại. Và ở mỗi một giai đoạn, thời kì lịch sử đó vốn để tìm ra bản
chất của cái đẹp, trả lời cho câu hỏi cái đẹp là gì? cũng đều được các nhà
Mỹ học hết sức quan tâm. Nói đến việc giải đáp cho câu hỏi cái đẹp là gì?
thì ở mỗi thời kì của nhân loại có các định nghĩa, quan niệm và những
đánh gài khác nhau về nó.
Cũng chính vì lí do đó mà trong suốt q trình phát triển của lịch sử
Mỹ học cho tới nay vẫn chưa có được sự thống nhất trong việc định nghĩa
cái đẹp là gì? Như Lép Tơnxtơi đã từng…
Ngay từ thế kỉ IVV (BCE) Aritxtốt đã manh nha: “cái đẹp nằm
trùng kích thước và trong trật tự, bởi vậy khơng có vật nào q nhỏ cũng
như q lớn mà lại có thể coi là cái đẹp”.
Trong khi đó nhà lí luận Mỹ học người Đức thế kỉ XVIII - Henden
lại đưa ra định nghĩa “cốt lõi của tồn bộ cái đẹp là chân lý, bất cứ cái
đẹp nào cũng dẫn tới chân lí và điều thiện”.
Đến lượt C.Mác dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử đã đưa ra định nghĩa về cái đẹp.
(Trong C.Mac- Ăngghen tồn tập, tập 2 P1. Nxb Sự Thật, Hà . Nội
1980. Tr119). Mác có viết “Súc vật chỉ nhào lặn vật chất theo thước đo và
nhu cầu giống lồi nó, còn con người thì có thể áp dụng thước đo thích
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
dụng cho mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào lặn vật chất theo quy
luật của cái đẹp”.
Như Lép tơnxtơi đã từng thốt lên: “Sách viết về cái đẹp đã chất lên
thành núi cái đẹp vẫn còn là một câu đố giữa cuộc đời”.
Như vậy theo quan điểm của Mác nói trên thì cái đẹp được gắn với
bản chất sáng tạo của con người, với q trình hồn thiện, hồn mĩ của
con người, gần với sự tự sản sinh ra chính con người.
(Trong cuốn Mỹ học đại cương của T.S. Đỗ Văn Khung, Nxb Đại
học Quốc Gia Hà Nội Hà Nội, 2002., tr 52). Tác giả cũng có đưa ra một
định nghĩa về cái đẹp như sau: “Cái đẹp là phạm trù cơ bản và trung tâm
của Mỹ học dùng để chỉ thực tại thẩm mĩ khách quan. Thực tại này chỉ
chúng ta biết được nhờ hệ thống cảm nhận phổ biến có tính xã hội sâu
sắc. Dưới ánh sáng của lí tưởng thẩm mỹ chân chính, hệ thống cảm nhận
thẩm mỹ phản ánh lại thực tại đẹp. Đặc trưng ngơn ngữ của sự phản ánh
đó là nghệ thuật. Cái đẹp bắt nguồn từ cái chân thật, và cái tốt: nó tỏa
chiếu bằng những xung đột thẩm mỹ có sức hút, giúp cho con người định
hướng đời sống theo luật hồn thiện, hồn mỹ. Tác động của cái đẹp là
một tác động có tính thanh cao, hài hòa biện chứng, ở tự thân bên trong
tâm hồn con người, bên tỏng xã hội lồi người”.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
CHƯƠNG II. CÁI ĐẸP TRONG THỜI KỲ HY LẠP CỔ ĐẠI
1. Các điều kiện cho sự ra đời của Mỹ học Hy Lạp cổ đại
1.1. Điều kiện tự nhiên
Đất nước Hy Lạp cổ đại rộng lớn hơn ngày nay rất nhiều, nó bao
gồm cả vùng miền Nam bán đảo Ban Căng, vùng ven biển Tiểu Á và các
đảo vùng biển E-giê. Với vị trí địa lí nằm trên một bán đảo rộng lớn. Đất
nước Hy Lạp cổ đại nhìn ra Địa Trung Hải, đối diện với các quốc gia nổi
tiếng trong khu vực Tiểu Á. Tiểu Á và Bắc Phi. Tuy điều kiện đất đai
khơng thuận lợi cho phát triển thủ cơng nghiệp (đồ gốm…). Đây là những
yếu tố tạo nên điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thương nghiệp,
giao lưu, bn bán với các nước trong khu vực bằng cả đường bộ và
đường biển.
1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Lịch sử Hy Lạp đã trải qua các giai đoạn phát triển:
- Thứ nhất là thời kì văn hóa Crét - Myxen, kéo dài từ thiên niên kỉ
thứ III đến thiên niên kỉ thứ II (BCE), là giai đoạn thống trị của người
Akêen. Đây là thời kì có sự kết hợp của hai nền văn hóa Crét và Myxen.
Thời kỳ này về kinh tế chủ yếu là nơng nghiệp, xuất hiện một số ngành
thủ cơng va xã hội thời kì này đã bắt đầu có sự phân chia giai cấp.
- Thứ hai là thời kì văn hóa Hơme, từ thế kỉ thứ IV đến thế kỉ thứ
IX (BCE). Thời kì này kinh tế vẫn chủ yếu là nơng nghiệp, thủ cơng
nghiệp đã phát triển tương đối nhưng còn đơn lẻ. Về xã hội đây là giai
đoạn cuối của xã hội ngun thủy. Tộc người thống trị của thời kì này là
IƠniên.
- Thứ ba là thời kì Thành Bang: ở thời kì này đã xuất hiện giai cấp
và nhà nước, kéo dài từ thế kỉ VIII đến thế kỉ IV (BCE). Kinh tế thời kì
này đã phát triển tương đối cao, văn hóa, khoa học xuất hiện ở thời kì
này. Về xã hội, đã xuất hiện chế độ chiếm hữu nơ lệ, và nơ lệ có vai trò
rất quan trọng đối với xã hội.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
- Thứ tư là thời kì Hy Lạp hóa (334 - 30 BCE). Là thời kì mà xã hội
Hy Lạp diễn ra những biến động lớn: xâm chiếm Mê Kê đơnia và hợp
nhất Hy Lạp với La mã thành Hy Lạp.
Về kinh tế: Người Hy Lạp đã tạo ra được các sản phẩm bằng kim
loại dẫn đến sự phát triển cuảnơng nghiệp và tách thủ cơng nghiệp ra khỏi
nơng nghiệp. Cùng với đó là sự phát triển mạnh của thương nghiệp, nhất
là từ khi xuất hiện đồng tiền bằng kim loại vào thế kỉ thứ VII (BCE). Đất
nước Hy Lạp thời kì này đã xuất hiện những thành thị là trung tâm kinh tế
và sau này là các trung tâm văn hóa, chính trị.
Về xã hội: Chế độ thị tộc, bộ lạc bị tan dã, thay vào đó là chế độ tư
hữu. Sự phân hóa giai cấp thời kỳ này trở nên sâu sắc, với ba tầng lớp:
- Q tộc
- Bình dân
- Nơ lệ.
Và kết quả là sự ra đời của nhà nước.
Sự phát triển của kinh tế - xã hội dẫn đến sự phân cơng lao động
tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay, làm xuất hiện một tầng lớp
trí thức chun hoạt động trên lĩnh vực tinh thần khơng phụng sự tơn
giáo. Đây chính là điều kiện trực tiếp nhất cho sự ra đời của triết học
cũng như Mỹ học Hy Lạp cổ đại.
1.3. Sự phát triển của khoa học tự nhiên
Thời kỳ này đã xuất hiện các tri thức khoa học tự nhiên mặc dù còn
sơ khai như: khoa học thiên văn, tốn học, vật lí học.
Chính sự xuất hiện của khoa học tự nhiên dẫn tới đòi hỏi một cách
giải thích về thế giới khác với cách giải thích trong thần thoại Hy Lạp.
2. Đặc điểm cơ bản của triết học, Mỹ học Hy Lạp cổ đại
- Các nhà Mỹ học thời kỳ này cũng đồng thời là các nhà triết học,
mỹ học còn là một phần của triết học, chưa tách rời thành một khoa học
độc lập.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
- Vì trả lời cho vấn đề cơ bản của triết học là: Mối quan hệ giữa tồn
tại và tư duy, triết học thời kì này chia thành hai phe lớn đó là: Chủ nghĩa
duy vật với các nhà triết học duy vật tiêu biểu như: Đêmơcrít, Arítstốt, và
chủ nghĩa duy tâm tiêu biểu là Platon…
Ngồi hai trường phái chính nói trên còn có các nhà triết học nhị
ngun luận (giao động giữa trường phái duy vật và trường phái duy tâm).
- Các nhà triết học thời kì này hầu hết đều cho ràng: con người có
thể nhận thức được thế giới. Nhưng đứng trên lập trường của chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa duy tâm họ lại có những cách trả lời khác nhau về
ngun tắc.
Chính vì các nhà Mỹ học thời kỳ này cũng đồng thời là các nhà triết
học nên họ cũng đưa ra những quan niệm, quan điểm Mỹ học trên lập
trường duy vật và duy tâm khác nhau.
3. Tư tưởng triết học của một số triết gia tiêu biểu
3.1. Trường phái triết học duy vật
* Đê Mơcrít (46 - 307 BCE)
Ơng là đại biểu xuất sắc nhất của chủ nghĩa duy vật cổ đại. Được
coi “là bộ óc bách khoa đầu tiên, là người đã nghiên cứu một cách thực
nghiệm về thế giới tự nhiên” (Mác).
- Đêmơcrít là người đã phát triển học thuyết ngun tử của Lơxíp:
(cho rằng khởi ngun của thế giới là vơ số các ngun tử, và ngun tử
là hạt nhân nhỏ bé nhất khơng thể phân chia được, nó vơ hạn cả về số
lượng và hình thức).
Đêmơcrít đã hồn thiện thuyết ngun tử cổ điển: ơng cho rằng bản
ngun của thế giới gồm hai yếu tố là “tồn tại” và “khơng tồn tại” hai yếu
tố này kết hợp với nhau tạo nên vạn vật của vũ trụ. Ơng giải thích về sự
xuất hiện và mất đi của các sự vật là do sự kết hợp và phân tán của các
ngun tử. Sự khác nhau của các sự vật được quyết định bởi: trật tự sắp
xêp của các ngun tử, mỗi ngun tử có các hình thức khác nhau và do
thế xoay đặt của các ngun tử mà thành.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
- Đêmơcrít quan niệm về sự hình thành vũ trụ là: khơng phải do
thần thánh sáng tạo ra mà nó là kết quả của q trình biến đổi của tự
nhiên, do sự kết hợp mang tính tất yếu của các ngun tử theo các phương
thức khác nhau.
Về lý luận nhận thức: ơng quan niệm nhận thức có hai loại:
- Nhận thức cảm tính
- Nhận thức lí tính
Cho rằng nhận thức cảm tính là cơ sở cho nhận thức lí tính để đạt
tới chân lí.
Trong quan niệm về xã hội thì ơng đứng trên lập trường giai cấp để
đưa ra quan điểm bảo vệ cho lợi ích của giai cấp chủ nơ.
* Arixtốt.
Ơng cũng được coi là một bộ óc bách khoa của triết học cổ đại, là
nhà triết học duy vật tiêu biểu.
Ơng phân triết học ra thành 2 lĩnh vực đó là siêu hình học và vật lý
học.
Tuy là học trò của Platon nhưng ơng lại phê phán chính người thầy
của mình về học thuyết ý niệm.
Arixtốt cho răng Platon đã tuyệt đối hóa vai trò của ý niệm (tuyệt
đối hóa cái trung và tách nó ra khỏi cái đơn nhất).
Arixtốt đưa ra quan niệm về học thuyết 4 ngun nhân: Tồn tại của
sự vật được tạo thành từ bốn ngun nhân đó là:
- Ngun nhân hình dạng: là đơe cho sự vật là nó.
- Ngun nhân vật chất: là để hình thành lên sự vật.
- Ngun nhân vận động: là để hình dạng thơng qua ngun nhân
vật chất mà tạo nên sự vật.
- Ngun nhân mục đích: là ngun nhân làm cho mọi hoạt động cơ
bản của sự vật sảy ra.
3.2. Trường phái triết học duy tâm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Platon là nhà triết học duy tâm khách quan nhất qn và triệt để,
ơng là học trò của Xơcrát. Tư tưởng triết học của Platon được hình thành
lên từ sự kết hợp giữa nguồn gốc lí luận bao gồm tư tưởng của Xơcrát về
cái phổ biến, Tư tưởng của Êlê về tồn tại bất biến và tư tưởng của Pitayo
về con số với thực tiễn mà Platon đã trải qua.
Tư tưởng triết học cơ bản nhất của Platon là học thuyết về “ý niêm”.
Trong học thuyết này thì vấn đề mà ơng quan tâm đó là: tồn tại chân thực
là gì? Theo ơng thì tồn tại phải là cái vĩnh viễn bất biến, vì thế tồn tại
đích thực khơng thể thuộc về cái cảm tính ln thay đổi, mà nó phải thuộc
về một thế giới khác (thế giới ý niệm).
Ơng quan niệm thế giới ý niệm là thế giới tồn tại bất biến, vĩnh
viễn, tự thân đồng nhất. Nó là thế giới bản chất và khơng thể nhận biết
được bàng lí tính. Ý niệmchính là cơ sở, nguồn gốc, ngun mẫu của sự
vật cảm tính. Platon còn đưa ra quan niệm về vật chất, vật chất khơng
phải là một sự vật cụ thể, là điều kiện cho sự tồn tại của sự vật, là cái để
giải thích cho sự thay đổi của sự vật cảm tính, còn ý niệm vẫn khơng thay
đổi. Vật chất khơng phải do ý niệm sinh ra vì nó cũng là cái tồn tại vĩnh
viễn.
4. Quan niệm về cái đẹp trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại
Các nhà triết học, mỹ học Hy Lạp cổ đại là những người đi tiên
phong trong việc tìm tòi, khám phá để lí giải một cách khoa học cho câu
hỏi: cái đẹp là gì? đồng thời là những người đặt nền móng cho sự hình
thành của hệ thống các quan điểm, quan niệm mỹ học sau này, quan niệm
cơ bản trung tâm đó là quan niệm về cái đẹp.
Các nhà mỹ học Hy Lạp cổ đại cũng đồng thời là các nhà triết học
nhìn chung họ muốn đưa ra sự giải thích về cái đẹp trên cơ sở lập trường
quan điểm vũ trụ luận. Nghĩa là khi tìm hiểu về các thuộc tính, các phẩm
chất của cái đẹp họ đã biết dựa vào những đặc tính của khách thể để vạch
ra những thuộc tính và những phẩm chất cái đẹp của đối tượng đó. Tuy
nhiên do các nhà mỹ học Hy Lạp cổ đại này lại đứng trên các lập trường
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
tư tưởng khác nhau, cụ thể là Hêraclit, Đêmơcrít và Arixtốt là những đại
biểu của mỹ học duy vật còn Platon là đại biểu cho mỹ học duy tâm, vì
bậy họ có sự nhìn nhận và đánh giá khác nhau về cái đẹp.
Các nhà mỹ học duy vật như Đêmơcrít và Arixtốt đều cho rằng, cái
đẹp có các thuộc tính như: sự cân xứng, hài hòa, trật tự, số lượng, chất
lượng… còn nhà mỹ học duy tâm Platon lại một mặt thừa nhận cái đẹp là
sự hài hòa cân xứng, hồn thiện, hồn myũ nhưng mặt khác lại cho rằng
cái đẹp khơng gắn với sự vật mà ta thường thấy. Theo ơng cái đẹp chỉ tồn
tại ở thượng giới khi chúng ta “bước theo thần Duypite trong tiếng nhạc
hòa tấu của thiên đình”, lúc đó “cái đẹp” ánh lên như một thực thể. Còn
cái mà chúng ta gọi là cái đẹp ở hạ giới chỉ là cái bóng của một “ý niệm”
đẹp chiếu rọi từ thiên đình xuống.
Chính những quan niệm và những tranh luận giữa các nhà mỹ học
duy vật với các nhà mỹ học duy tâm này với nhau về cái đẹp đã tạc lên
những khuynh hướng quan niệm khác nhau về cái đẹp sau này.
Những quan niệm về cái đẹp trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại còn biểu
hiện ra thơng qua các loại hình nghệ thuật cổ, mà sự biểu hiện rõ nhất là
thơng qua sự sáng tạo ra các pho tượng thần thoại Hy Lạp đầy sống động
trong các loại hình thi ca, hội họa, kiến trước.
5. Một số biểu hiện của cái đẹp thơng qua các loại hình nghệ thuật
Hy Lạp cổ đại.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
CHƯƠNG III. CÁI ĐẸP CỔ ĐIỂN
1. Cái đẹp thời kỳ cổ điển
1.1. Một số quan điểm về cái đẹp thời kỳ cổ điển.
Nếu như lịch sử mỹ học được chia làm ba giai đoạn ( theo giáo
trình mỹ học Mác- Lênin) : thời thơ ấu ( hay còn gọi là thời giáo điều),
thời trưởng thành và thời tích cực thì có thể nói mỹ học cổ điển nằm trong
thời kỳ q độ giữa giai đoạn một và giai đoạn hai. Đó là thời kỳ sau khi
mỹ học được “ cha đỡ đầu làm lễ rửa tội” đã chập chững bước những
bước đầu tiên và đánh dấu thành tựu của nó bởi các nhà mỹ học nổi tiếng
như: I. Kant, F. Hêghen…
Như chúng ta đã biết, sau gần ba thế kỷ từ XIV – XVI thời kỳ Phục
Hưng, giai cấp tư sản vẫn chưa đủ lớn mạnh để giành lấy thế chủ động
nắm chính quyền. Tuy nhiên, sang đến thế kỷ XVII thì giai cấp này đã bắt
đầu lớn mạnh và cạnh tranh quyền lợi với các giai cấp phong kiến. Đặc
điểm này thể hiện rõ nhất ở Pháp: dưới triều vua Louis XIV, giai cấp tư
sản nhờ tập trung được của cải và vật liệu sản xuất đã buộc được giai cấp
bóc lột phải phân chia quyền lực. Nghĩa là cạnh ngai vàng là nghị viện,
cạnh vua là nhà tư sản. Chính vì thế vẻ đẹp tự do, phóng khống, đầy tính
nhân văn là đề cao khát vọng của con người thời kỳ Phục Hưng được thay
bằng vẻ đẹp có tính chuẩn mực khắt khe của Hàn Lâm viện - cái đẹp phải
đề cao nghĩa vụ phục vụ quốc gia. Tuy nhiên, thế hồ hỗn giữa hai kẻ
kình địch đó chỉ xảy ra tạm thời, bởi giai cấp tư sản lúc đó đã trưởng
thành và đủ vây cánh đang ngấm ngầm thanh tốn giai cấp phong kiến.
Do đó vẻ đẹp của tình cảm và ước vọng tư bản cũng dần dần lấn lướt vẻ
đẹp của nghĩa vụ kiểu phong kiến lỗi thời. Đặc điểm này thể hiện rất rõ
trong nghệ thuật cổ điển, đặc biệt là nghệ thuật cổ điển Pháp, sẽ được
trình bày trong phần 2.
Điều đáng nói ở đây là một khi thời đại đã thay đổi thì các vấn đề
của thời đại đó cũng thay đổi theo, nhất là một vấn đề rất nhạy cảm như
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
mỹ học. Ngày 21/1/1793, vua Louis XVI bị đưa lên máy chém đánh dấu
thắng lợi của giai cấp tư sản đối với giai cấp phong kiến. Nhưng đây cũng
là lúc giai cấp này quay ra phản bội nhân dân, phản bội chính lý tưởng “
Tự do- Bình đẳng- Bác ái” mà chúng đã đưa ra trong cách mạng văn hố
1789. Điều đó gây tâm lý chán nản và căm ghét xã hội tư bản trong đại đa
số tầng lớp nhân dân. Chính tâm lý này đã ảnh hưởng khơng nhỏ đến đời
sống thẩm mỹ của quần chúng, đặc biệt là I. Kant, một trong những thiên
tài về mỹ học.
Kant ( 1724-1784) là người đề xuất tư tưởng mỹ học của cái tơi
mang đậm màu sắc chủ quan. Ơng đã phát hiện ra bản chất của cái thẩm
mỹ, trong đó cái đẹp là biểu hiện tập trung nhất của cái thẩm mỹ, nó có
tính chất vơ tư. Trong tác phẩm “ Phê phán năng lực phán đốn” ( 1790),
ơng viết: “ Khơng có khoa học về cái đẹp, chỉ có sự phán đốn về cái đẹp
mà thơi.” “ Phán đốn về cái đẹp là phán đốn vơ tư, khơng vụ lợi,
khơng mục đích và thờ ơ với các quan hệ vật chất.” Nghĩa là cái đẹp
được nhận biết, được cảm thụ bằng tai, mắt chứ khơng phải bằng các giác
quan như lưỡi, mũi: “ vẻ đẹp khơng ở đơi má hồng cuả người thiếu nữ,
mà trong con mắt của kẻ si tình”.
Khái niệm “ vơ tư” theo Kant: một là, vơ tư ở đây khơng có nghĩa
là vơ mục đích, vơ ích lợi. Cái đẹp là cái có mục đích và có ích lợi to lớn.
Chẳng hạn, những bài ca trong lao động có tác dụng cổ vũ tinh thần rất
lớn, giảm mệt nhọc khi làm việc. Sức mạnh ở đây là sức mạnh truyền
cảm, đánh thức niềm tin, ý chí và nghị lực. Hai là, ơng gọi phương thức
biểu hiện của cái đẹp là
“ khái niệm khơng khái niệm”. Cái đẹp được biểu hiện trong tính
hình tượng, tồn vẹn, chỉnh thể của nó và ở đây nó là một hình tượng
thẩm mỹ.
Như vậy, Kant đã phủ nhận dấu hiệu đẹp của tự nhiên và chỉ phán
đốn chúng theo cách cảm, cách nghĩ của chủ thể cá nhân mà thơi. Muốn
đánh giá cái đẹp đúng đắn cần phải có một trí tuệ phát triển. Một người
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
khơng có tiềm năng về trí tuệ thì khơng tự tìm thấy cảm giác đẹp được.
Ơng cho rằng vì khơng có khái niệm về cái đẹp nên cũng khơng có quy
tắc phán đốn cái đẹp. Và Kant đã đưa ra hai hình thức của cái đẹp: cái
đẹp thuần khiết và cái đẹp của con người cao cả. Cái đẹp thuần khiết là
cái đẹp tự do, khơng cần một khái niệm nào cả. Còn ngược lại, cái đẹp
của con người cao cả là vẻ đẹp khơng còn tự do nữa, mà đã “ tham dự
vào khái niệm”. Quan điểm này của Kant cũng là quan điểm của số đơng
các nhà mỹ học theo khuynh hướng duy tâm chủ quan. Nó có ảnh hưởng
rất lớn đến các nhà thơ lãng mạn Việt Nam sau này, tiêu biểu là Xn
Diệu:
“ Ta là một, là riêng, là thứ nhất
Khơng có chi bè bạn nổi cùng ta”.
Họ khơng chấp nhận thực tại khách quan, khơng muốn mơ tả hiện
thực khách quan mà lấy cái tơi cá nhân làm cơ sở và họ mong ước đạt
đến “ tự do tuyệt đối” nhưng khơng phải tự do ở ngồi đời, mà là thứ tự
do trong tâm tưởng, trong mộng ước. Cũng vì cái tự do khơng bao giờ đạt
được đó mà có lúc Chế Lan Viên từng thốt lên: “ Lũ chúng ta đầu thai
lầm thế kỷ.”
Còn Vũ Hồng Chương thì đắm chìm trong cái tơi cực đoan:
“ Mong cho thiên hạ tàn đi cả
Giữa ngã ba đường anh với em.”
Một tác giả mỹ học khác cùng thời với I. Kant là F. Hêghen. Nhưng
nếu Kant quay vào cái tơi chủ quan thì Hêghen đã biết đứng trên quan
điểm lịch sử để giải quyết vấn đề cái đẹp. Ơng coi cái đẹp khơng phải
thuộc tính của vật chất mà là thuộc tính của tinh thần. Điều đó dẫn đến
mâu thuẫn rất lớn trong nhận thức luận của Hêghen. Một mặt ơng khơng
coi cái đẹp là thuộc tính của vật chất, nhưng mặt khác lại thừa nhận cái
đẹp trong tự nhiên dù những cái đẹp này nghèo nàn và thấp hơn rất nhiều
so với cái đẹp trong nghệ thuật. Hêghen nói rằng: trong đời sống hàng
ngày, người ta vẫn thường nói đến một màu đẹp, một bầu trời đẹp, một
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
con sơng đẹp, những con người đẹp, song cái đẹp trong tự nhiên chỉ là
phản ánh cái đẹp thuộc về tinh thần, bản chất của nó là nằm ở tinh thần.
Hay nói cách khác, Hêghen coi cái đẹp là cái có trước, cơ sở đầu tiên của
cái đẹp là ở ý niệm, ở tinh thần tuyệt đối. Và ngun nhân của nó khơng
đâu xa chính là do con người bất lực trước các hiện tượng tự nhiên, xã
hội. Họ lý giải và tìm câu trả lời ở thần thánh và cac lực lượng siêu
nhiên.Từ đó ơng đi đến khẳng định rằng: cái đẹp ở đây chính là cơ sở cho
sự phát triển tơn giáo và triết học duy tâm.
Vậy quan điểm về cái đẹp trên đây đã được soi vào trong nghệ
thuật ở thời cổ điển như thế nào?
1.2. Cái đẹp trong nghệ thuật cổ điển.
Cũng như cái đẹp trong nghệ thuật cổ đại, trung cổ hay phục hưng
thì cái đẹp trong nghệ thuật cổ điển là một sản phẩm đặc biệt do nghệ sĩ
sáng tạo ra. Đây được coi là cái đẹp của mọi cái đẹp ( của cả tự nhiên, lẫn
cả xã hội) mà chủ thể nghệ sĩ đã kết tinh lại bằng sáng tạo độc đáo của
mình, đồng thời đem cống hiến cho xã hội, cho sự hồn thiện, hồn mỹ.
Tiêu biểu cho nghệ thuật cổ điển chính là nghệ thuật cổ điển Pháp. Chẳng
hạn, vở kịch Lơxit của nhà viết kịch cổ điển nổi tiếng Cc-nây. Những
nhân vật chính trong đó là Đơng Rơđrigơ và Simen u nhau say đắm.
Nhưng bi kịch lớn nhất ở đây là Đơng Rơđrigơ- vị con rể tương lai lại
giết ơng bố vợ, bố của Simen. Vì mối huyết thù đó, Simen nói: “tơi cương
quyết đáp lại tiếng gọi của danh dự”. Lời nói đó nói lên đầy đủ bản chất
về thế giới quan của Simen. Còn Đơng Rơđrigơ là người như thế nào? Có
thể nói đây là một hình mẫu lý tưởng của thanh niên Pháp thế kỷ XVII.
Anh là con người có lương tâm, có trách nhiệm, dũng cảm và coi mục
đích cao nhất của cuộc sống là phục vụ Tổ Quốc. Cc-nây cố ý tránh
việc phân tích tỷ mỷ thế giới tâm hồn của các nhân vật và hơn nữa, tránh
diễn tả sinh hoạt của họ. Điều chủ yếu đối với ơng, cũng như đối với
nhiều nhà văn cổ điển khác là miêu tả những đức hạnh cao cả của các
nhân vật. Nhân vật ở đây phần lớn khơng phải là những nhân vật với bản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
chất yếu đuối, với những khuyết điểm sai lầm trong thực tế, mà là những
nhân vật, những con người hồn tồn lý tưởng. Đó chính là sự lý tưởng
hố cuộc sống xuất hiện rất nhiều trong văn học cổ điển và có thể coi là
mẫu mực cho đạo đức thẩm mỹ ở thời kỳ này. Trên cơ sở đó mà lý tưởng
về cái đẹp cổ điển được xây dựng. Nó đối lập hồn tồn với cái tầm
thường của cuộc sống.
Tuy nhiên như trên đã nói, quan điểm thẩm mỹ thay đổi theo thời
đại. Đây là thời kỳ diễn ra sự đấu tranh ngầm mà dai dẳng giữa giai cấp tư
sản đang lên và giai cấp phong kiến đang yếu thế nên con người nghĩa vụ
của Simen đã khơng thể nào thắng được con người trong tâm cảm của
nàng. Sự lo lắng của Simen trước cuộc đấu kiếm mà mình sắp đặt đã lột
trần tình u khơng thể cưỡng lại được của nàng với Đơng Rơđrigơ. Nàng
nghĩ rằng nếu chàng mà chết thì mình cũng chẳng có lý do gì để sống ở
trên đời này nữa. Và một lần nữa sự thoả hiệp giữa hai giai cấp lại xuất
hiện ở cuối tác phẩm. Rơđrigơ khơng chết, chàng được giao nhiệm vụ cầm
qn đi đánh giặc và trước khi đi nhà vua đã hồ giải mối huyết thù cho
phép Rơđrigơ lấy Simen khi nàng mãn tang.
Hay trong vở Ångđrơmác của Raxin đã viết về sự say mê tình u
mà qn mất nghĩa vụ làm vua của Piaruyx…
Qua hai vở kịch ta thấy Cc-nây và Raxin tuy khơng trực tiếp
phản ánh những xung đột của thời đại, nhưng người đọc vẫn thấy được
những hình ảnh gần với thực tại. Đó là đặc điểm q tộc phong kiến được
biểu hiện qua tinh thần “ trọng nghĩa vụ” và đặc điểm tư sản được biểu
hiện qua “ sự say mê dục vọng”. Cuộc giằng co giữa hai địch thủ này đã
diễn ra trong một thời gian dài và được phản ánh rất nhiều vào trong các
tác phẩm nghệ tht khơng chỉ trên lĩnh vực văn học mà còn cả trong điêu
khắc, hội hoạ và rất nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nữa…
Trong điều kiện của thế kỷ XVII và một phần thế kỷ XVIII, cái đẹp
của nền nghệ thuật chủ nghĩa cổ điển đã có tác dụng tiến bộ to lớn đối với
sự phát triển văn hố của lồi người. Nó khích động những tình cảm cao
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét