Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Kinh nghiệm xây dựng nếp học tập tích cực trong khâu soạn bài môn Ngữ Văn đối với học sinh lớp 8 trường THCS Long Giang

T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
A. MỞ ĐẦU
I/ Lý do chọn đề tài:
Trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, yếu tố con người giữ một vị
trí hết sức quan trọng. Đặc biệt là thế hệ trẻ, những con người của thời đại ngày
cang có nhiều phát minh mới, sáng kiến mới phục vụ cho nhân loại .
Hiểu được tầm quan trọng của yếu tố con người. Đảng và Nhà nước ta
ln đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người tài, là
chỗ dựa của đất nước và ngành giáo dục là một trong những ngành trọng điểm
đảm nhiệm vai trò hết sức to lớn ấy.
Cùng với sự đổi mới và phát triển đa dạng của xã hội , để ngày càng thực
hiện tốt hơn vai trò trách nhiệm của mình trong việc “trồng người”, ngành Giáo
dục đã và đang có những đổi mới tích cực cả về nội dung chương trình lẫn
phương pháp dạy học nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho việc dạy học cũng
như đáp ứng tốt nhất cho sự phát triển trí tuệ và kỹ năng của học sinh .
Nếu như trước đây việc dạy học chủ yếu là truyền thụ kiến thức một
chiều từ giáo viên đến học sinh thì ngày nay việc học đã có những bước tiến mới
đó là việc lấy học sinh làm trung tâm. Đặc biệt là qua 8 năm thay sách giáo khoa
chương trình Phổ thơng cơ sở đã đạt được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy
học với yếu tố học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên, dạy học đổi mới phương pháp
đòi hỏi học sinh phải nổ lực rất nhiều so với phương pháp học truyền thống. Để
đảm nhiệm tốt vai trò trung tâm của mình cũng như nắm vững những kiến thức
mới, hiện đại gần gũi với thực tế đó học sinh phải có một q trình chuẩn bị tích
cực, lâu dài. Đồng thời để hưởng ứng phong trào xây dựng “Trường học thân
thiện, học sinh tích cực” mà bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thì học sinh
cần phải phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của mình nhiều hơn nữa
trong học tập.
Để giải quyết vấn đề trên phù hợp với học sinh lớp mình phụ trách, tơi đi
sâu nghiên cứu đề tài: “Kinh nghiệm xây dựng nếp học tập tích cực trong khâu
soạn bài mơn Ngữ Văn đối với học sinh lớp 8 trường THCS Long Giang” nhằm
giúp học sinh xây dựng, rèn luyện nếp học tập tích cực và phát huy vai trò trung
tâm của mình.
2/ Đối tượng nghiên cứu :
Học sinh lớp 8 trường Trung học cơ sở Long Giang
3/ Phạm vi nghiên cứu :
Mơn Ngữ Văn lớp 8 trường Trung học cơ sở Long Giang
4/ Phương pháp nghiên cứu :
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 1
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
+Nghiên cứu tài liệu, cụ thể:
. Sách giáo khoa Ngữ Văn 8 (tập 1)
. Sách giáo viên Ngữ Văn 8 (tập 1)
. Dạy Văn-học Văn (Đặng Hiển, NXB ĐHSP-2003)
. Những vấn đề dạy học Tiếng Việt THCS (Nguyễn Đức Tồn, NXB GD Hà Nội-
2001)
. Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 8 (Trần Đình Sử, Lê Ngun Cẩn,…,
NXB GD Hà Nội-1999)
+ Dự giờ đồng nghiệp và rút kinh nghiệm bản thân trong q trình dạy học.
+ Kiểm tra tình hình soạn bài của học sinh.
+ Đàm thoại:
- Trao đổi với đồng nghiệp, tổ chun mơn về kiến thức chun mơn cũng
như phương pháp dạy học tích cực.
- Trao đổi và lắng nghe ý kiến của học sinh những vấn đề về mơn học, về
việc học bài và soạn bài.
B. NỘI DUNG
1/ Cơ sở lí luận:
Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:
-Cơng văn số 2032 về việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học các mơn
Ngữ Văn, lịch sử, GDCD,…
-Chỉ thị 40 của bộ GD-ĐT về việc thực hiện phong trào xây dựng “trường
học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2008-2013.
-Cơng văn số 11167/BGD-ĐT về việc hướng dẫn thực hiện đánh giá, xếp
loại học sinh trung học và sử dụng sổ gọi tên và ghi điểm.
2/ Cơ sở thực tiễn:
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 2
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
Thực tế học sinh lớp tơi phụ trách mơn Ngữ Văn cho thấy hầu hết học sinh
đều có soạn bài (95%) trước ở nhà nhưng đa số các em còn soạn theo cảm tính.
Nghĩa là các em nghĩ thế nào thì viết thế ấy chứ khơng theo một qui trình nhất
định nào, thậm chí có em viết sơ sài khơng trả lời cụ thể các câu hỏi trong SGK.
Do đó khi lên lớp các em ít dựa vào vở soạn để phát biểu xây dựng bài. Tơi cho
rằng sở dĩ học sinh chưa phát huy tính tích cực, chủ động của mình là ví các em
chưa có một phương pháp soạn bài hiệu quả. Do đó, xây dựng nếp học tập tích
cực của học sinh trong khâu soạn bài là yếu tố rất cần thiết đòi hỏi sự nổ lực rất
nhiều mặt ở cả giáo viên và học sinh.
3/ Nội dung vấn đề:
a/ Thực trạng việc học tập của học sinh đối với bộ mơn Ngữ Văn:
So với các mơn học khác mơn Ngữ Văn được đánh giá là một trong những
mơn khó. Mơn học này khơng chỉ phong phú về nội dung mà còn đa dạng về hình
thức, bởi lẽ nó đề cập đến nhiều vấn đề trong cuộc sống về thế giới quan cũng
như nhân sinh quan. Đọc một bài văn, một bài thơ, người ta có thể “vui, buồn,
mừng giận cùng những người ở đâu đâu, vì những chuyện ở đâu đâu” ( Hồi
Thanh, “Ý nghĩa văn chương”). Qua tác phẩm văn học, người ta có thể học cách
làm người, học cách giao tiếp, sử dụng từ ngữ, văn phong, học trình bày tư tưởng,
tình cảm một cách rõ ràng, mạch lạc và nó được phân chia ra nhiều phân mơn
khác nhau, đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau. Đó là cái hay của mơn Ngữ Văn
và cũng là cái khó của nó.
Chính vì vậy, học sinh tiếp thu kiến thức và cảm nhận được những vấn đề
của cuộc sống qua mơn học là một việc khó, đối với học sinh vùng nơng thơn sâu
thì việc đó lại càng khó hơn. Do đó việc học tập tốt mơn Ngữ Văn khơng phải
học sinh nào cũng có thể làm được.
Nhận định này được rút ra qua thực tế kiểm tra bài của học sinh của lớp mà
bản thân phụ trách:
Về việc phát biểu xây dựng bài, sau thời gian giảng dạy cũng như theo dõi
q trình học tập của học sinh, tơi nhận thấy như sau:
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang
Lớp TSHS Số lần
kiểm tra
Đạt u cầu Khơng đạt u cầu Ghi chú
8
1
38 1 13 (34.21%) 18 (47.36%) 17 HS khơng soạn bài
8
1
38 2 17 (44.73%) 12 (31.57%) 9 HS khơng soạn bài
8
1
38 3 23 (60.52%) 15 (39.47%)
8
2
36 1 10 (27.78%) 14 (38.9%) 12 HS khơng soạn bài
8
2
36 2 15 (41.67%) 13 (34.21%) 8 HS khơng soạn bài
8
2
36 3 22 (61.1%) 14 (38.9%)
3
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
Trước thực tế chất lượng học tập cũng như khâu soạn bài của học sinh đối
với bộ mơn nêu trên, bản thân cho rằng có nhiều lí do khác nhau, có lí do chủ
quan cũng như khách quan. Trong đó, việc học sinh khơng biết cách soạn bài
trước ở nhà là ngun nhân chính dẫn đến việc tiếp thu bài chậm, bởi vì bài học
mà học sinh soạn trước ở nhà là kiến thức mới. Vì vậy bản thân nhận thấy rằng
cần phải có biện pháp giúp học sinh phát huy tính cích cực của mìng, đặc biệt ở
khâu soạn bài nhằm đem lại kết quả học tập như mong đợi.
b- Biện pháp thực hiện:
Cũng như các mơn học khác, mơn Ngữ Văn đòi hỏi sự tư duy, chuẩn bị
trước ở nhà. Tuy nhiên, nó cũng có đặc trưng riêng, đó là trí tưởng tượng phong
phú, óc quan sát và kỹ năng tích hợp nhạy bén. Cho nên thái độ học tập tích cực,
thói quen học bài cũ, soạn bài mới là yếu tố hết sức quan trọng và hết sức cần
thiết.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để mục tiêu nói trên được thực hiện có hiệu
quả – nghĩa là khơng hồn tồn áp đặt mà phần lớn là dựa trên cơ sở tự nguyện,
tự giác của học sinh.
Để phần nào giải quyết vấn đề trên, trong học kỳ I vừa qua, tơi đã thực
hiện một số biện pháp sau đây:
* Thơng tin cho học sinh hiểu về sự cần thiết của việc học tập tích cực, đặc
biệt là trong khâu soạn bài ở nhà.
Như đã nói ở trên, mơi trường xã hội có ảnh hưởng nhất định đến tâm lí, sự
hình thành và phát triển tính cách của học sinh. Một số học sinh ngày nay
thường ham chơi hơn ham học, dẫn đến lười học, chán học, thậm chí có nguy
cơ bỏ học. Vì vậy ngay từ đầu năm học, giáo viên cần sinh hoạt cho học sinh
hiểu về sự cần thiết và quan trọng của việc soạn bài để giúp học sinh nhận thức
rõ hơn. Từ đó, học sinh có thể chú trọng hơn đến nhiệm vụ của mình và mang
lại hiệu quả học tập cao.
*Nêu ra cam kết thực hiện nội qui học sinh có chữ kí của phụ huynh.
Sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội góp phần khơng nhỏ trong
việc nâng cao chất lượng học tập cũng như ý thức đạo đức của học sinh. Bên
cạnh q trình dạy học của nhà trường thì yếu tố gia đình cũng có tác động
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang
Lớp TSHS Thời gian
(số tuần)
Số HS thường xun phát biểu Số HS ít phát biểu
8
1
38 1-4 16 (42.1%) 22 (57.9%)
8
1
38 5-8 20 (53%) 18 (47%)
8
2
36 1-4 15 (42%) 21 (48%)
8
2
36 5-8 22 (61.1%) 14 (39.9%)
4
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
mạnh mẽ đến các em. Vì vậy ngay từ đầu năm học, giáo viên có thể cho học
sinh cam kết thực hiện nội qui kèm chữ kí cam kết của phụ huynh.
Có sự nhắc nhở, kiểm tra của gia đình thì học sinh sẽ siêng năng hơn. Kết
hợp với việc học trên lớp dần dần các em sẽ thấy được hiệu quả của bước học
trước một lần. Cũng từ đây, giúp học sinh nhận thức rõ hơn về giá trị và tầm
quan trọng của vở soạn.
* Quy định mỗi học sinh phải có một quyển vở soạn Ngữ Văn riêng để
tránh tình trạng các em soạn nhiều mơn cùng một quyển vở hoặc vở học và vở
soạn viết cùng nhay gây khó khăn cho việc theo dõi bài và học bài.
* Giáo viên đầu tư, hướng dẫn cho học sinh cách soạn bài – nghĩa là
học sinh phải nắm được nội dung, u cầu cụ thể mình cần phải soạn trong
mỗi tiết dạy.
Theo kết quả khảo sát trong học kỳ I vừa qua, đa số học sinh khơng soạn
bà hoặc khơng biết cách soạn bài. Sau một thời gian tìm hiểu, tơi nhận thấy rằng
sở dĩ học sinh khơng soạn bài hoặc soạn khơng đúng u cầu là vì:
+ Các em khơng tích cực tư duy để trả lời câu hỏi.
+ Các em khơng có tài liệu tham khảo nào khác ngồi SGK (ở đây khơng
nói đến sách giải bài tập).
+ Các em khơng có một phương pháp soạn bài đúng.
Cho nên điều đầu tiên phải làm là hướng dẫn học sinh soạn bài.
Mơn Ngữ Văn có 3 phân mơn khác nhau nên việc hướng dẫn học soạn bài
cũng có những đăc trưng khác nhau:
* Đối với phân mơn Ngữ Văn:
 Văn xi:
+ Giáo giên hướng dẫn học sinh đọc kĩ nội dung văn bản.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu lời nói, cử chỉ, hàng động và
những chi tiết thể hiện thái độ của nhân vật cộng với việc phân tích một số biện
pháp nghệ thuật. Qua đó rút ra nhận xét chung về tích cách của nhân vật.
+ Đọc kỹ và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa dựa và những dẫn
chứng trong nội dung bài học.
Ví dụ: Văn bản: “Tức nước vỡ bờ” (trích “Tắt Đèn” – Ngơ Tất Tố), SGK
Ngữ Văn 8 tập 1.
Phân tích nhân vật Cai Lệ (câu hỏi 2/SGK/32)
Để phân tích tính cách nhân vật Cai Lệ, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm
và nhặt ra những chi tiết miêu tả lời nói, cử chỉ, hành động của hắn:
“ Gõ đầu rơi xuống đất, Cai Lệ thét bằng giọng khàn khàn của người hút
nhiều xái cũ:
- Thằng kia! Ơng tưởng mày chết đêm qua, còn sống đấy à? Nộp tiền sưu!
Mau! (SGK/29).
“ Cai Lệ khơng để cho chị được nói hết câu, trợn ngược hai mắt, hắn qt:
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 5
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
- Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của Nhà nước mà dám mở
mồm xin khất… (SGK/30.31)
“Cai Lệ vẫn giọng hầm hè:
- Khơng hơi đâu mà nói với nó, trói cổ thằng chồng nó lại, điệu ngay ra đình”
 Thơ:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích từ ngữ, nghệ thuật miêu tả, các
biện pháp tu từ thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhà thơ để trả lời các câu hỏi
trong sách giáo khoa.
Ví dụ:
Sau khi viết bài tập làm văn số 3, để chuẩn bị cho bài học tiếp theo, ở phần
dặn dò, trả lời câu hỏi số 1 (SGK Ngữ Văn 8 tập 1-SGK/147) giáo viên hướng
dẫn học sinh phân tích cặp từ “vẫn…vẫn”, liên hệ với hồn cảnh nhà thơ. Tiếp đó
học sinh tự phân tích câu thơ thứ hai, liên kết 2 ý lại với nhau để rút ra nhận xét
về khí phách và phong thái của nhà thơ – người chiến sĩ cách mạng.
Tương tự những câu thơ tiếp theo ngồi phân tích từ ngữ học sinh cần phân
tích cặp từ tăng tiến “Đã…lại” và nghệ thuật đối ý giữa hai câu thực và hai câu
luận
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh chú ý phân tích dấu câu, nhịp, vần, thanh
trong bài thơ.
 Đối với phân mơn Tiếng Việt:
Lý thuyết:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ nội dung các ví dụ trong sách
giáo khoa, liên hệ với ngữ cảnh của từ ngữ, câu văn để trả lời các câu hỏi trong
sách giáo khoa.
Ví dụ:
Để hiểu nghĩa của câu “nó ăn những hai bát cơm”, học sinh cần liên hệ đến
đối tượng “no” và câu nói được sử dụng trong những trường hợp nào để rút ra ý
nghĩa của trợ từ “những”.
Thực hành:
Giáo viên u cầu học sinh đọc kỹ đề tài, liên hệ với kiến thức lý thuyết để
giải quyết.
 Đối với phân mơn Tập làm văn:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kỹ nội dung từng phần của bài học,
sau đó dựa vào nội dung đó mà trả lời từng câu hỏi trong sách giáo khoa.
Ví dụ: đơc đ oạn văn (SGK/72.73, Ngữ Văn 8, tập 1)
Trả lời câu hỏi 1 (SGK/73, ngữ văn 8, tập 1)
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 6
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
Giáo viên u cầu học sinh chỉ ra các yếu tố miêu tả và biểu cảm trong
đoạn văn trên, gạch dưới những từ ngữ, câu văn, hình ảnh, chi tiết miêu tả và biểu
cảm.
Câu 2 (SGK/73, Ngữ Văn 8, tập 1)
Học sinh ghi ra các yếu tố tự sự, và so sánh với đoạn văn gốc, sau đó nhận
xét sự khác nhau giữa chúng. Từ đó rút ra kết luận về vai trò của yếu tố miêu tả
và biểu cảm.
Câu 3 (SGK/73, Ngữ Văn 8, tập 1)
Đối chiếu đoạn 1 với đoạn 2 và tự nhận xét về nội dung đoạn văn. Từ đó
rút ra nhận xét về vai trò của yếu tố tự sự.
Phần này giáo viên ghi ngắn gọn vào bảng phụ:
- Chỉ ra yếu tố miêu tả, biểu cảm và tự sự.
- So sánh đoạn văn chỉ có yếu tố tự sự với đoạn văn trong sách giáo khoa.
- So sánh đoạn văn gốc với đoạn văn khơng có yếu tố tự sự.
- Rút ra vai trò của từng yếu tố trong đoạn văn.
- Trong 3 yếu tố trên, yếu tố nào quan trọng nhất? Vì sao?.
+ Đối với những bài cần chú thích dẫn chứng thì học sinh phải ghi cụ thể
hoặc đánh dấu vào sách giáo khoa để nhận xét, trả lời câu hỏi.
Tất cả những điều cần dặn học sinh, giáo viên ghi tóm tắt ý chính vào bảng
phụ, phần hướng dẫn gợi ý thì giáo viên nói nhanh cho học sinh tự ghi nhớ.
* Động viên, nhắc nhở học sinh thường xun:
Học sinh ở lớp 8 là lứa tuổi khơng lớn cũng khơng nhỏ. Ơ giai đoạn này,
các em ln tự cho rằng mình đã lớn nhưng các em vẫn chưa đủ nhận thức và
tầm nhìn sâu rộng như người lớn. Cụ thể là đa số học sinh chưa thấy được tầm
quan trọng của việc học mà chỉ ham chơi, vui đùa. Ngược lại, các em cũng
khơng thích người khác can thiệp q sâu hoặc áp đặt hành vi của mình. Do đó,
hiểu được tâm lí học sinh, giáo viên cần động viên, khuyến thích, nhắc nhở nhẹ
nhàng qua các bài học có nội dung liên quan (có thể thực hiện ở bước liên hệ
thực tế, giáo dục đạo đức, tư tưởng).
* Có nhắc nhở phải có kiểm tra, nếu khơng kiểm tra thì việc nhắc nhở
thường xun sẽ làm cho học sinh “lờn thuốc”. Soạn bài, chép bài đầy đủ là
bước quan trọng của q trình học tốt. Bởi lẽ nếu học sịnh khơng soạn bài trước
ở nhà thì sẽ bỡ ngỡ với bài học mới trên lớp. Học sinh tiếp thu bài chậm, lâu
dần sẽ mất kiến thức căn bản dẫn đến lười học, chán học. Điều đó hết sức nguy
hiểm, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng học tập của học sinh.
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 7
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
Và nếu học sinh chán học vì khơng hiểu bài thì trên lớp các em cũng
khơng chép bài vì “chép mà khơng hiểu thì chép làm chi?”. Đây là lối suy nghĩ
tiêu cực nhưng khơng phải là hiếm ở một số học sinh yếu kém.
Vì vậy, giáo viên cần kiểm tra vở học, vở soạn của học sinh hàng tuần, có
nhận xét, đề nghị và tái kiểm tra nhằm góp phần ngăn chặn tình trạng tiêu cực
nêu trên có thể xảy ra.
Ngay từ đầu năm học, giáo viên thơng báo kế hoạch kiểm tra vở học và
vở soạn cho học sinh nắm và thực hiện theo kế hoạch. Cuối mỗi tuần , giáo viên
u cầu một số học sinh yếu kém (5-10 em) nộp vở học và vở soạn để giáo viên
kiểm tra. (tuỳ đặc điểm tình hình của lớp mà giáo viên có thể linh hoạt kiểm tại
trường hay về nhà). Việc kiểm tra tập của học sinh diễn ra hàng tuần nên cũng
khơng mất nhiều thời gian của giáo viên.
Để đảm bảo cho việc theo dõi mang tính chính xác, khách quan thì giáo
viên cần có sổ theo dõi kiểm tra tập của học sinh, cập nhật đầy đủ thơng tin (ưu
điểm, khuyết điểm, hướng khắc phục và thời gian tái kiểm tra để tiện theo dõi
và nắm tình hình soạn bài của học sinh. Có thể tham khảo theo mẫu dưới đây:
TT TG Kiểm
tra
Họ tên hs Ưu điểm Khuyết điểm Hướng khắc phục Tg tái kiểm tra
*Song song với việc kiểm tra vở học và vở soạn của học sinh, giáo viên
cũng cần phân cơng một số học sinh khá – giỏi trong lớp kiểm tra việc học bài
của các bạn yếu kém và báo cáo hàng hàng buổi vào đầu mỗi tiết học bộ mơn
(cập nhật vào sổ theo dõi nề nếp học tập của học sinh) để giúp các em học tập
tích cực hơn.
Đa số học sinh yếu kém thướng có thái độ lười học. Thậm chí học sinh
khá giỏi nhưng nếu giáo viên khơng kiểm tra trong thời gian dài thì các em
cũng sẽ có tâm lí chủ quan và giảm dần thời gian học tập. Từ đó chất lượng sẽ
giảm sút.
Người xưa có câu: “gieo hành vi sẽ gặt thĩi quen, gieo thói quen sẽ gặt
tính cách”. Hành vi và tính cách của học sinh hình thành và phát triển như thế
nào là do nhiều yếu tố tác động. Nó có thể phát triển theo hướng tích cực hay
tiêu cực. Ơ đây chỉ đề cập đến hành vi và thói quen soạn bài, nghĩa là làm thế
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 8
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
nào để hành vi soạn bài của học sinh trở thành thói quen. Từ đó, tạo tính tích
cực, năng động trong học tập của học sinh.
Để thực hiện được mục tiêu trên đòi hỏi học sinh áp dụng nhiều phương
pháp. Trong đó cách phân cơng một số học sinh khá – giỏi trong lớp kiểm tra
việc học bài của các bạn yếu kém và báo cáo hàng hàng buổi vào đầu mỗi tiết
học bộ mơn là rất cần thiết.
*Ngày nay, do nhiều ngun nhân khác nhau, một bộ phận học sinh
khơng còn u thích mơn Ngữ Văn như trước nữa. Cho nên là người đảm trách
bộ mơn này, giáo viên phải làm thế nào để khơi dậy niềm đam mê học và tinh
thần siêng năng, làm cho các em cảm thấy u thích mơn học.
Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần kiểm tra bài cũ kết hợp với kiểm tra vở
soạn của học sinh với thang điểm quy định là 3 điểm cho phần soạn bài và 7
điểm cho phần thuộc bài.
Tâm lí trẻ em thường đơn giản và thực tế hơn so với người lớn nên những
gì có lợi cho bản thân thì học sinh thích thực hiện. Soạn bài có điểm khuyến
khích giúp các em vui vẻ hơn, siêng năng hơn. Các em sẽ thấy được việc soạn
bài của mình là có ích, có nghĩa và có lợi. Như vậy, học sinh sẽ nhiệt tình đầu
tư nhiều thời gian và cơng sức hơn cho việc soạn bài.
Tuy nhiên, để tránh tình trạng “đối phó” là học sinh chép từ sách tham
khảo hay mượn bài soạn của bạn ghi lại, gv cần kiểm tra kỹ vở soạn của học
sinh ở cả hai khâu: kiểm tra bài cũ và kiểm tra hàng tuần.
* Phê bình phải đi đơi với khen thưởng. Có như vậy thì khuyết điểm mới
bị hạn chế và ưu điểm mới được phát huy. Trong q trình dạy học, chúng ta
khơng chỉ ln chú trọng đến việc kiểm tra nề nếp học tập của học sinh để phê
bình, kiểm điểm những trường hợp vi phạm mà phải làm thế nào để tạo cho các
em tâm lí học tập mơt cách thoải mái, dựa trên cơ sở tự nguyện, tự giác. Từ đó
mới phát huy được tíng tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh theo tinh thần
“trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Cuối học kì I và cuối năm, giáo viên dành một phần q nhỏ để khen
thưởng những học sinh yếu đạt loại trung bình. Kế hoạch này giáo viên thơng báo
cho học sinh ngay từ đầu năm học và đầu học kỳ II để học sinh có động lực phấn
đấu.
Sau đây là ví dụ minh hoạ cụ thể phần hướng dẫn soạn bài:
Ví dụ 1: Văn bản: “Tức nước vỡ bờ” (trích “Tắt Đèn” – Ngơ Tất Tố, sách
Ngữ Văn 8 – tập I), phân tích diễn biến tâm lí, hành động của chị Dậu, giáo
viên nêu hệ thống câu hỏi như sau:
(1) Tìm những câu văn thể hiện lời nói của chị Dậu nói với Cai Lệ?
(2) Chị Dậu xưng hơ với Cai Lệ như thế nào?
(3) Liên hệ với lời kể của tác giả, nêu sự thay đổi thái độ của chị Dậu đối
với Cai Lệ?
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 9
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
(4) Đến lúc khơng thể nhịn được khi thấy anh Dậu bị đánh, chị Dậu đã làm
gì?
(5) Nhận xét của em về tính cách nhân vật chị Dậu?
Tiết 89
CÂU TRẦN THUẬT
1. Mục tiêu:
2. Phương pháp
3. Chuẩn bị:
4. Tiến trình lên lớp:
4.1 On định
4.2 Kiểm tra bài cũ
4.3 Bài mới:
4.4 Củng cố và luyện tập:
4.5 Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà:
Dựa vào văn bản “Chiếu dời đơ” và câu hỏi trong sgk, trả lời các nội dung sau
đây:
+ Mục đích của việc dời đơ.
+ Địa thế thành Đại La.
+ Tìm một số đặc sắc về nghệ thuật (tích hợp phân mơn Tiếng Việt và Tập
làm văn)
+ Chỉ ra sức thuyết phục của bài chiếu.
Qua một học kỳ vận dụng các phương pháp nói trên, tơi nhận thấy học sinh
có những chuyển biến tích cực, cụ thể như sau: (tính đến tuần 31)
Lớp TSHS Số lần
kiểm tra
Đạt u cầu Khơng đạt u cầu Ghi chú
8
1
38 1 28 ( 74 %) 10 (26%)
8
1
38 2 31 ( 82 %) 7 (18 %)
8
1
38 3 34 ( 89.4 %) 4 (10.6 %)
8
2
36 1 26 ( 72.2%) 10 (28.8%)
8
2
36 2 30 ( 83.3 %) 6 (16.7%)
8
2
36 3 33 (92 %) 3 (8%)
Kết quả này mặc dù chưa phải là kết quả tốt nhất nhưng cũng đã thể hiện
sự nổ lực của bản thân và tính khả thi của những phương pháp mà tơi đã thực
hiện ở khâu dặn dò trong học kỳ I vừa qua. Và tơi ln cố gắng hết mình để đạt
được kết quả tốt hơn trong thời gian sắp tới.
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 10
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
C. KẾT LUẬN:
1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Sau 7 năm phụ trách giảng dạy mơn Ngữ Văn lớp 8 ở đơn vị, tơi nhận
thấy rằng mơn học này đòi hỏi rất nhiều cơng sức học tập. Bởi nó khơng chỉ đòi
hỏi trí thơng minh, óc quan sát và tưởng tượng tinh tế mà còn có sự u thích
của học sinh đối với mơn học.
Để thực hiện các phương pháp nói trên, giáo viên phải có sự đầu tư thời
gian, cơng sức và sự nhiệt tình cơng tác.
Ơ đây khơng u cầu giáo viên thực hiện tất cả các phương pháp trên ở tất
cả các bài, các tiết trên lớp mà phải có sự sàn lọc, lựa chọn những phương pháp
phù hợp với tình hình thực tế của lớp. Tránh gây tác dụng phụ nếu khơng sử dụng
một cách phù hợp và linh hoạt.
2. HƯỚNG PHỔ BIẾN CỦA ĐỀ TÀI:
- Các phương pháp trên có thể sử dụng rơng rãi để nâng cao hiệu quả giảng
dạy và học tập của giáo viên và học sinh.
- Có thể áp dụng cho các lớp, các mơn khác.
3. HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP ĐỀ TÀI:
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 11
T rường THCS Long Giang Đề tài khoa học môn Ngữ văn 8
Với năng lực và thời gian có hạn, Tôi xin đđược chia sẻ một chút kinh
nghiệm mà bản thân cảm thấy khi vận dụng có hiệu qua. V× th t«i ®· ®i s©u
t×m hiĨu vµ vận dụng ở các khối lớp.
Trên đây là một số phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học
sinh mơn Ngữ Văn đối với học sinh lớp 8 trường THCS Long Giang. Trong đề
tài này chắc chắn ít nhiều cũng có những điểm thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý
kiến của đồng nghiệp để đề tài được hồn thiện hơn.

Long Giang, ngày 16/03/2009
Người thực hiện
PHẠM THỊ TIÊN ĐỒNG
MỤC LỤC
Nội dung Trang
A. MỞ ĐẦU
I . Lý do chọn đề tài 1
II. Đối tượng nghiên cứu 1
III. Phạm vi nghiên cứu 1
IV. Phương pháp nghiên cứu 2
B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận 2
2. Cơ sở thực tiễn 2
3. Nội dung vấn đề 3
a. Thực trạng việc học tập của học sinh đối với bộ mơn 3
b. Biện pháp thực hiện 4
C. KẾT LUẬN 10
* BÀI HỌC KINH NGHIỆM
* HƯỚNG PHỔ BIẾN CỦA ĐỀ TÀI.
12
Giáo viên: Phạm Thò Tiên Đồng Trang 12

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét