Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
MỤC MỤC
Trang
Lời mở đầu 2
I. Tổng quan về đô la hoá 3
1. Khái niệm về đô la hoá 3
a. Khái niệm 3
b. Phân loại 3
2. Nguồn gốc của đô la hoá 5
3. Những tác động của đô la hoá 6
a. Những tác động tích cực 6
b. Những tác động tiêu cực 7
II. Đô la hoá ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp 9
1. Tình trạng đô la hoá trên thế giới 9
2. Thực trạng đô la hoá ở Việt Nam 11
3. Một số giải pháp kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá ở Việt Nam 13
Kết luận 18
Tài liệu tham khảo 19
1
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế hiện đại, cùng với tiến trình hội nhập diễn ra mạnh mẽ,
quá trình tự do hóa tài chính liên tục, các luồng tài chính dòng vốn được giao lưu tự
do và xuyên suốt từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh đó nền kinh tế
mỗi quốc gia càng gắn liền với tình hình biến động kinh tế chính trị diễn ra trong
toàn cầu, Việt Nam chúng ta đã gia nhập WTO, cũng chịu sự tác động to lớn trong
xu thế đó. Một nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, tự chủ về tài chính sẽ giúp
nền kinh tế đất nước có sức đề kháng trước những cú sốc kinh tế bên ngoài nhất là
các cuộc khủng hoảng kinh tế. “Chẩn đoán” ra các căn bệnh của nền kinh tế và tìm
cách “chữa trị” nó là cách hữu hiệu để đứng vững trên con đường hội nhập, trong
đó vấn đề đặt ra đối với hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế hiện nay là tình
hình “đôla hóa” mà theo các chuyên gia “đôla hóa Việt Nam đang ở mức báo động”
có thể ảnh hưởng rất sâu sắc đối với nền kinh tế Việt Nam.
Hiện tượng đôla hóa bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đó tiền tệ
của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đôla Mỹ, được sử dụng trong giao lưu
quốc tế làm vai trò của "tiền tệ thế giới". Cho nên người ta thường gọi hiện tượng
ngoại tệ hóa là "đôla hóa". Trong phạm vi đề tài này, chúng ta giả định chỉ nghiên
cứu nền kinh tế bị đôla hóa bằng đồng USD mà cụ thể là nền kinh tế Việt Nam
trong giai đoạn từ sau cải cách kinh tế đến nay.
2
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
I. Tổng quan về đô la hoá:
1. Khái niệm về đô la hoá:
a. Khái niệm:
Đô la hoá có thể hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế khi ngoại
tệ được sử dụng một cách rộng rãi thay thế cho đồng tiền bản tệ trong toàn bộ hoặc
một số chức năng tiền tệ, nền kinh tế đó bị coi là đô la hoá toàn bộ hoặc một phần.
Bất kỳ một ngoại tệ nào (như đôla Mỹ, Euro, Yên Nhật) có khả năng thay thế
đồng nội tệ cũng dẫn đến hiện tượng “Đô la hóa”. Tuy nhiên trong tình hình hiện
nay, nói đến Đô la hóa, người ta chỉ nghĩ đến một đồng tiền duy nhất đó là Đô la
Mỹ (USD). Mặc dù hiệp ước Bretton Wood đã phá sản nhưng từ lâu USD đã trở
thành phương tiện thanh toán quốc tế mà không có đồng tiền nào có thể thay thế
được. Mặt khác, Mỹ luôn lợi dụng sự lớn mạnh của nền kinh tế đã gây sức ép với
nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó hệ thống tiền tệ vốn chưa “hoàn thiện”, và còn
rất “nhạy cảm” ở các nước đang phát triển.
Theo tiêu chí của IMF đưa ra, một nền kinh tế được coi là có tình trạng đô la hoá
cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trong tổng khối tiền
tệ mở rộng (bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có
kỳ hạn và tiền gửi ngoại tệ.
b. Phân loại:
• Căn cứ vào phạm vi: Tùy theo mức độ sử dụng rộng rãi đồng USD trong nền
kinh tế và thái độ của quốc gia đó đối với việc thừa nhận hay không thừa nhận đồng
Đô la mà Đô la hóa được chia làm 3 mức độ:
Đô la hoá không chính thức là trường hợp đồng đô la được sử dụng rộng rãi
trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận. Đô la hoá
không chính thức có thể bao gồm các loại sau:
Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài.
Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài.
Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước.
3
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi.
Đô la hoá bán chính thức là những nước có hệ thống lưu hành chính thức hai
đồng tiền. Ở những nước này, đồng ngoại tệ là đồng tiên lưu hành hợp pháp, và
thậm chí có thể chiếm ưu thế trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai
trò thứ cấp trong việc trả lương, thuế và những chi tiêu hàng ngày. Các nước này
vẫn duy trì một ngân hàng trung ương để thực hiện chính sách tiền tệ của họ.
Đô la hoá chính thức xảy ra khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy
nhất được lưu hành. Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong
các hợp đồng giữa các bên tư nhân, mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán
của Chính phủ. Nếu đồng nội tệ còn tồn tại thì nó chỉ có vài trò thứ cấp và thường
chỉ là những đồng tiền xu hay các đồng tiền mệnh giá nhỏ. Thông thường các nước
chỉ áp dụng đô la hoá chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương
trình ổn định kinh tế. Đô la hoá chính thức không có nghĩa là chỉ có một hoặc hai
đồng ngoại tệ được lưu hành hợp pháp. Tuy nhiên, các nước đô la hoá chính thức
thường chỉ chọn một đồng ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp.
• Căn cứ vào hình thức: Đô la hóa được thể hiện dưới 3 hình thức sau:
`Đô la hóa thay thế tài sản: Thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng
phương tiện thanh toán (FCD/M2). Theo IMF, khi tỷ lệ này trên 30% thì nền kinh tế
đó được cho là có tình trạng đô la hóa cao, tạo ra các lệch lạc trong điều hành tài
chính tiền tệ vĩ mô. Nhìn chung đối với các nền kinh tế chuyển đổi, tỷ lệ đô la hóa
hiện nay bình quân là 29%.
Đô la hóa phương tiện thanh toán: Là mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh
toán. Các giao dịch thanh toán bất hợp pháp bằng ngoại tệ rất khó đánh giá nhất là
đối với những nền kinh tế tiền mặt như Việt Nam.
Đô la hóa định giá, niêm yết giá: Là việc niêm yết, quảng cáo, định giá bằng
ngoại tệ.
2. Nguồn gốc của đô la hoá:
4
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
Trước hết, đô la hoá là hiện tượng phổ biến xảy ra ở nhiều nước, đặc biệt là ở
các nước chậm phát triển. Đô la hoá thường gặp khi một nền kinh tế có tỷ lệ lạm
phát cao, sức mua của đồng bản tệ giảm sút thì người dân phải tìm công cụ dự trữ
khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín. Tình trạng đô la hoá bao gồm cả ba
chức năng thuộc tính của tiền tệ, đó là:
• Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị.
• Chức năng làm phương tiện cất trữ.
• Chức năng làm phương tiện thanh toán.
Thứ hai, mức độ đô la hoá ở mỗi nước khác nhau phụ thuộc vào trình độ phát
triển nền kinh tế, trình độ dân trí và tâm lý người dân, trình độ phát triển của hệ
thống ngân hàng, chính sách tiền tệ và cơ chế quản lý ngoại hối, khả năng chuyển
đổi của đồng tiền quốc gia. Những yếu tố nói trên ở mức độ càng thấp thì quốc gia
đó sẽ có mức độ đô la hoá càng cao.
Thứ ba, hiện tượng đô la hoá bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong
đó tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đô la Mỹ, được sử dụng trong
giao lưu quốc tế làm vai trò của tiền tệ thế giới. Nói cách khác, đô la Mỹ là một loại
tiền mạnh, ổn định, được tự do chuyển đổi đã được lưu hành khắp thế giới và từ đầu
thế kỷ XX đã dần thay thế vàng, thực hiện vai trò tiền tệ thế giới. Ngoài đồng đô la
Mỹ, còn có một số đồng tiền của các quốc gia khác cũng được quốc tế hoá như:
bảng Anh, mác Đức, yên Nhật, Franc Thụy Sỹ, euro của EU… nhưng vị thế của các
đồng tiền này trong giao lưu quốc tế không lớn; chỉ có đô la Mỹ là chiếm tỷ trọng
cao nhất (khoảng 70% kim ngạch giao dịch thương mại thế giới). Cho nên người ta
thường gọi hiện tượng ngoại tệ hoá là đô la hoá.
Thứ tư, trong điều kiện của thế giới ngày nay, hầu hết các nước đều thực thi cơ
chế kinh tế thị trường mở cửa; quá trình quốc tế hoá giao lưu thương mại, đầu tư và
hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh tế và tiền tệ của mỗi
nước, nên trong từng nước xuất hiện nhu cầu khách quan sử dụng đơn vị tiền tệ thế
giới để thực hiện một số chức năng tiền tệ.
5
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
3. Những tác động của đô la hoá:
Tình trạng đô la hoá nền kinh tế có những tác động tích cực và có cả những tác
động tiêu cực.
a. Những tác động tích cực:
• Tạo một cái van giảm áp lực đối với nền kinh tế trong những thời kỳ lạm
phát cao, bị mất cân bằng và các điều kiện vĩ mô không ổn định. Do có một lượng
lớn đô la Mỹ trong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chống lại lạm
phát và là phương tiện để mua hàng hoá ở thị trường phi chính thức. Ở các nước đô
la hoá chính thức, bằng việc sử dụng đồng đo la, họ sẽ duy trì được tỷ lệ lạm phát
gần với mức lạm phát thấp làm tăng sự an toàn đối với tài sản tư nhân, khuyến
khích tiết kiệm và cho vay dài hạn. Hơn nữa, ở những nước này ngân hàng trung
ương sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạm phát, đồng thời
ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ vào nguồn phát hành này để trang trải
thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặt. Do vậy, các
chương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn.
• Đô la hóa cũng là một trong những giải pháp giúp giảm lạm phát, từ đó có
thể giảm lạm phát, từ đó có thể giảm lãi suất thực nền kinh tế và kích thích đầu tư,
và do đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
• Đôla hóa cũng được cho là có tác dụng thúc đẩy phát triển ngành Ngân hàng
và nâng cao vai trò của nó trong nền kinh tế, phản ánh dưới góc độ tỷ trọng tiền gửi
trong hệ thống ngân hàng trong GDP (thuật ngữ chuyên môn gọi là “độ sâu tài
chính”) tăng lên khi có đôla hóa. Điều này có được là do người gửi tiền thay vì
chuyển tài sản của mình bằng ngoại tệ ra nước ngoài trong bối cảnh rủi ro lạm phát
cao nay được phép, và có thể yên tâm, gửi tài sản (bằng ngoại tệ) của mình vào hệ
thống ngân hàng trong nước và hưởng lãi tính theo ngoại tệ mà không phải bận tâm
đến lạm phát của bản tệ. Nói cách khác, đôla hóa giúp cung cấp “dinh dưỡng” nuôi
sống hệ thống ngân hàng trong nước.
6
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
• Tăng cường khả năng cho vay của ngân hàng và khả năng hội nhập quốc tế.
Với một khối lượng lớn ngoại tệ thu được từ tiền gửi tại ngân hàng, các ngân hàng
sẽ có điều kiện cho vay nền kinh tế bằng ngoại tệ, qua đó hạn chế việc phải vay nợ
nước ngoài, và tăng cường khả năng kiểm soát của ngân hàng trung ương đối với
luông ngoại tệ. Đồng thời, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động đối
ngoại, thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trường quốc tế.
• Hạ thấp chi phí giao dịch. Ở những nước đô la hoá chính thức, các chi phí
như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền
khác được xoá bỏ. Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, các
ngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh.
• Thúc đẩy thương mại và đầu tư. Các nước thực hiện đô la hoá chính thức có
thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích
tự do thương mại và đầu tư quốc tế. Các nền kinh tế đô la hoá có thể được: chênh
lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách giảm xuống, thúc
đẩy tăng trưởng và đầu tư.
• Thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên hai thị trường chính thức và phi chính thức.
Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ để chuyển
các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị trường chính
thức (thị trường hợp pháp).
b. Những tác động tiêu cực:
• Làm giảm hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ. Chính sách tiền tệ của
ngân hàng trung ương không phát huy được hiệu quả, bị mất tính độc lập và chịu
nhiều ảnh hưởng từ diễn biến kinh tế quốc tế, nhất là khi xảy ra các cuộc khủng
hoảng kinh tế, cụ thể: Chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương không phát huy
được hiệu quả, bị mất tính độc lập và chịu nhiều ảnh hưởng từ diễn biến kinh tế
quốc tế, nhất là khi xảy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế, cụ thể:
7
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán, do
đó dẫn đến viêc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu
thông kém chính xác và kịp thời.
Làm cho đồng nội tệ nhạy cảm hơn đối với các thay đổi bên ngoài, do đó
những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông
qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả.
Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có thể
thực thi chính sách tỷ giá. Đô la hoá có thể làm cho cầu tiền trong nước không ổn
định, do người dân co xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đô la Mỹ, làm chi cầu
của đồng đô la Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá. Khi các đối thủ cạnh tranh trên
thị trường thế giới thực hiện phá giá đồng tiền, thì quốc gia bị đô la hoá sẽ không
còn khả năng để bảo vệ sức cạnh tranh của khu vực xuất khẩu thông qua việc điều
chỉnh lại tỷ giá hối đoái.
Ở trong các nước đô la hoá không chính thức, nhu cầu về nội tệ không ổn
định. Trong trường hợp có biến động, mọi người bất ngờ chuyển sang ngoại tệ có
thể làm cho đồng nội tệ mất giá và bắt đầu một chu kỳ lạm phát. Khi người dân giữ
một khối lượng lớn tiền gửi bằng ngoại tệ, những thay đổi về lãi suất trong nước
hay nước ngoài có thể gây ra sự chuyển dịch lớn từ đồng tiền này sang đồng tiền
khác (hoạt động đầu cơ tỷ giá). Những thay đổi này sẽ gây ra những bất ổn định
trong hệ thống ngân hàng. Trường hợp tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ cao, nếu
khi có biến động làm cho người dân đổ xô đi rút ngoại tệ, trong khi cố ngoại tệ này
đã được ngân hàng cho vay, đặc biệt là cho vay dài hạn, khi đó ngân hàng nhà nước
của nước bị đô la hoá cũng không thể hỗ trợ được vì không có chức năng phát hành
đô la Mỹ.
• Chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ. Trong trường hợp đô
la hoá chính thức, các chính sách tiền tệ và chính sách lãi suất của đồng tiền khi đó
sẽ do nước Mỹ quyết định. Trong khi các nước đang phát triển và một số nước phát
triển như Mỹ không có chu kỳ tăng trưởng kinh tế giống nhau, sự khác biệt về chu
8
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
kỳ tăng trưởng kinh tế tại hai khu vực kinh tế khác nhau đòi hỏi phải có những
chính sách tiền tệ khác nhau.
• Đô la hoá chính thức sẽ làm mất đi chức năng của ngân hàng trung ương là
người cho vay cuối cùng của các ngân hàng. Trong các nước đang phát triển chưa bị
đô la hoá hoàn toàn, mặc dù các ngân hàng có vốn tự có thấp, song công chúng vẫn
tin tưởng vào sự an toàn đối với các khoản tiền gửi của họ tại các ngân hàng.
Nguyên nhân là do có sự bảo lãnh ngầm của Nhà nước đối với các khoản tiền này.
Điều này chỉ có thể làm được đối với đồng tiền nội tệ, chức không thể áp dụng
được đối với đô la Mỹ. Đối với các nước đô la hoá hoàn toàn, khu vực ngân hàng sẽ
trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản và sẽ đóng
cửa khi chức năng nười cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương đã bị mất.
II. Đô la hoá ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp:
1. Tình trạng đô la hoá trên thế giới:
Theo đánh giá của IMF năm 1998, 19 nước có mức độ đô la hoá cao với tỷ lệ
tiền gửi ngoại tệ/M2 lớn hơn 30% bao gồm các nước: Argentina, Azerbaijiam,
Belarus, Bolivia, Cambodia, Costa Rica, Croatia, Georgia, Guinea – Bissau, Laos,
Latvia, Mozambique, Nicaragua, Peru, Sao Tome, Principe, Tajikistan, Turkey và
Uruguay. 35 nước có mức độ đô la hoá vừa phải với tỷ lệ tiền gửi/M2 khoảng
16,4% bao gồm các nước: Albania, Armenia, Bulgaria, Cộng hoà Czech, Dominica,
Hondurá, Hungary, Jamaica, Jordan, Lithuania, Macedonia, Malawi, Mexico,
Moldova, Mongolia, Pakistan, Philippines, Poland, Romania, Russia, Sierra Leone,
Cộng hoà Slovak, Trinidad, Tobago, Uganda, Ukraine, Uzbekistan, Việt Nam,
Yemen và Zambia. Theo nghiên cứu của Hệ thống dự trữ Liên bang Mỹ, hiện tại
người nước ngoài nắm giữ từ 55% đến 70% tổng số đô la Mỹ đang lưu hành trên
thế giới.
Những nước đã tiến hành đô la hoá:
• Panama: là nước đầu tiên tiến hành đô la hoá toàn phần. Từ năm 1904, sau
khi tách ra khỏi Colombia, Panama đã dùng đồng xanh. Việc này ảnh hưởng rất tốt
9
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
đến nền kinh tế của Panama. Trong suốt những năm 1990 lạm phát hầu như không
vượt quá 1% một năm. Nhưng đông thời đô la hoá vẫn không giúp Panama được
hoàn toàn độc lập với trợ giúp các tổ chức bên ngoài. Từ năm 1973, Panama tiếp
nhận hơn 15 chương trình của Quỹ tiền tệ quốc tế và đô la hoá cũng không ngăn
được việc Panama mất khả năng trả nợ nước ngoài vào giữa những năm 1980.
• Ecuador: bắt đầu chuyển đổi vào đầu năm 2000. Đô la hoá là phương cách
cuối cùng của Ecuador khi nước này cố vượt qua một cuộc khủng hoảng kinh tế
trầm trọng, với một hệ thống ngân hàng suy sụp, đồng nội tệ mất giá và sự chống
đối của người dân bản xứ. Khi Tổng thống Ecuador thông cáo ý định đô la hoá vào
tháng 1 năm 2000, quá trình này đã bắt đầu được tiến hành, đất nước đã đang dẫn
đến một cuộc đảo chính và tổng thống đã phải từ chức. Trước khi đổi hệ thống tiền
sang đô la, Ecuador đã thử tiến hành nhiều biện pháp hối đoái khác nhau. Tất cả các
biện pháp đều không có hiệu quả và đến nay quyết định đô la hoá vẫn được coi là
hợp lý đối với Ecuador.
• El Salvador: Cuối tháng 11 năm 2000, nghị viện El Salvador thông qua luật
thực hiện đô la hoá toàn phần trong cả nước. Bắt đầu từ mùng 1 tháng 1 năm 2001
các máy đếm tiền tự động đầu được nạp chương trình để phát ra đồng đô la và tất cả
các khoản ngân hàng đều chuyển sang đô la. Sự thay đổi này không hẳn do nguyên
nhân khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Trên thực tế, lạm phát ở El Salvador thấp, chỉ
khoảng 1,3% trong vòng 1 thập kỷ trước. Đô la hoá thật ra là để thu hút đầu tư nước
ngoài vào El Salvador.
• Vài năm trước đây, Mỹ thông báo là đô la sẽ được coi là đồng tiền chính
thức của Đông Timor, nước vừa tuyên bố độc lập khỏi Indonesia. Tháng 12 năm
2000, Guatemala thông qua luật cho phép được sử dụng đô la rộng rãi, tuy không
tuyên bố hẳn là sẽ đô la hoá toàn phần. Một loạt các nước khác cũng đã cân nhắc về
quyết định đô la hoá: Costa Rica, Honduras, Nicaragua.
2. Thực trạng đô la hoá ở Việt Nam:
a. Giai đoạn trước khi mở cửa (1988):
10
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
Việt Nam thực hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp. Nhà nước nắm độc quyền
về ngoại thương, ngoại hối. Quy mô nền kinh tế nhỏ, khả năng cạnh tranh của hàng
hoá, dịch vụ rất thấp, kinh tế đối ngoại kém phát triển, hệ thống ngân hàng còn sơ
khai. Điều lệ quản lý ngoại hối ban hành kèm theo Nghị định số 102/CP ngày 06
tháng 7 năm 1963 của Chính phủ nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân sở hữu, sử dụng
ngoại tệ trong nước (kể cả việc cất trữ, mang theo người), mọi giao dịch trong nước
phải thực hiện bằng VND. Vì vậy, mức độ đô la hoá là không đáng kể do độ mở của
nền kinh tế còn rất nhỏ.
b. Giai đoạn bắt đầu mở cửa đến trước khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực
(1988 – 1997):
Nhìn chung mức độ đô la hoá có xu hướng giảm mạnh. Năm 1991, tỷ lệ đô la
hoá (FCD/M2) lên đến 41,2%, việc thanh toán bằng ngoại tệ hợp pháp và bất hợp
pháp tương đối nhiều, việc định giá bằng ngoại tệ và vàng (kể cả đối với các giao
dịch nhỏ) trong dân cư khá phổ biến. Nguyên nhân do ảnh hưởng của lạm phát phi
mã giai đoạn trước (đến năm 1991 lạm phát vẫn còn tới 67,5 %). Người dân ưa
thích sử dụng ngoại tệ còn do lợi ích thực tế của việc sử dụng trong cất trữ, vận
chuyển, thanh toán vì mệnh giá VND quá nhỏ, hệ thống thanh toán lại kém phát
triển. Đến giai đoạn 1993 -1996, khi lạm phát chỉ ở mức trên dưới 10%, tỷ giá biến
động ít, việc nắm giữ VND đã tỏ ra có lợi hơn nên mức độ đô la hoá giảm mạnh, tỷ
lệ FCD/M2 năm 1997 còn 22,9%. Đồng thời, Chính phủ cũng bắt đầu hạn chế việc
thanh toán bằng ngoại tệ, xoá bỏ các điểm bán hàng thu ngoại tệ, tăng cường các
bàn đổi ngoại tệ. Tuy nhiên, thị trường ngoại tệ tự do, yết giá và thanh toán ngoại tệ
trong dân cư vẫn chưa kiểm soát được do thói quen và các hoạt động kinh tế ngầm,
do sự bất tiện khi sử dụng VND vẫn chưa được giải quyết cơ bản. Nhưng cũng phải
nhìn nhận rằng, các hoạt động ngoại hối trái phép tồn tại chủ yếu là do chưa được
xử lý một cách kiên quyết. Nguyên nhân là thiếu chế tài, thiếu sự phối hợp của các
cơ quan quản lý. Cho đến nay, vấn đề này vẫn là một tồn tại chưa được khắc phục.
c. Giai đoạn từ khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực đến nay:
11
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
Nguồn: VNEconomy.
Sau một thời gian giữ ổn định ở mức tương đối thấp khoảng trên 20%, tỷ lệ
FCD/M2 lại có dấu hiệu tăng lên trong giai đoạn này và đến năm 2000 - 2001 đã
tăng cao trở lại đến 30%. Nguyên nhân là trong suốt một thời gian dài, kinh tế Mỹ
tăng trưởng cao và ổn định làm cho đồng USD hấp dẫn hơn các ngoại tệ khác. Mặt
khác, các chính sách mới ban hành đã tạo sự tin tưởng của người dân, thu hút được
một lượng lớn ngoại tệ từ thị trường tự do vào hệ thống ngân hàng. Tâm lý đô la
hoá trong giai đoạn này cũng một phần do tác động của khủng hoảng và kỳ vọng
của thị trường vào sự phá giá của VND. Tỷ lệ này có xu hướng giảm đáng kể trong
những năm tiếp theo, năm 2002 là 26,1%, đến năm 2003 còn 21,3%.Tuy nhiên đến
năm 2004 khi lạm phát ở mức 9,5% và lãi suất USD trên thế giới tăng, chênh lệch
lãi suất giữa VND và ngoại tệ trong nước giảm thì tỷ lệ FCD/M2 đang có biểu hiện
gia tăng trở lại, đạt gần 23.2%. Đến năm 2005 tỷ lệ FCD/M2 giảm nhẹ, đạt 22,3%.
Cho đến nay thì tỷ lệ đô la hoá của Việt Nam luôn ở mức trên 20%. Mục tiêu của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tới năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ này xuống còn 15%.
3. Một số giải pháp kiềm chế và đẩy lùi tình trạng đô la hoá ở Việt Nam:
12
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
Đô la hoá là tình trạng khó tránh khỏi đối với các nước có xuất phát điểm thấp,
đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và đẩy mạnh hội nhập quốc tế như Việt
Nam.Tâm lý lo ngại về lạm phát, về sự mất giá của đồng nội tệ, thói quen sử dụng
tiền mặt trong giao dịch… không thể một sớm , một chiều xoá bỏ hay giảm triệt để
được.
Quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ và ngân hàng trung ương trong vấn
đề đô la hoá là rất rõ ràng: xoá bỏ đô la hoá trong nền kinh tế - xã hội nước ta phải
được thực hiện từng bước, từng khâu thích ứng với từng giai đoạn đổi mới, phát
triển của đất nước; phải bằng nhiều giải pháp vừa kinh tế, vừa hành chính kết hợp
với giáo dục pháp luật, điều chỉnh tâm lý xã hội trong lộ trình thực thi nhiều cơ chế
kinh tế nghiệp vụ ngân hàng cụ thể nối tiếp nhau, để nâng vị thế của đồng tiền Việt
Nam trong các chức năng thuộc tính của tiền tệ.
Việc xoá bỏ đô la hoá không thể xử lý theo quan điểm xoá bỏ sạch trơn, phủ
định tất cả.Trong giai đoạn hiện nay cần cố gắng khai thác mặt lợi, thu hút vốn đô la
trong dân vào hệ thống ngân hàng, đầu tư cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Thị trường ngoại tệ và hoạt động knih doanh tiền tệ ở nước ta đang hội nhập với thị
trường tiền tệ quốc tế. Nói kiềm chế, đẩy lùi và hạn chế các mặt tiêu cực, có nghĩa
là chúng ta chấp nhận sự tồn tại của đô la hoá ỏ những mặt tích cực khách quan.
Điều quan trọng nhất là Nhà nước phải giữ vai trò chủ động để điều chỉnh hiện
tượng đô la hoá; nhất quyết phải có các giải pháp hành chính – kinh tế - giáo dục
đồng bộ để triệt tiêu các mặt tiêu cực của đô la hoá. Để giữ được những mặt tích
cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đô la hoá, có thể thực hiện một số giải pháp
sau đây:
a. Ngân hàng Nhà nước:
• Chính sách tiền tệ: thực hiện từ năm 2007 đến năm 2010
Chính sách tiền tệ phải đảm bảo ổn định tương đối giá trị của đồng tiền, lấy
kiểm soát lạm phát làm mục tiêu.
13
Đề tài: Bàn về vấn đề đô la hoá.
Xây dựng hệ thống lãi suất chủ đạo của NHNN để định hướng lãi suất thị
trường. Chú trọng đến việc phối hợp giữa chính sách lãi suất và chính sách tỷ giá để
đảm bảo cân bằng lợi tức giữa việc nắm giữ VND và ngoại tệ.
• Chính sách tỷ giá: thực hiện từ năm 2007
Tiếp tục thực hiện cơ chế tỷ giá linh hoạt, tương đối ổn định theo một “Rổ
tiền tệ”, hướng vào mục tiêu đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Hoàn chỉnh 5 bước để tăng thêm tính linh hoạt của tỷ giá: (i) Tự do hoá việc chuyển
đổi giữa các ngoại tệ mạnh; (ii) Tự do hoá các điểm kỳ hạn; (iii) Cho phép áp dụng
nghiệp vụ quyền chọn giữa VND với ngoại tệ; (iv) Nới rộng dần biên độ tỷ giá giao
ngay; (v) Tự do hoá mức phí trong nghiệp vụ quyền chọn giữa VND và ngoại tệ.
Phát triển mạnh các nghiệp vụ phái sinh trên thị trường ngoại hối phù hợp
với thông lệ quốc tế. Tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân được tham gia thị
trường ngoại tệ một cách công khai, dễ dàng nhằm thực hiện mục tiêu là dịch vụ
hoá cao độ các nghiệp vụ hối đoái, bình thường hoá vai trò và ảnh hưởng của ngoại
tệ.
• Đổi mới về chính sách quản lý ngoại hối theo hướng tự do hoá nhiều hơn
Giao dịch vãng lai:
Thực hiện tự do hoá các giao dịch vãng lai theo Điều khoản VIII Điều lệ
IMF:
Xoá bỏ hạn mức tuyệt đối trên một số khoản chuyển tiền vãng lai của cá
nhân ra nước ngoài .
Xoá bỏ hạn mức tuyệt đối đối với việc thoái hối của người không cư trú .
Xoá bỏ giấy phép mua, chuyển, mang ngoại tệ của cá nhân ra nước ngoài với
các mục đích học tập, du lịch, chữa bệnh
Xoá bỏ giấy phép chuyển ngoại tệ tiền mặt ra nước ngoài của tổ chức tín
dụng.
Tạo điều kiện cho VND tham gia quan hệ thanh toán xuất nhập khẩu .
Giảm dần hạn chế mang VND ra, vào lãnh thổ.
Đảm bảo đáp ứng ngoại tệ đầy đủ cho các giao dịch được phép.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét