Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3.3. Một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước
Kết luận.
CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN LƯU ĐỘNG.
1.1. Vốn lưu động và nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp.
1.1.1. Vốn lưu động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh ngoài các tư liệu lao động các doanh
nghiệp cần có các đối tượng lao động như nguyên vật liệu, bán thành phẩm
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, đối tượng lao động của
doanh nghiệp được biểu hiện cụ thể dưới hình thái là tài sản lưu động (TSLĐ)
của doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp người ta thường chia TSLĐ thành:
TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất gồm: những vật tư dự trữ, vật tư đang nằm trong quá
trình chế biến và những tư liệu lao động khác không được coi là tài sản cố
định. Tất cả đều nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra một cách liên
tục. Thuộc về TSLĐ sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên
liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển
- TSLĐ trong lưu thông gồm: thành phẩm, hàng hoá chờ tiêu thụ, vốn
bằng tiền, vốn trong thanh toán.
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục ứng với
một qui mô kinh doanh nhất định, với điều kiện sản xuất, điều kiện mua sắm
dự trữ vật tư và điều kiện tiêu thụ sản phẩm xác định đòi hỏi doanh nghiệp
phải có một lượng TSLĐ nhất định. Để hình thành nên TSLĐ đòi hỏi doanh
nghiệp phải ứng ra một lượng vốn nhất định; số vốn đó gọi là vốn lưu động.
“Vốn lưu động (VLĐ) là số vốn tiền tệ ứng trước để hình thành nên
TSLĐ của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục.”
Trong quá trình sản xuất , TSLĐ của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi
hình thái biểu hiện để tạo ra sản phẩm .Giá trị của nó cũng được chuyển dịch
một lần vào giá trị của sản phẩm.Đặc điểm này đã quyết định sự vận động của
VLĐ tức là hình thái giả trị của TSLĐ.
Khởi đầu vòng tuần hoàn , VLĐ từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật
tư hàng hóa dự trữ.Qua giai đoạn sản xuất , vật tư được đưa vào chế tạo các
bán thành phẩm và thành phẩm.Kết thúc vòng tuần hoàn , sau khi sản phẩm
được tiêu thụ , VLĐ lại trở về hình thái tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu
của nó.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Do những đặc điểm vốn có của VLĐ mà nhà quản lý doanh nghiệp cần
có những biện pháp quản lý vốn một cách có hiệu quả nhất.
1.1.2. Phân loại vốn lưu động.
Để có thể quản lý VLĐ một cách có hiệu quả doanh nghiệp cần có
những tiêu thức phân biệt nhất định theo từng mục tiêu quản lý của mình. Có
một số tiêu thức phân loại sau đây :
* Phân loại theo hình thái biểu hiện của tài sản, vốn lưu động gồm :
- Vốn bằng tiền và các khoản phải thu.
+ Vốn bằng tiền gồm : tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
chuyển.
+ Các khoản phải thu : Là các khoản vốn trong thanh toán như :
Phải thu của khách hàng là các khoản phát sinh do ứng trước tiền hàng
cho nhà cung cấp hay do doanh nghiệp bán chịu.
Khoản ứng trước cho người bán.
Khoản tạm ứng cho công nhân viên đi công tác hay tạm ứng để mua
hàng.
- Vốn về hàng tồn kho gồm : vốn vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang,
vốn thành phẩm. Xem xét chi tiết hơn cho thấy, vốn về hàng tồn kho của
doanh nghiệp gồm :
Vốn nguyên vật liệu chính : Là giá trị các loại nguyên vật liệu chính dự
trữ dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Vốn vật liệu phụ : Là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ dùng cho quá
trình kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là loại nguyên vật liệu kết hợp với
nguyên vật liệu chính tạo màu sắc, hương vị tạo điều kiện cho quá trình sản
xuất kinh doanh thực hiện thuận lợi.
Vốn nhiên liệu : Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa
chữa các tài sản cố định.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Vốn vật tư đóng gói : là giá trị các loại vật liệu bao bì dùng để đóng gói
sản phẩm trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Vốn công cụ dụng cụ : Là giá trị các loại công cụ dụng cụ không đủ
tiêu chuẩn tài sản cố định dùng cho hoạt động kinh doanh.
Vốn sản phẩm đang chế : Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất
kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (Giá
trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm).
Vốn về chi phí trả trước : Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh
nhưng có tác dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính
hết vào giá thành sản phẩm trong kỳ này, mà được tính dần vào giá thành sản
phẩm các kỳ tiếp theo như chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phí nghiên cứu thí
nghiệm
Vốn thành phẩm : Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong,
đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho.
Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho
việc xem xét đánh giá mức độ tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của
doanh nghiệp. Mặt khác, thông qua cách phân loại này có thể tìm các biện
pháp phát huy chức năng các thành phần vốn và biết được kết cấu vốn lưu
động theo hình thái biểu hiện để định hướng điều chỉnh hợp lý có hiệu quả.
* Phân loại theo vai trò của VLĐ đối với quá trình sản xuất kinh doanh,
VLĐ gồm :
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất gồm các khoản : vốn nguyên
vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật
đóng gói, vốn công cụ dụng cụ nhỏ.
- Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất gồm : vốn sản phẩm đang
chế tạo, vốn về chi phí trả trước.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông gồm các khoản : vốn thành phẩm,
vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn về chứng
khoán, cho vay ngắn hạn
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cách phân loại này cho biết kết cấu vốn lưu động theo vai trò. Từ đó,
giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong các khâu của quá
trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá
trình kinh doanh. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp
nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng được tốc độ luân chuyển
vốn lưu động.
* Phân loại theo tính thanh khoản của tài sản, VLĐ gồm :
- Tiền và các khoản tương đương tiền
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
- Các khoản phải thu : Phải thu của khách hàng, trả trước cho người
bán, phải thu nội bộ ngắn hạn
- Hàng tồn kho
- Tài sản ngắn hạn khác : Chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được
khấu trừ
Cách phân loại này cho ta biết mức độ thanh khoản hay là khả năng
chuyển đổi thành tiền của các tài sản. Mức độ thanh khoản giảm dần từ trên
xuống dưới. Từ đó xác định được nhu cầu từng loại vốn nhằm đảm bảo cho
nhu cầu vốn của công ty cũng như đảm bảo tình hình tài chính của công ty.
* Phân loại theo thời gian huy động, VLĐ gồm :
- VLĐ thường xuyên : được tài trợ bởi nguồn vốn có tính chất ổn định
mà doanh nghiệp có thể sử dụng lâu dài. Nguồn vốn này gồm vốn chủ sở hữu
và nợ dài hạn.
- VLĐ tạm thời : được tài trợ bởi nguồn vốn ngăn hạn.
Qua cách phân loại này công ty thấy được tình hình tài trợ VLĐ, từ đó
thấy được tình hình tài chính của công ty. Trên cơ sở đó thể xác định nguồn
tài trợ sao cho hiệu quả sử dụng vốn là cao nhất đồng thời đảm bảo tình hình
tài chính của công ty.
1.1.3. Nhu cầu vốn lưu động và các phương pháp xác định nhu cầu
vốn lưu động của doanh nghiệp.
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.1.3.1. Khái niệm nhu cầu vốn lưu động và sự cần thiết của việc xác
định hợp lý vốn lưu động thường xuyên, cần thiết.
Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết tối thiểu là số vốn tính ra phải đủ
để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục.
Trong điều kiện hiện nay, mọi nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động
kinh doanh, các doanh nghiệp đều phải tự tài trợ. Do đó, việc xác định đúng
đắn và hợp lý nhu cầu vốn lưu động thường xuyên càng có ý nghĩa quan trọng
vì :
- Việc xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là một trong
những yếu tố để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
diễn ra một cách thường xuyên, liên tục.
- Việc xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là một trong
những yếu tố để nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ, tránh tình trạng ứ đọng vốn
hoặc tình trạng căng thẳng giả tạo về VLĐ của doanh nghiệp.
- Việc xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết hợp lý là căn cứ
quan trọng trong việc tổ chức nguồn tài trợ hay nói khác đi là căn cứ quan
trọng để tổ chức huy động vốn của doanh nghiệp.
1.1.1.2. Cách xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Việc xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp là vấn đề
phức tạp. Tùy theo đặc điểm kinh doanh và điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp
trong từng thời kỳ có thể lựa chọn áp dụng các phương pháp khác nhau để xác
định nhu cầu vốn lưu động. Hiện nay có 2 phương pháp chủ yếu là : Phương
pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp.
a) Phương pháp trực tiếp.
Nội dung cơ bản của phương pháp này là: Căn cứ vào các yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến lượng VLĐ doanh nghiệp phải ứng ra để xác định nhu
cầu vốn lưu động thường xuyên.
Việc xác định nhu cầu VLĐ theo phương pháp này có thể thực hiện
theo trình tự sau:
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Xác định nhu cầu vốn để dự trữ hàng tồn kho cần thiết cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Xác định các khoản nợ phải trả cho nhà cung cấp.
- Tổng hợp xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp.
b) Phương pháp gián tiếp.
* Trường hợp 1: Dựa vào kinh nghiệm thực tế của các doanh nghiệp
cùng loại trong ngành để xác định nhu cầu vốn cho doanh nghiệp mình.
Việc xác định nhu cầu VLĐ theo cách này là dựa vào hệ số vốn lưu
động tính theo doanh thu được rút ra từ thực tế hoạt động của các doanh
nghiệp cùng loại trong ngành. Trên cơ sở đó xem xét quy mô kinh doanh dự
kiến theo doanh thu của doanh nghiệp mình để tính ra nhu cầu vốn lưu động
cần thiết.
Phương pháp này tương đối giản đơn, tuy nhiên mức độ chính xác bị
hạn chế. Nó thích hợp với việc xác định nhu cầu vốn lưu động khi thành lập
doanh nghiệp với quy mô nhỏ.
* Trường hợp 2: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng vốn lưu động ở thời
kỳ vừa qua của doanh nghiệp để xác định nhu cầu chuẩn về vốn lưu động cho
các thời kỳ tiếp theo.
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ giữa
các yếu tố hợp thành nhu cầu vốn lưu động gồm: Hàng tồn kho, nợ phải thu từ
khách hàng và nợ phải trả nhà cung cấp với doanh thu thuần của kỳ vừa qua
để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu vốn lưu động tính theo doanh thu và sử dụng
tỷ lệ này để xác định nhu cầu vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo.
Phương pháp này xác định theo trình tự sau:
- Xác định số dư bình quân các khoản hợp thành nhu cầu vốn lưu động
trong năm báo cáo. Khi xác định số dư bình quân các khoản phải phân tích
tình hình để loại trừ số liệu không hợp lý.
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo
cáo. Trên cơ sở đó xác định tỷ lệ nhu cầu vốn lưu động so với doanh thu
thuần.
- Xác định nhu cầu vốn lưu động cho kỳ kế hoạch.
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
1.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
Hiệu quả sử dụng vốn được hiểu trên 2 khía cạnh:
- Thứ nhất: Hiệu quả sử dụng vốn tức là với số vốn hiện có doanh
nghiệp có thể sản xuất thêm một lượng sản phẩm với chất lượng tốt, giá thành
hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp. Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối
cùng đối với mỗi doanh nghiệp. Vì vậy với một lượng vốn như cũ mà doanh
nghiệp có thể sản xuất thêm một lượng hàng hoá với chất lượng cao hơn thì
tất nhiên doanh nghiệp đã có những biện pháp cải tạo việc sử dụng vốn để
ngày càng hiệu quả hơn.
- Thứ hai: Hiệu quả tức là khi đầu tư vốn lưu động một cách hợp lý
nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh thu tiêu thụ đảm bảo được tốc
độ tăng của lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của vốn, tức là doanh nghiệp đã có
sự tăng trưởng.
1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
DN.
Với bất kỳ một DN nào thì vốn chính là yếu tố sống còn và là yếu tố số
một đặt lên hàng đầu. Trước đây thời kinh tế bao cấp, các DN quốc doanh
được nhà nước bao cấp về vốn hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi, bao cấp về
giá, lãi nhà nước thu Do đó công tác quản lý sử dụng vốn trong các DN
quốc doanh không được quan tâm đúng mức, vai trò của vốn bị xem nhẹ, vì
vậy hiệu quả sử dụng vốn thấp.
Chuyển sang cơ chế thị trường, các DN không được bao cấp về vốn
nữa, DN phải tự trang trải chi phí và đảm bảo kinh doanh có lãi, đảm bảo tổ
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chức sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả vì nếu không DN sẽ không tồn tại
và phát triển được. Vì vậy tăng cường công tác quản lý vốn của các DN trong
nền kinh tế thị trường là tất yếu khách quan trong tình hình đổi mới cơ chế
kinh tế như hiện nay.
Từ năm 1987 đến nay có nhiều thay đổi tác động đến hoạt động sản
xuất kinh doanh của DN như môi trường kinh doanh, đa dạng hoá hình thức
tài trợ, cạnh tranh sôi động trên thị trường đã thúc đẩy các nhà tài chính phải
quan tâm đến việc tìm nguồn và tổ chức đảm bảo phục vụ cho mục đích kinh
doanh của doanh nghiệp. Việc tổ chức đảm bảo nhu cầu VLĐ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho DN, điều này xuất
phát từ những lý do sau:
- Đảm bảo cho quá trình sản xuất diễn ra một cách liên tục, thường
xuyên.
Vốn lưu động trong cùng một lúc được phân bổ trên khắp các giai đoạn
luân chuyển và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình
tái sản xuất được thực hiện liên tục, doanh nghiệp phải có đủ VLĐ đầu tư vào
các hình thái khác nhau đó, khiến cho các hình thái đó có được mức độ tồn tại
hợp lý tối đa, đồng bộ với nhau, làm cho việc chuyển hoá hình thái vốn trong
quá trình luân chuyển được thuận lợi.
- Góp phần giảm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm.
Tốc độ luân chuyển VLĐ ảnh hưởng trực tiếp đến việc giảm chi phí, hạ
giá thành sản phẩm trong sản xuất kinh doanh. Quá trình chuyển hoá các hình
thái của VLĐ diễn ra càng nhịp nhàng, ăn khớp, đồng bộ với nhau thì việc
luân chuyển vốn càng nhanh, làm tăng tốc độ luân chuyển VLĐ. Điều này
góp phần hạ thấp chi phí sản xuất dẫn đến hạ giá thành sản phẩm.
- Tăng lợi nhuận và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thị trường.
Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ giúp doanh nghiệp hạ thấp được chi
phí sử dụng vốn, chi phí sản xuất kinh doanh, góp phần hạ giá thành sản phẩm
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
và tăng lợi nhuận. Doanh nghiệp càng tiết kiệm được nhiều chi phí thì sẽ càng
có thêm nhiều vốn để mở rộng kinh doanh, đầu tư nâng cao năng lực sản xuất.
Giảm chi phí kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm còn là cơ sở để xác định giá
bán cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại trên thị trường, đẩy mạnh việc tiêu
thụ hàng hoá làm tăng lợi nhuận. Sử dụng VLĐ hiệu quả còn góp phần đảm
bảo cho cả quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra được trôi chảy.
Chuyển sang cơ chế thị trường, nhu cầu vốn của doanh nghiệp lớn mà
cơ chế về vốn của nhà nước có sự thay đổi. Chính phủ đã có thủ tục cấp vốn
cho DN nhưng với điều kiện là DN đó phải làm ăn có hiệu quả, nghĩa là:
Sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ được.
Lợi nhuận năm nay cao hơn lợi nhuận năm trước.
Lãi năm nay nộp ngân sách cao hơn năm trước.
Trên thực tế, số vốn nhà nước cấp cho các doanh nghiệp không thể
đảm bảo được VLĐ định mức. Vì vậy, để đảm bảo được hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình, các DN phải huy động thêm vốn từ một số nguồn khác
như: vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng Nếu các DN quản lý sử dụng
VLĐ không tốt sẽ dẫn đến tình trạng mất vốn, không đảm bảo được việc trả
cả gốc lẫn lãi lúc này dẫn đến tình trạng DN bị ăn mòn vốn, việc kinh doanh
bị thua lỗ và phá sản.
Rõ ràng, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ là một khâu thiết yếu trong
công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp, là một nhiệm vụ quan trọng của
các nhà quản trị TCDN.
1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
DN.
Trong sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn được hiểu như là một
chi tiêu phản ánh mối quan hệ giữa hiệu quả thu được (lợi nhuận) với chi phí
bỏ ra. Một doanh nghiệp được coi là hoạt động có hiệu quả nếu doanh nghiệp
hoạt động lấy thu bù chi có lãi và ngược lại.
1.2.3.1. Tốc độ luân chuyển VLĐ.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét