Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Phân tích tài chính MPC công ty cổ phần thủy hải sản Minh Phú


Tôm thẻ chân trắng mặt hàng xuất
khẩu chính của MPC. Chế biến,
xuất khẩu thủy sản; nhập khẩu
nguyên vật liệu sản xuất hàng xuất
khẩu; nhập khẩu máy móc, thiết bị
phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu;
kinh doanh bất động sản, đầu tư
kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công
nghiệp, khu dân cư; nuôi trồng
thủy hải sản, kinh doanh giống hải
sản, thức ăn thủy hải sản, vật tư,
máy móc, thiết bị phục vụ ngành
nuôi trồng thủy hải sản; kinh
doanh cao ốc và văn phòng cho
thuê. Sản phẩm – Dịch vụ Sản phẩm chính của Công ty là tôm sú được xuất
khẩu dưới dạng tôm tươi, tôm đã qua chế biến và các mặt hàng giá trị gia
tăng từ tôm. Doanh thu từ mặt hàng tôm tươi đông lạnh chiếm 2/3 sản
lượng xuất khẩu, phần còn lại làcác mặt hàng giá trị gia tăng và hàng cao
cấp.
Thị trường tiêu thụ
Hệ thống khách hàng của Công ty đều là các nhà phân phối thực
phẩm lớn. Mỹ và Nhật Bản là hai thị trường xuất khẩu quan trọng.
Doanh số từ thị trường Mỹ luôn chiếm hơn ½ kim ngạch xuất khẩu
của Công ty, Minh Phú đã thành lập ra công ty con Mseafood đế cung
cấp cho khách hàng theo giá DDP (Minh Phú sẽ phải ký quỹ cho Hải
quan Mỹ nhằm đảm bảo rằng liên minh tôm Miền Nam (SSA) sẽ thu
được tiền thuế từ Việt Nam, sau đó SSA yêu cầu DOC xem xét lại
mức thuế bán phá giá của Minh Phú. Đến một thời hạn đã định SSA
sẽ hoàn lại khoản tiền cọc này cho Minh Phú). Như vậy các nhà nhập
khẩu sẽ an tâm nhập hàng của MPC do đã tránh được rủi ro nếu thuế
chống bán phá giá tăng. Đối với thị trường Nhật Bản, đây là thị
trường có những yêu cầu khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm
nhưng là nơi tiêu thụ chính các sản phẩm giá trị gia tăng của Minh
Phú.
Năng lực sản xuất
Công ty hiện có 3 nhà máy chế biến tôm với tổng công suất 19.500
tấn/năm.Qui trình sản xuất đều đạt các tiêu chuẩn khắt khe của những
thị trường khó tính. Quy trìnhsản xuất của Công ty đang dần được
khép kín từ con giống, nuôi, chế biến đến thành phẩm. Đến nay,
vùngnuôi của Công ty đã chủ động được10% nhu cầu nguyên liệu và
Minh Phú cũng liên kết khá chặt với người nuôi thông qua việc hỗ trợ
giống, thức ăn… Với hình thức này Công ty luôn có được nguồn
nguyên liệu ổn định tránh được những biến động giá lớn và có thể
kiểm soát tốt chất lượng đầu vào.
Đối thủ cạnh tranh:
MPC gặp phải sự cạnh tranh không chỉ ở trong nước mà còn với các
đối thủ nước ngoài khác. Các công ty trên địa bàn Cà Mau cạnh tranh trực
tiếp với công ty Minh Phú như Cavimex; Minh Hải Jostoco; Phú Cường;
Cadovimex Mặc dù vậy hầu hết các công ty thủy sản trên địa bàn Cà Mau
đã hình thành và hoạt động lâu năm nên đều có một mạng lưới cung cấp
nguyên liệu khá ổn định; do đó tính cạnh tranh mới chỉ mang tính thời vụ.
Sự cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ không phải là trở ngại lớn đối với
MPC khi công ty luôn nằm trong Top 10 công ty xuất khẩu thủy sản có giá
trị lớn nhất Việt Nam. Riêng về mặt hàng chế biến tôm xuất khẩu công ty
luôn giữ thị phần thứ nhất ở thị trường Mỹ và EU của nước ta. Đối thủ cạnh
tranh trực tiếp với MPC ở nước ngoài hiện nay là các nhà xuất khẩu trong
cùng khu vực ASEAN như Thái Lan; ndonexia… và Trung Quốc. Đặc biệt
là Thái Lan do nhận thấy những ưu thế vượt trội hơn của tôm thẻ chân trắng
so với tôm sú nên họ đã chuyển dịch cơ cấu trong vòng 3 năm nay nên đã
tích lũy được khá nhiều kinh nghiệm. Tôm thẻ của Thái Lan đã nuôi
đến đời thứ 7 cho nên sức chịu bệnh tốt và kích thước lớn hơn của MPC.
Triển vọng phát triển:
Từ năm 2010 khi Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nhật (VJEPA) được triển
khai đồng bộ sẽ có trên 800 dòng sản phẩm nông sản và thủy sản Việt Nam
vào Nhật với thuế suất 0%. Điều này mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp
nông, thủy sản đồng thời đòi hỏi chất lượng sản phẩm khắt khe hơn. Chiến
lược của MPC là tập trung vào ngành nghề sản xuất chính như: sản xuất
tôm giống sạch bệnh; mở rộng diện tích nuôi tôm thương phẩm; sản xuất
chế phẩm sinh học phục vụ cho nuôi trồng thủy sản và chế biến tôm xuất
khẩu. Kế hoạch trong tương lai của công ty là đầu tư thêm nhà máy sản
xuất chế biến tôm xuất khẩu ở Hậu Giang. Liên kết với các đơn vị sản xuất
thức ăn cho tôm cá hàng đầu ở Việt Nam để đầu tư xây dựng nhà máy
nguyên liệu tạo thành quy trình sản xuất khép kín từ thức ăn; con giống
sạch bệnh; nuôi tôm; thương phẩm sạch đến sản xuất chế biến xuất khẩu.
Công ty cũng có kế hoạch liên kết với các đơn vị sản xuất bao bì thù
Caston; bọc PA; bọc PE hàng đầu của Việt Nam để đầu tư xây dựng nhà
máy sản xuất bao bì cung cấp cho Minh Phú. Hiện nay MPC cũng đang có
kế hoạch liên doanh với đối tác Singapore để xây dựng cảng Container tại
tỉnh Hậu Giang.
Thuận lợi
• Thủy hải sản là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vì vậy nhà
nước có rất
nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ ngành phát triển như: hỗ trợ lãi suất,
hỗ trợ nông
dân nuôi trồng thủy sản, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản…
• Điều kiện thiên nhiên thuận lợi và ưu thế về nguồn nhân công lớn
là những cơ
sở cho thủy sản trở thành ngành sản xuất chủ lực của Việt Nam. Tỷ
trọng đóng
góp trung bình trong GDP của ngành trong giai đoạn từ năm 2000 –
2008 là
3,83% .
• Việt Nam có nguồn cung thủy sản dồi dào và ổn định. Trong khi đó,
nhu cầu
mặt hàng thủy sản cả ở Việt Nam và trên thế giới được dự đoán vẫn sẽ
cao trong
những năm sắp tới. Giá thủy sản vì vậy dự báo sẽ tiếp tục tăng trong
tương lai.
• Tôm đông lạnh và cá đông lạnh là hai sản phẩm có tỷ trọng cao nhất
trong cơ
cấu mặt hàng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Khó khăn
• Ngành thuỷ sản VN trong thời gian qua đã chịu sự tác động rất lớn
của khủng
hoảng kinh tế với việc giảm sút nghiêm trọng các đơn đặt hàng
cũng như giá
nhập tại các thị trường nhập khẩu lớn như Mỹ, EU và Nhật.
• Một số thị trường đưa ra quá nhiều rào cản kỹ thuật để chặn hàng
thủy sản
Việt Nam.
• Mức độ cạnh tranh nghành tăng đang thu hẹp lợi nhuận biên của
ngành thủy
sản. Sự ảnh hưởng của tình hình kinh tế khó khăn càng làm cho mức
độ cạnh
tranh càng tăng.
Ngành có mức tăng trưởng cao nhưng hiệu quả chưa tương xứng, số
đơn vị
thuyền nghề thua lỗ, hoà vốn chiếm tới ¾.
• Tình trạng phát triển tự phát cũng như quy luật “được mùa, mất giá”
thường
xuyên diễn ra.
• Tính cạnh tranh chưa cao; việc xây dựng thương hiệu trên thị trường
thế giới
gần như mới bắt đầu.
Nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến không ổn định.
• Nguồn lợi thuỷ sản, diện tích mặt nước bị khai thác cạn kiệt; hạ tầng
kỹ thuật
nghề cá chưa được đầu tư tương xứng với nhu cầu phát triển; hệ
thống cầu cảng,
khu neo đậu tránh trú bão, công tác đảm bảo an toàn cho người và tàu
cá hoạt
động trên các vùng biển, hoạt động quản lý Nhà nước về ngành còn
nhiều bất
cập
3.Cơ cấu sở hữu vốn:
Phần II
Phân tích tài chính công ty cổ phần MINH PHÚ
1. Báo cáo tài chính:
Bảng cân đối kế toán
Đơn vị tính: TRIỆU VND

Báo cáo kết quả kinh doanh
Đơn vị tính: TRIỆU VNĐ
2.1 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh:
2.1.1 phân tích doanh thu của doanh nghiệp:
Chỉ tiêu Biến động 08/07 Biến động 09/08
ST TL ST TL
Tổng doanh thu hoạt động
kinh doanh
542776 23% 226155 8%
Các khoản giảm trừ doanh
thu
-4137 -130% 9033 33%
Doanh thu thuần 518914 22% 217121 8%
Lợi nhuận ròng -122% -673%
Lợi nhuận gộp 43% -6%
Năm 2007, doanh thu của công ty đạt 2360,645 tỷ đồng, năm 2008 đạt
hơn 2903,421 tỷ đồng, tăng 23%, tương ứng với khoảng 542,776 tỷ đồng.
Năm 2009, doanh thu 3129,576 tỷ đồng, tăng 8% so với năm 2008, tương
ứng với 226,155 tỷ đồng, tốc độ tăng doanh thu tương đối ổn định.
Doanh thu thuần của Minh Phú trong năm 2008 đã tăng 22% so với kế năm
2009 và đạt 518,914 tỷ đồng. Tăng thêm 8% vào năm 2009 tương ứng
217,121 tỷ đồng.
Mặc dù năm 2008 suy thoái kinh tế diễn ra ở nhiều nước nhưng tổng sản
lượng và doanh thu của công ty vẫn tăng lên so với năm 2007 điều này
chứng tỏ sản phẩm của MPC được ưa chuộng và chiếm lĩnh thị trường nước
ngoài. Doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu như MPC phụ thuộc khá
nhiều vào tốc độ tăng trường kinh tế và thu nhập bình quân đầu người của
các nước nhập khẩu. Ngoài tính chu kỳ doanh thu của MPC còn biến động
theo thời vụ. Quý 4 trùng với các dịp nghỉ lễ, tết của các nước phương Tây
cho nên nhu cầu thường tăng lên đột biến khiến cho sản lượng xuất khẩu
của công ty cũng tăng lên mạnh.
Tuy vậy thì tổng lợi nhuận 2008 đã giảm mạnh,ở mức âm. Sở dĩ như
vậy là do hoạt động tài chính chứ không phải từ hoạt động kinh doanh chính
của công ty. Công ty cũng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế,
và đối thủ cạnh tranh, chủng loại tôm tiêu dùng của người dân các nước
nhập khẩu đã chuyển đổi. Và vào năm 2007 sản phẩm chủ lực của MPC là
tôm sú tươi đông lạnh xuất khẩu. Tuy nhiên đây là giống tôm nội địa và đã
nuôi lâu năm nên các loại dịch bệnh là khá nhiều. Thời gian gần đây tại các
địa phương đã chuyển dịch cơ cấu nuôi tôm sú sang nuôi tôm thẻ chân
trắng; so với tôm sú nuôi tôm thẻ được nhiều lợi ích hơn khi mật độ nuôi
dầy; tôm lớn nhanh và sống khỏe.Các thị trường lớn như Mỹ; Nhật Bản
thường không phân biệt tôm sú và tôm thẻ chân trắng chỉ phân biệt ở kích
cỡ tôm lớn hay nhỏ… chính vì vậy xu hướng thu mua sản phẩm của MPC
cũng có sự thay đổi khi nguồn cung thay đổi. Tôm thẻ chân trắng có lợi ích
hơn đối với nông dân nhưng đối với hoạt động kinh doanh của công ty
không tốt hơn khi giá trị của chúng không tốt bằng tôm sú. Năm 2009 sản
lượng xuất khẩu của MPC vượt kế hoạch nhưng lại không hoàn thành kế
hoạch lợi nhuận đề ra bởi công ty chủ yếu xuất khẩu tôm thẻ. Mặt khác nuôi
tôm thẻ là một hình thức nuôi trồng du nhập vào Việt Nam và ở đồng bằng
sông Cửu Long mới chỉ trong bốn năm trở lại đây nên sản phẩm gặp phải sự
cạnh tranh từ các nước khác đã nuôi trước như Trung Quốc; Thái Lan;
Indonexia Những nước này đã nuôi được tôm thẻ đời thứ 7 sạch bệnh và
kích thước còn to hơn cả tôm sú. Đây chính là những sản phẩm thay thế
cạnh tranh trực tiếp đối với các sản phẩm xuất khẩu của MPC.

2.1.2 Phân tích chi phí doanh nghiệp:
Chỉ tiêu Biến động 08/07 Biến động 09/08
ST TL ST TL
Tổng chi phí KD 99423 107% 44192 23%
Chi phí bán hàng 81596 108% 46929 30%
Chi phí QLDN 17827 103% -2737 -8%
Qua bảng phân tích trên ta nhận thấy, tổng chi phí kinh doanh của công ty
có chiều hướng gia tăng qua các năm, năm 2008 gia tăng 99,423 tỷ, tương
ứng 18,32% gia tăng so với tổng doanh thu 2008 với năm 2007. Sang năm
2009 là 44,192 tỷ , chiếm 23% gia tăng tổng doanh thu.
Chi phí KD 08/07 tăng 81,596 tỷ tương ứng 108% và 09/08 tăng 46,929 tỷ
tương ứng 30%.Chí phí quản lí doanh nghiệp tăng 178,27 tỷ tương ứng
103% nhưng đến năm 2009 lại giảm nhẹ 2,737 tỷ tương ứng 8% điều đó nói

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét