Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Một số giải pháp quản lý rủi ro tín dụng ở Ngân hàng thương mại và cổ phần nhà Hà Nội HABUBANK

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
gian vay vốn dài, hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình của tài sản cố định
cũng rất cao.
+ Rủi ro tín dụng đối với các khoản cho vay dùng để tài trợ cho hoạt
động xuất nhập khẩu: Mức độ rủi ro của các khoản vay này thường ít nhưng
cũng có thể tăng cao trong trường hợp có chiến tranh, thiên tai xảy ra ảnh
hưởng đến thời gian giao hàng, khách hàng không có tiền trả nợ ngân hàng
đúng thời hạn.
- Phân loại rủi ro tín dụng theo thời gian của khoản vay:
+ Rủi ro tín dụng xảy ra đối với các khoản vay ngắn hạn: là loại rủi ro tín
dụng đối với các khoản tín dụng có thời gian từ 12 tháng trở xuống.
+ Rủi ro tín dụng xảy ra đối với các khoản vay trung và dài hạn: là loại rủi ro tín
dụng đối với các khoản tín dụng có thời gian trên 12 tháng. Thông thường mức
độ rủi ro tín dụng của các khoản vay ngắn hạn thường thấp hơn rủi ro tín dụng
của các khoản cho vay trung và dài hạn. Do đó, cho dù lãi suất cho vay của các
khoản vay trung và dài hạn này thường hấp dẫn hơn nhưng các Ngân hàng
thương mại ở Việt Nam vẫn hạn chế việc mở rộng hoạt động tín dụng đối với
loại cho vay này.
- Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân gây ra rủi ro:
+ Rủi ro tín dụng có nguyên nhân từ phía khách hàng.
+ Rủi ro tín dụng có nguyên nhân từ phía Ngân hàng.
+ Rủi ro tín dụng phát sinh từ các nguyên nhân khác.
- Phân loại rủi ro tín dụng theo khách hàng vay:
+ Rủi ro tín dụng đối với khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước.
+ Rủi ro tín dụng đối với khoản vay của các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh.
_______________________________________________________________

5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2. Nguyên nhân dẫn tới rủi ro tín dụng
1.2.1. Nguyên nhân chung
Là những nguyên nhân do môi trường bên ngoài tác động, không xuất
phát từ ngân hàng hay khách hàng trong cuộc sống hàng ngày. Cụ thể đó là:
- Những nguyên nhân mang tính bất khả kháng: là những rủi ro mà bản
thân khách hàng và ngân hàng không thể lường trước được.
- Do cơ chế, chính sách kinh tế của Nhà nước thay đổi bất thường. Chức
năng can thiệp vào nền kinh tế và điều khiển một cách gián tiếp thông qua pháp
luật, chính sách, thuế của Nhà nước vô cùng quan trọng, tuy nhiên sự thay đổi
của các chính sách cũng có thể tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp
cũng như các Ngân hàng.
- Sự biến động của tình hình kinh tế-chính trị-xã hội trong và ngoài nước
cũng là nguyên nhân có thể dẫn đến rủi ro, đe doạ hoạt động của các ngân hàng.
- Do sự ảnh hưởng của chu kỳ phát triển kinh tế: nếu nền kinh tế ở trong
thời kỳ khủng hoảng, suy thoái sẽ dẫn đến rủi ro cao trong hoạt động của hệ
thống các ngân hàng thương mại.
- Do sự lỏng lẻo của môi trường pháp lý.
1.2.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng
Trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, nhiều doanh
nghiệp có thể lâm vào tình trạng thua lỗ, thậm chí có thể dẫn đến phá sản,
không có khả năng trả nợ đầy đủ và đúng thời hạn đã cam kết vớí Ngân hàng.
Cụ thể như sau:
_______________________________________________________________

6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Khách hàng gặp phải những sự cố trên thị trường cung cấp và tiêu thị
sản phẩm. Do sự thay đổi về giá cả, chất lượng, sảm lượng hàng hóa dẫn đến rủi
ro cho Ngân hàng.
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém.
- Lãnh đạo doanh nghiệp còn yếu kém trong hoạt động điều hành sản
xuất kinh doanh.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp quá lạc hậu,
không thể sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng cao cạnh tranh trên thị
trường.
- Do vấn đề tham nhũng trong nội bộ doanh nghiệp.
1.2.3. Nguyên nhân từ chính bản thân ngân hàng
Quá trình hoạt động của Ngân hàng còn nhiều khâu chưa hợp lý, đặc biệt
là quá trình quản lý thực hiện tín dụng, cơ chế chính sách tín dụng còn nhiều sơ
hở để khách hàng có thể lợi dụng để chiếm đoạt vốn của Ngân hàng. Cụ thể là:
- Do không phân tích về khách hàng đầy đủ và chính xác trước khi cho
vay, trong quá trình cho vay không kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc sử dụng
tiền vay, không thẩm định kỹ càng dự án của khách hàng.
- Do ngân hàng không thu thập đầy đủ thông tin chính xác về khách hàng
trước khi cho vay.
- Do sự bất cập trong trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên cũng
như công nghệ Ngân hàng.
- Do sự cạnh tranh gay gắt trong hệ thống Ngân hàng đã dẫn đến việc các
Ngân hàng đơn giản hoá các thủ tục trong thẩm định tín dụng cho vay dể lôi
kéo khách hàng.
_______________________________________________________________

7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Do ngân hàng thực hiện không tốt thậm chí không thực hiện các bảo
đảm tín dụng như: cầm cố bảo lãnh, thế chấp và trong các nghiệp vụ tạp nên
nguồn thu dự phòng của Ngân hàng. Vì những lý do trên mà rủi ro tín dụng
luôn có thể xảy ra đối với các Ngân hàng.
1.3. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Hoạt động sản xuất kinh doanh của người đi vay luôn chịu sự ảnh hưởng
từ sự biến động của thị trường, khi thị trường vân động theo tính thiếu sự ổn
định tương đối thì nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng càng lớn. Vì thế, nếu như việc
quyết định cho vay chủ yếu dựa trên cơ sở những dự báo về biến động cảu thị
trường thì sau khi cho vay cũng cần thiết phải tiếp tục xem xét, giám sát người
vay đã sử dụng số tiền vay như thế nào, và đặc biệt quan trọng là họ đã xử sự
như thế nào trước những biến động của thị trường. Hơn thế nữa, những tài sản
mà khách hàng đưa ra làm thế chấp cũng là một loại hàng hoá trên thị trường
nên cũng chịu sự biến động, nhiều khoản vay tuy đã có tài sản làm đảm bảo
nhưng rủi ro không thu được nợ vẫn có thể xảy ra do tài sản không hội đủ yếu
tố pháp lý, khó mau bán do ban đầu đã định giá quá cao hoặc tài sản đã bị giảm
giá… Chính vì những lý do trên, việc phát hiện sớm những dấu hiệu có thể dẫn
đến rủi ro tín dụng là một yêu cầu vô cùng quan trọng.
1.3.1. Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là dấu hiệu đặc trưng nhất của rủi ro tín dụng. Nợ quá hạn là
những khoản tín dụng cấp ra mà không được thanh toán đầy đủ và đung thời
hạn như trong hợp đồng tín dụng.
_______________________________________________________________

8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Như vậy, có thể nói rằng nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ tín dụng
không hoàn hảo, khi người đi vay vi phạm các nguyên tắc tín dụng. Không
hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn có thể gây ra đổ vỡ lòng tin của
người cấp tín dụng đối với người được cấp tín dụng. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao
thì mức độ rủi ro tín dụng của Ngân hàng sẽ càng lớn.
Nợ quá hạn là rủi ro trong hoạt động tín dụng và cũng là vấn đề của tất cả
các Ngân hàng thương mại trên toàn thế giới, vì vậy, nợ quá hạn được coi như
một hiện tượng bình thường của hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, hoạt động của
ngân hàng sẽ tê liệt nếu như tỷ lệ nợ quá hạn quá cao, khi đó Ngân hàng sẽ
không thu hồi được vốn để thực hiện các hoạt động kinh doanh khác và để trả
tiền cho những người gửi tiền. Do đó vấn đề ngăn ngừa, hạn chế nợ quá hạn là
một công tác rất quan trọng đối với mọi Ngân hàng thương mại. Hiện nay,
nhiều nhà quản lý cho rằng tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ ở mức từ 3%-5% là
có thể chấp nhận được trong hoạt động tín dụng.
Có nhiều loại hình nợ quá hạn khác nhau, mỗi loại phản ánh rủi ro tín
dụng ở những góc cạnh khác nhau. Phân loại nợ quá hạn có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng và trong việc đề ra các
biện pháp xử lý thu hồi nợ.
1.3.2. Lãi quá hạn
Đó là số tiền lãi mà khách hàng không trả được khi đến thời hạn thanh
toán lãi cho Ngân hàng. Khoản lãi thanh toán không gắn với việc trả gốc và có
giá trị không lớn, được trả vào ngày xác định được ghi trên hợp đồng tín dụng,
khi doanh nghiệp không trả được khoản lãi tiền vay thể hiện doanh nghiệp đang
gặp khó khăn đặc biệt về tài chính. Nếu điều đó xảy ra thì doanh nghiệp phải
_______________________________________________________________

9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
điều tra rõ, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục để hạn chế những thiệt hại
cho Ngân hàng cũng như cho doanh nghiệp.
1.3.3. Những dấu hiệu khác
Ngoài những dấu hiệu quan trọng đã nêu ở trên, rủi ro tín dụng còn có thể
nhận biết qua:
- Người đi vay cố tình không nộp hoặc trì hoãn việc nộp các báo cáo tài
chính cho Ngân hàng.
- Khi cán bộ tín dụng yêu cầu khảo sát tình hình sử dụng vốn, người đi
vay cố tình trì hoãn trong việc sắp xếp các cuộc viếng thăm cơ sở sản xuất của
mình, có những biểu hiện thiếu thiện chí trong mối quan hệ hợp tác với Ngân
hàng.
- Sử dụng vốn không đúng mục đích.
- Trong hoạt động sản xuất kinh doanh có sự tăng lên bất thường các
khoản phải thu hoặc hàng tồn kho.
- Người đi vay xin hoãn trả nợ hoặc khất nợ.
- Có biểu hiện không lành mạnh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
người đi vay, chất lượng sản phẩm hay dịch vụ giảm sút, đánh mất uy tín trên
thị trường, với bạn hàng và người tài trợ, quan hệ giao dịch với các đối tác của
doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, các đối tác huỷ bỏ hợp đồng kinh doanh với
doanh nghiệp.
- Thay đổi trong cơ cấu tổ chức quản lý kinh doanh của doanh nghiệp,
biểu hiện qua một số hình thức như công nhân nghỉ việc, thu hẹp quy mô sản
xuất và chủnh loại sản phẩm…
- Sự thay đổi của giá trị hợp đồng bảo đảm và bảo hiểm tài sản liên quan.
- Khả năng xuất hiện tranh chấp về các vật bảo đảm có liên quan đến các
chủ nợ khác của người vay.
_______________________________________________________________

10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
- Hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bão lụt, hoả
hoạn, hạn hán…
- Trên đây là những biểu hiện về khó khăn tài chính đối với người đi vay,
sự xuất hiện của một trong những dấu hiệu này báo hiệu khả năng người đi vay
khó có khả năng hoặc không có ý định hoàn trả khoản tiền đã vay cho Ngân
hàng. Ngân hàng cần dựa vào các dấu hiệu này để dự đoán, phát hiện sớm và
tìm ra các biện pháp ngăn ngừa, xử lý kịp thời và có hiệu quả.
1.4. Tác động của rủi ro tín dụng đối với hoạt động của Ngân
hàng thương mại
Rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra đối với các Ngân hàng thương mại nếu
như họ luôn nhận được cả gốc và lãi của các khoản cho vay đúng thời hạn,
ngược lại nếu người đi vay có tình hình tài chính không thuận lợi thì cả gốc và
lãi của khoản vay bị đặt trong tình trạng rủi ro không thu hồi được. Tuỳ theo
từng mức độ rủi ro mà ảnh hưởng đến hoạt động của các Ngân hàng nhiều hay
ít. Rủi ro tín dụng ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, khả năng cạnh tranh của
Ngân hàng trên thị trường tài chính, làm ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân
hàng, giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng và gây ra nguy cơ mất vốn kinh
doanh, dẫn đến phá sản Ngân hàng. Hoạt động tín dụng là hoạt động thường
xuyên và cơ bản nhất của Ngân hàng thương mại, phần lớn thu nhập của Ngân
hàng xuất phát từ hoạt động tín dụng.
Do đó, thu nhập của Ngân hàng sẽ trực tiếp bị ảnh hưởng khi rủi ro tín
dụng xảy ra dù ở bất kỳ mức độ nào. Rủi ro tín dụng không chỉ làm giảm thu
nhập của Ngân hàng từ hoạt động tín dụng, mà còn có ảnh hưởng lớn làm giảm
thu nhập từ các hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng. Khi hoạt động tín
_______________________________________________________________

11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
dụng phát triển, chất lượng tín dụng được cải thiện thì sẽ có tác dụng thúc đẩy
các hoạt động khác phát triển. Ngược lại, nếu như hoạt động tín dụng có chất
lượng không cao sẽ không thể thúc đẩy mà thậm chí còn làm cản trở các hoạt
động khác, kết quả là thu nhập của Ngân hàng sẽ giảm sút.
Trong nền kinh tế, tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong
việc điều hoà vốn và sự thành công của chính sách tiền tệ quốc gia. Rủi ro tín
dụng xảy ra sẽ làm Ngân hàng chậm hoặc không có khả năng thu hồi vốn để
tiếp tục cho vay, qua đó làm giảm khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Hoạt động Ngân hàng thể hiện tính xã hội hoá cao, khi một Ngân hàng rơi vào
tìng trạng đổ vỡ sẽ gây ảnh hưởng xấu đến các Ngân hàng khác. Hoạt động tín
dụng của Ngân hàng dựa trên cơ sở huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và
sử dụng vốn đó để cung cấp cho những người thiếu vốn. Rủi ro tín dụng xảy ra
gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của Ngân hàng, tình trạng này nếu
kéo dài sẽ làm mất lòng tin của người gửi tiền. Các Ngân hàng lâm vào tìng
trạng khó khăn, gây ra sự mất ổn định của hệ thống Ngân hàng nói riêng và mất
ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia nói chung, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Tóm lại rủi ro tín dụng luôn phát sinh và tồn tại cùng với hoạt động của
hệ thống Ngân hàng, khó lường trước. Nó gây ảnh hưởng xấu đến không chỉ
hoạt động kinh doanh của hệ thống Ngân hàng mà còn đến toàn bộ nền kinh tế.
Vì lẽ đó, quản lý rủi ro tín dụng đang là vấn đề bức xúc đặt ra với các nhà quản
lý Ngân hàng.
_______________________________________________________________

12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
2. Quản lý rủi ro tín dụng
2.1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Để có một khái niệm chính xác, đầy đủ về quản lý rủi ro tín dụng, có thể
có nhiều cách định nghĩa khác nhau, điều này do mục đích của việc nghiên cứu
quyết định.
Trên giác độ quản trị Ngân hàng thì việc định nghĩa quản lý rủi ro tín
dụng là việc trả lời ngắn gọn 4 câu hỏi chính: Ai là người có trách nhiệm quản
lý? Đối tượng cần quản lý là ai? Mục đích và các công cụ quản lý là gì?
Từ bốn yêu cầu trên, ta có thể nêu ra một định nghĩa khái quát về quản lý
rủi ro tín dụng như sau: Quản lý rủi ro tín dụng là việc các nhà quản trị Ngân
hàng lập kế hoạch hoạt động và sử dụng các công cụ quản lý thích hợp nhằm tối
ưu hoá khả năng thu hồi vốn vay từ khách hàng và hạn chế tối đa tác động tiêu
cực của các khoản nợ xấu.
2.2. Mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng
Trong những năm gần đây, bên cạnh nhiều thành tựu đã đạt được, nền
kinh tế thị trường cũng đang bộc lộ những mặt trái của nó. Sự cạnh tranh gay
gắt khiến cho một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất bị phá sản. Tình trạng làm ăn
mang tính chất lừa đảo dưới nhiều hình thức tinh vi nhằm thu được lợi nhuận
bất chính của một số đối tượng làm cho bộ mặt thị trường ngày càng phức tạp
hơn. Trong bối cảnh đó, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng chịu sự tác
động bởi những mặt trái của thị trường.
Có thể nói, kinh doanh dịch vụ tín dụng Ngân hàng có tính chất đặc thù
khác với các hàng hoá thông thường. Ngân hàng có khả năng trở thành nạn
nhân của các vụ lừa đảo mất khả năng trả nợ, dẫn đến rủi ro tín dụng. Cũng như
_______________________________________________________________

13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
trong phần định nghĩa đã đề cập thì rủi ro không phải bây giờ mới có và cũng
không phải mãi đến nay mới được đề cập. Tuy nhiên, làm thế nào để hạn chế
một cách tối đa những rủi ro là một bài toán nan giải. Bởi các mục tiêu của
Ngân hàng thường có sự mâu thuẫn lẫn nhau, buộc các nhà quản trị cần phải
tính toán và lựa chọn.
Thứ nhất, tín dụng là một trong những nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa
quan trọng quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một Ngân hàng. Vì
vậy, sự tăng về số dư nợ sẽ là tín hiệu đáng mừng cho Ngân hàng song cũng
tiềm ẩn xác suất rủi ro lớn. Lúc này nhà quản trị Ngân hàng đứng trước lựa
chọn là số dư nợ tăng và hạn chế rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
Thứ hai, khi bước vào cơ chế thị trường thị sự cạnh tranh gay gắt buộc
các Ngân hàng giành giật lấy khách hàng, chính sự giành giật này cũng tiềm ẩn
rủi ro tín dụng. Lúc này, nhà quản trị lại đứng trước mâu thuẫn giữa cạnh tranh
và hạn chế rủi ro tín dụng.
Dù trong bất cứ thời lì nào, bối cảnh nào thì yêu cầu cơ bản của Ngân
hàng vẫn là “hiện thực, khả thi và hiệu quả”. Để thực hiện được yêu cầu này thì
các nhà quản trị phải tính toán đến khả năng lấy những khoản không rủi ro để
bù đắp vào những khoản rủi ro đang tiềm ẩn.
Dù rằng đứng trước những sự lựa chọn thì mục tiêu của quản lý rủi ro tín
dụng vẫn là tối đa hoá tỉ lệ thu hồi vốn thông qua việc duy trì một mức độ rủi ro
có thể chấp nhận được và hạn chế đến mức tối đa tác động tiêu cực của các
khoản nợ xấu.
_______________________________________________________________

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét