Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Tài liệu Đề tài “Hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam thực trạng và giải pháp” pdf

1.3. Giai đoạn sau năm 1997:
Tình hình chính trị trên thế giới tương đối ổn định, song nó được tách ra thành một giai
đoạn riêng bởi vì tình hình kinh tế trên thế giới có nhiều biến động khiến bản đồ kinh tế có
sự thay đổi đáng kể.
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra cuối năm 1997 ở Thái Lan, sau đó lan rộng ra
nhiều nước khác đã để lại những hậu quả kinh tế lâu dài. Cuộc khủng hoảng này đã chỉ ra
những yếu điểm của các nền kinh tế mới phát triển. Điều đó đã dẫn tới sự suy giảm của cả
nền kinh tế nói chung và công nghiệp dệt may nói riêng.
Tuy nhiên, thời gian này cũng chứng kiến sự phát triển vượt bậc của Trung Quốc về sản
xuất hàng dệt may. Vượt qua cuộc khủng hoảng năm 1997 một cách thuyết phục, với sự ổn
định chính trị, chính sách tiền tệ hợp lý của Chính phủ, cùng với chiến lược cạnh tranh và
phát triển sản phẩm, các doanh nghiệp đã đưa Trung Quốc lên vị trí hàng đầu trong các
nước xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới. Điều đó, các nước xuất khẩu hàng dệt may đều
phải coi Trung Quốc như đối thủ cạnh tranh tiềm tàng.
2. VAI TRÒ CỦA NGÀNH DỆT MAY TRONG NỀN KINH TẾ:
Dệt may đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt với
các nước đang phát triển. Vai trò đó thể hiện ở ba khía cạnh trong nền kinh tế:
- Đây là ngành cung cấp cho xã hội những sản phẩm thiết yếu của đời sống hàng ngày.
- Ngành dệt may góp phần quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm bởi vì đây là
ngành cần rất nhiều lao động, mặc dù không cần nhiều vốn so với các ngành công nghiệp
khác.
- Dệt may dễ đem lại lợi nhuận về ngoại tệ để có thể nhập thiết bị cho các ngành khác, nhất
là ở các nước đang phát triển.
Thông qua việc phát triển công nghiệp may mặc, sản xuất hàng xuất khẩu, các quốc gia
đang phát triển chỉ phải đầu tư một lượng vốn nhỏ, nhưng có thể thu về một lượng ngoại tệ
lớn cho việc nhập khẩu máy móc và công nghệ cho các ngành khác.
Để chứng minh luận điểm trên, ta có thể thấy rõ sự đóng góp to lớn của ngành dệt may cho
nền kinh tế qua hai trường hợp điển hình cụ thể ở khu vực Đông Nam Á. Đó là Inđônêxia
và Thái Lan.
- Tại Inđônêxia, dệt may đã có những sự phát triển vượt bậc. Năm 2001, giá trị xuất khẩu
hàng dệt may đạt mức 7,68 tỷ USD (Đôla Mỹ), chiếm 17,58% tổng giá trị của các sản
phẩm xuất khẩu phi dầu mỏ, chiếm 20,39% tổng giá trị xuất khẩu của các sản phẩm chế
tạo. Ngành dệt may của Inđônêxia tạo ra hơn 1,2 triệu việc làm và con số này còn tăng lên
trong tương lai khi ngành dệt may được mở rộng.
- Tại Thái Lan, dệt may cũng đóng góp một phần không nhỏ cho nền kinh tế. Năm 2000,
chiếm vị trí dẫn đầu trong số các ngành xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu đạt 5,3 tỷ USD, chiếm
8,1 % trong tổng giá trị xuất khẩu của Thái Lan. Là ngành đóng góp nhiều nhất vào tổng
sản phẩm quốc nội. Chiếm tỷ lệ 13,8% đóng góp của ngành công nghiệp chế tạo. Là ngành
tạo ra nhiều việc làm nhất với gần 1,1 triệu lao động năm 2001, tức 21,2 % lực lượng lao
động trong ngành công nghiệp.
3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY TRÊN
THẾ GIỚI:
Trong những năm qua, dệt may trên thế giới có mức tăng trưởng tương đối đều đặn và
phục hồi khá nhanh sau khủng hoảng tài chính năm 1997. Đến năm 2000, hầu hết các nước
dẫn đầu trong sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may đều có được sự tăng trưởng trở lại. Ta
có thể thấy được qua bảng số liệu số 1 và xem xét một vài nước xuất khẩu điển hình như
Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia…
3.1. Trung Quốc:
3.1.1. Về sản xuất:
Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành dệt may Trung Quốc là
9%/ năm. Hiện nay, Trung Quốc có hơn 13.600 công ty sản xuất, xuất khẩu hàng may mặc
và có 43,1 triệu nhân công. Trong khi đó, Trung Quốc vẫn là một trong 10 quốc gia có chi
phí nhân công rẻ nhất trong ngành dệt may với chỉ có 0,7 USD/ giờ.
3.1.2. Về xuất khẩu:
Trung Quốc là nước dẫn đầu ở cả thị trường dệt và may. Năm 2000, giá trị xuất khẩu hàng
dệt là 16,14 tỷ USD, chiếm 10,2% thị phần trên thế giới, giá trị xuất khẩu hàng may mặc là
36,07 tỷ USD, chiếm tới 18% thị phần, chiếm 12% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
Trung Quốc. Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, năm 2002, nước này sản xuất được 20 tỷ
sản phẩm may mặc và có doanh thu 48 tỷ USD. Nếu chia số sản phẩm này cho dân số trên
thế giới thì có nghĩa là Trung Quốc có thể cung cấp cho mỗi người 4 sản phẩm.
Những phân tích trên cho thấy, Trung Quốc là nước có nhiều thế mạnh về may mặc. Hơn
nữa, Chính phủ cũng ưu tiên chú trọng phát triển ngành dệt may. Đây là bài học điển hình
cho các nước khác.
3.2. Thái Lan:
3.2.1. Về sản xuất:
Năm 2001, Thái Lan có 4.544 công ty sản xuất hàng dệt may. Trong đó, khoảng 90% nhà
máy nằm ở Băngkok và các vùng lân cận (Băngkok, Samut Prakarn, Samut Sakhon,
Nontaburi, Patumtani Nakhon Pathom). Cũng trong năm 2001, công nghiệp dệt may Thái
Lan có số nhân công 1.081.540 người. Đây cũng là số nhân công lớn nhất so với các ngành
công nghiệp chế tạo khác. Các sản phẩm chính gồm có tơ, sợi, vải tổng hợp các loại và
quần áo. Sản lượng của các sản phẩm này được thống kê như sau:
Bảng 1: Sản lượng đầu ra của ngành dệt may Thái Lan năm 2001
Đơn vị:1.000 tấn
Sản phẩm Sản lượng
Tơ nhân tạo 742,3
Sợi cotton 337,7
Sợi tổng hợp 550,5
Vải các loại 718,8
Quần áo 446,6
Nguồn: Báo cáo của Thái Lan tại Hội nghị hàng dệt may khu vực Châu Á - Thái Bình Dư-
ơng năm 2002.
3.2.2. Về xuất khẩu:
Năm 2000, thị phần xuất khẩu của Thái Lan trên thế giới sau cuộc khủng hoảng năm 1997
đã giảm xuống chỉ còn 2% so với 2,6% năm 1990. Tuy nhiên, nếu xét về mức độ tăng
trưởng thì năm 2000, dệt may nước này đang có dấu hiệu hồi phục với mức tăng trưởng
14%. Sản phẩm xuất khẩu của Thái Lan có vị trí quan trọng trên thế giới và chủ yếu là
hàng may mặc. Bảng số liệu sau sẽ cho thấy tình hình xuất khẩu cụ thể hàng dệt may của
Thái Lan năm 2001:
Bảng 2: Xuất khẩu hàng dệt may của Thái Lan trong năm 2001
Sản phẩm
Khối lượng
(1.000 tấn)
Giá trị
(triệu USD)
Tơ các loại 272,8 238,2
Sợi nhân tạo 219,2 358.2
Sợi cotton 29,56 83,7
Vải các loại 421,9 1.305,4
Quần áo 191,8 3.077,5
Nguồn: Báo cáo của Thái Lan tại Hội nghị hàng dệt may khu vực Châu Á - Thái Bình D-
ương năm 2002.
Mặc dù, đã có những sự phục hồi sản xuất, nhưng Thái Lan vẫn còn những tồn tại cần khắc
phục. Một trong những tồn tại đó là việc các doanh nghiệp chưa coi trọng nghiên cứu, phát
triển sản phẩm, thị trường, cũng như họ còn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập
khẩu. Những điểm yếu này đã được chính Thái Lan đưa ra trong Hội nghị hàng dệt may
khu vực Châu Á - Thái Bình Dương năm 2002. Đây là những nhận xét đáng để các nước
khác quan tâm, tìm hiểu.
3.3. Inđônêxia:
3.3.1. Về sản xuất:
Ngành dệt may Inđônêxia có khoảng hơn 2.600 doanh nghiệp và hơn 1,2 triệu lao động.
Inđônêxia đã cố gắng duy trì được mức tăng trưởng liên tục của ngành dệt may, kể cả khi
có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997. Chính phủ Inđônêxia có chính sách chú
trọng đặc biệt đến ngành dệt may.
3.2.2. Về xuất khẩu:
Inđônêxia đứng trong “top” 15 nước dẫn đầu thế giới về xuất khẩu hàng dệt may trên thế
giới. Với tốc độ tăng trưởng đều đặn của sản xuất và xuất khẩu, năm 2001, kim ngạch xuất
khẩu đạt 7,68 tỷ USD, chiếm 17,6% kim ngạch xuất khẩu của nước này.
Bảng 3: Xuất khẩu hàng dệt may của Inđônêsia năm 1997 - 2001
Đơn vị: triệu USD
Sản phẩm 1997 1998 1999 2000 2001
Tơ 135 146 97 135 105
Sợi 762 889 1.177 1.326 1.244
Vải 1.354 1.345 1.614 1.913 1.526
Hàng may mặc 2.678 2.406 3.526 4.281 4.000
Hàng dệt may khác 243 235 437 549 800
Tổng giá trị 7.319 7.321 7.157 8.204 7.678
Nguồn: Báo cáo của Inđônêsia tại hội nghị hàng dệt may khu vực Châu Á - Thái Bình Dư-
ơng năm 2002.
Với sự phát triển liên tục, kể cả khi có khủng hoảng trên thế giới và trong khu vực,
sự kỳ vọng đạt được 9 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu vào năm 2004 của Inđônêxia là có khả
năng. Đây là nước có tiềm năng đáng để các nước khác kính nể.
Bảng 4: Năng lực sản xuất của ngành dệt may Inđônêsia
Đơn vị: 1.000 tấn
Sản phẩm 1997 1998 1999 2000 2001
Tơ 797 8566 905 1.039 1.049
Sợi 1.937 2.074 2.107 2.298 2.3215
Vải 1.752 1.894 1.904 1.972 1.992
Hàng may mặc 486 564 572 573 584
Nguồn: Báo cáo của Inđônêsia tại Hội nghị hàng dệt may khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương năm 2002.
Để chứng minh sự ổn định đó, ta hãy so sánh giữa khả năng công suất sản xuất của
Inđônêxia với sản lượng thực tế được nêu trong bảng sau:
Bảng 5: Sản lượng thực tế của ngành dệt may Inđônêsia
Đơn vị: 1.000 tấn
Sản phẩm 1997 1998 1999 2000 2001
Tơ 617 746 839 970 961
Sợi 1.584 1.783 1.912 2.056 2.025
Vải 1.241 1.341 1.346 1.546 1.561
Hàng may mặc 460 535 543 554 565
Nguồn: Báo cáo của Inđônêsia tại Hội nghị hàng dệt may khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương năm 2002.
Ta thấy rằng hiệu suất sản xuất của Inđônêxia rất cao, trung bình 95% năng lực công suất.
Điều này cho thấy rằng, nếu chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa thì sản lượng còn có khả năng
tăng cao hơn.
Inđônêxia là nước phát triển tương đối đồng đều cả hai mặt hàng dệt và may. Thành công
đó có được là nhờ chiến lược phát triển các sản phẩm phi dầu mỏ có từ giữa thập kỷ 80.
Giờ đây, xuất khẩu hàng dệt may là nguồn thu ngoại tệ lớn nhất của Inđônêxia.
3.4. Các nước khác:
Ngoài ba nước tiêu biểu kể trên, Trung Quốc là nước dẫn đầu trên thế giới về hàng dệt
may, Thái Lan và Inđônêxia là hai nước cùng khu vực có các điều kiện tương đối giống
Việt Nam, còn lại hoạt động sản xuất cũng như xuất khẩu hàng dệt may trên thế giới tập
trung chủ yếu vào một số nước như Anh, Italia, Hoa Kỳ, Đài Loan, Hàn Quốc, Đức… Tuy
nhiên, thị phần của các nước này đang bị thu hẹp một cách nhanh chóng, mà nguyên nhân
chủ yếu do giá nhân công vốn đã cao nay lại càng cao lên nhanh chóng. Đây là điều kiện
bất lợi cho họ. Nhưng đó cũng chính là điều kiện thuận lợi cho cho các nước có giá nhân
công rẻ, trong đo có Việt Nam.
4. NHU CẦU TIÊU DÙNG HÀNG DỆT MAY TRÊN THẾ GIỚI:
Do sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nói
chung và hàng dệt may nói riêng không ngừng tăng. Với sự vượt trội về kinh tế Hoa Kỳ
cùng với EU và Nhật Bản đã trở thành những thị trường tiêu dùng hàng hoá với số lượng
lớn trên thế giới. Song trong những năm gần đây, với sự phát triển kinh tế thần kỳ của
mình, Trung Quốc được biết đến như một thị trường mới đầy hấp dẫn. Trung Quốc chiếm
tỷ lệ lớn trong tổng tiêu dùng hàng dệt may trên thế giới.
Biểu đồ 1: Tiêu dùng hàng dệt may ở một số khu vực thị trường
Đơn vị: triệu tấn

Nguồn : Textile Outlook International.
Tuy nhiên, cứ với đà tăng trưởng như hiện nay thì chỉ đến năm 2005, Trung Quốc sẽ trở
thành thị trường lớn nhất trên thế giới. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra, vì Hoa Kỳ cũng
như EU đang áp dụng rất nhiều rào cản kỹ thuật đối với hàng hoá nhập khẩu từ nước
ngoài. Còn Nhật Bản, dù có chính sách phi hạn ngạch, với số dân 193 triệu người (năm
2000) và có mức tiêu dùng đầu người rất cao cũng không thể sánh được với thị trường 1,2
tỷ dân của Trung Quốc. Có thể nói trong những năm tới đây, Trung Quốc sẽ là thị trường
đầy tiềm năng cho hàng dệt may.
Ngoài ra, cũng có thể thấy qua con số thống kê lượng hàng nhập khẩu của các nước này
trong những năm 1980 – 2000:
Hoa Kỳ
Trung Qu cố EU
Nh t B nậ ả
0
2
4
6
8
10
12
4.8
3.9
5.5
2.0
7.9
6.8
7.1
2.8
9.6
8.7
8.3
3.4
Tri u t nệ ấ
1980 1995 2005
Bảng 6: Nhập khẩu hàng dệt may của một số nước trên thế giới
Nước, lãnh
thổ
Giá trị
năm 2000
Tỷ lệ (%) Mức thay đổi (%)/năm
1980 1990 2000 1990 –
2000
1998 1999 2000
Hoa Kỳ 15,71 4,5 6,2 9,4 9 8 6 10
HồngKông 13,72 3 -17 -7 9
TrungQuốc 12,83 1,9 4,9 7,7 9 -10 0 16
Đức 9,32 12,1 11 5,6 -2 8 -10 -11
Anh 6,91 6,3 6,5 4,1 0 -2 -11 -7
Pháp 6,75 7,2 7 4 -1 8 -8 2
Italia 6,12 4,6 5,7 3,7 0 3 -9 2
Mêxicô 6,1 0,2 0,9 3,6 20 20 41 26
Nhật Bản 4,94 2,9 3,8 2,9 2 -25 4 9
Canada 4,13 2,3 2,2 2,5 6 4 -1 3
Bỉ 3,63 - - 2,2 - - - -4
Tây Ban Nha 3,32 0,6 1,9 2 5 12 -2 -4
Hàn Quốc 3 0,7 1,8 1,9 5 -38 35 -
Hà Lan 2,64 4 3,4 1,6 -3 -24 -4 -6
Ba Lan 2,43 0,5 0,2 1,5 26 14 -7 -4
Tổng cộng 89,27 55,4 62,6 53,4 - - - -
Nguồn: www.wto. org
Biểu đồ số 1 và bảng số liệu 6 cho thấy Hoa Kỳ đang là thị trường tiêu thụ hàng dệt may
lớn nhất trên thế giới. Mức tiêu thụ sản phẩm dệt may của Hoa Kỳ là 9,6 triệu tấn năm
2001. Tiếp theo sau là Trung Quốc với mức tiêu thụ 8,7 triệu tấn. Các vị trí tiếp sau thuộc
về EU và Nhật Bản.
Qua phân tích vai trò của dệt may trong nền kinh tế quốc dân, tình hình nhu cầu tiêu thụ,
sản xuất và xuất khẩu một số nước tiêu biểu trên thế giới, ta rút ra nhận xét: dệt may chiếm
một vị thế quan trọng không thể thiếu được đối với chính sách phát triển kinh tế của mỗi
nước, đặc biệt những nước đang phát triển. Hỗu hết các nước mạnh về dệt may đều có
những điểm tương đồng với Việt Nam. Bài học của họ rất có ích cho chúng ta. Đồng thời,
ta cũng nên phát huy những ưu điểm của họ và những nhược điểm mà các nước này mắc
phải.
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU HÀNG
DỆT MAY Ở VIỆT NAM
1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM:
Ta đã biết, sản phẩm may mặc rất thiết yếu đối với nhu cầu của con người, nên nó đã xuất
hiện từ rất sớm. Việt Nam cũng vậy, dệt may cũng có một quá trình phát triển lâu dài. Nơi
đây có hàng loạt làng nghề thủ công trồng bông, nuôi tằm, xe tơ, kéo sợi, dệt vải… trải dài
theo chiều dài đất nước. Tuy nhiên, nếu xét về quy mô sản xuất công nghiệp, thì dệt may
Việt Nam vẫn còn rất non trẻ, mới chỉ có gần nửa thập kỷ phát triển. Nhưng trái lại đây là
ngành có những thay đổi nhảy vọt. Cùng với sự chuyển mình và phát triển của nền kinh tế,
dệt may cũng có những giai đoạn phát triển tương ứng. Ta có thể chia làm ba giai đoạn như
sau:
1.1. Giai đoạn trước năm 1986:
Năm 1954, sau khi hoà bình được lập lại, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và có điều
kiện phát triển kinh tế chi viện Miền Nam đấu tranh chống đế quốc, thống nhất đất nước.
Thời kỳ này, ngành dệt may Việt Nam đã được Đảng và Chính phủ quan tâm tạo điều kiện
đầu tư phát triển. Kết quả tạo công ăn việc làm, cũng như sản xuất được nhiều sản phẩm
cho xã hội.
Với sự giúp đỡ của các nước anh em, bè bạn, chúng ta đã cải tạo và xây mới một loạt nhà
máy có công suất lớn như: Dệt 8-3, Dệt Vĩnh Phú, Dệt kim Đông Xuân, Dệt Nam Định,
May 10, May Thăng Long… Đồng thời, hàng loạt các hợp tác xã, tổ sản xuất thủ công
được thành lập nhằm cung cấp thêm sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.
Năm 1975, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối, ngành dệt
may lại có thêm cơ hội phát triển khi được bổ sung đội ngũ thợ lành nghề của các làng
nghề trải dài từ miền Trung vào miền Nam. Đảng, Chính phủ đề ra chương trình phát triển
kinh tế tập trung. Ba vấn đề lớn cấn giải quyết là lương thực - thực phẩm - hàng tiêu dùng.
Hàng loạt nhà máy mới được đầu tư xây dựng như Sợi Hà Nội, Sợi Vinh, Sợi Huế, Sợi
Nha Trang, May Việt Tiến, May Nhà Bè, May Hữu Nghị…
Do quy mô phát triển khá lớn, nên dệt may đã đủ sức trở thành một ngành kinh tế mạnh
trong nền kinh tế quốc dân. Điều này dẫn tới một nhu cầu cần có một tổ chức đứng ra quản
lý chung, thay vì trực tiếp chịu sự giám sát của Bộ Công Nghiệp nhẹ. Xuất phát từ nhu cầu
đó, Chính phủ đã thành lập Liên hiệp các xí nghiệp dệt và Liên hiệp các xí nghiệp may.
Hai cơ quan này có nhiệm vụ quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp dệt và may.
Tới năm 1990, hai cơ quan trên sát nhập lại và lấy tên là Liên hiệp Sản xuất - Xuất nhập
khẩu dệt may. Đây là mô hình tổ chức quản lý đặc trưng cho cơ chế quản lý kế hoạch hoá
tập trung.
Sự phát triển trên thực sự là qua trình chuẩn bị rất tốt cho ngành dệt may Việt Nam. Giờ
đây, những doanh nghiệp như May 10, May Việt Tiến, May Nhà Bè, May Thăng Long,
Dệt 8 - 3… được coi là những tên tuổi lớn trong ngành dệt may Việt Nam đều được xây
dựng trong thời gian này. Nhờ đầu tư theo kế hoạch nên có sự phát triển tương đối cân
bằng giữa ngành may và ngành dệt.
Tuy nhiên, trong giai đoạn này vẫn còn những hạn chế do cơ chế chung của cả nền kinh tế.
Các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước giao, mà không có sự linh
động sáng tạo trong sản xuất, cũng như cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng. Điều đó
dẫn đến cần có những thay đổi nhận thức mới để tạo ra một thời kỳ chuyển biến mới.
1.2. Giai đoạn từ 1986 - 1997:
Nếu như giai đoạn trước 1986 là quá trình hình thành và định hình ngành công nghiệp dệt
may Việt Nam thì giai đoạn này chính là quá trình phát triển.
1.2.1. Tình hình kinh tế trong nước:
Trước năm 1990, do Việt Nam chỉ quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa nên phần lớn sản
phẩm dệt may được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang các nước Đông Âu. Khi thị
trường xã hội chủ nghĩa tại các nước Đông Âu sụp đổ, cũng như việc Việt Nam chuyển
nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường đã khiến
cho các doanh nghiệp (phần lớn là doanh nghiệp nhà nước) gặp không ít khó khăn. Họ vấp
phải những khó khăn về tổ chức sản xuất, về nguyên liệu đầu vào, cũng như tiêu thụ đầu
ra.
Quen với cơ chế làm ăn thời bao cấp, doanh nghiệp được cấp vốn, đầu vào có sẵn, sản xuất
theo chỉ tiêu kế hoạch được giao, đầu ra được bao tiêu toàn bộ, thì nay, phải hoạt động như
một chủ thể kinh tế hoàn toàn độc lập. Các doanh nghiệp bắt đầu lộ ra những nhược điểm:
quy mô sản xuất nhỏ, thiếu vốn hoạt động, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu, kỹ năng tổ chức sản
xuất thiếu khoa học
1.2.2. Tình hình sản xuất kinh doanh chung của ngành dệt may:
Theo Nghị định số 338/NĐ - CP của Chính phủ, các doanh nghiệp dệt may không thuộc
sự quản lý, điều hành của Liên hiệp Sản xuất - Xuất nhập khẩu dệt may nữa, mà chuyển
cho Bộ Công nghiệp. Các doanh nghiệp do đó phải tự hạch toán độc lập. Đây thực sự là
một thời điểm khó khăn cho ngành dệt may Việt Nam.
Thời kỳ này, nhiều doanh nghiệp do không thích ứng được với tình hình mới, nên kinh
doanh bị thua lỗ liên tục, đứng trên bờ vực phá sản. Để tự cứu mình nên các doanh nghiệp
hoạt động tách rời. Vì thế nên đã xuất hiện tư tưởng cục bộ mạnh ai nấy làm, cá lớn nuốt
cá bé. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau, phát triển kinh doanh một cách tự phát, dù
có những điểm tốt là dần tạo cho doanh nghiệp tính độc lập, tự thân vận động, cải tiến và
phát triển, nhưng cũng gây không ít những thiệt hại cho ngành dệt may Việt Nam khi
không có sự điều tiết, bất chấp hậu quả cho người khác cũng như cho toàn ngành.
Tình hình trên dẫn tới một nhu cầu tất yếu là phải có định hướng và quản lý chặt chẽ của
Nhà nước. Các doanh nghiệp cần có một tổ chức liên kết để liên kết sức mạnh riêng tạo
nên sức mạnh tổng hợp chung của toàn ngành.
Từ nhu cầu đó, Chính phủ đã thành lập Tổng công ty Dệt may Việt Nam, tên giao dịch
quốc tế là Vietnam National Textile and Garment Corporation, viết tắt là VINATEX, trên
cơ sở Nghị định 91/NĐ - CP. VINATEX hoạt động như một pháp nhân độc lập và trực
thuộc Bộ Công nghiệp.
VINATEX có cơ cấu tổ chức, hoạt động theo phương thức tập đoàn kinh tế, nhằm tập hợp
các doanh nghiệp, tập trung vốn, tổ chức phân công chuyên môn hoá hòng tạo nên sức
mạnh tổng hợp và sức cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế. Việc thành lập VINATEX đã
tạo điều kiện cho dệt may Việt Nam phát triển đóng góp hơn nữa cho nền kinh tế quốc dân.
Ngày nay, khi nói đến sự thành công của ngành dệt may Việt Nam không thể không nói
đến VINATEX. Xin sơ lược một số nét về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tổng công ty
này.
1.2.2.1. Cơ cấu tổ chức của VINATEX:
VINATEX gồm 55 thành viên với 45 doanh nghiệp, 2 Viện nghiên cứu Kinh tế, Kỹ thuật,
Thiết kế Thời trang, 3 trường đào tạo công nhân, 4 công ty cơ khí và 1 công ty tài chính.
Các thành viên của Tổng công ty có quan hệ chặt chẽ về sản xuất, kinh tế, tài chính, công
nghệ, thông tin, đào tạo, vv… Cơ cấu đó nhằm tạo sự đồng bộ trong toàn ngành từ đầu tư,
cung cấp nguyên vật liệu tới tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và xuất khẩu.
Đồng thời, VINATEX cũng là một tổ chức liên kết các doanh nghiệp trong nước với nước
ngoài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc, ứng dụng khoa học công
nghệ, tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh và đào tạo nhân viên quản lý, công nhân
sản xuất.
1.2.2.2. Sản xuất kinh doanh:
Tổng công ty Dệt may Việt Nam được thành lập là bước ngoặt đáng chú ý, nó đánh dấu
một thời kỳ phát triển nhảy vọt chung của cả ngành dệt may Việt Nam. Mức đầu tư vào
công nghệ cùng với việc giảm bớt lao động dư thừa phản ánh cam kết của ngành tới công
tác cải tiến chất lượng liên tục. (Continuous Quality Improvement – CQI), đặc biệt là hiện
đại hoá, tăng năng suất và đẩy mạnh công tác marketing. Công việc nghiên cứu, triển khai
ứng dụng (R&D) rất được chú trọng. Kết quả đến nay cho thấy Tổng công ty Dệt may Việt
Nam vẫn là một trong những đơn vị hoạt động có hiệu quả nhất trong các Tổng công ty 90,
91 khác. Các chỉ tiêu ké hoạch đề ra của Tổng công ty đèu đạt và vượt. Tích cực đổi mới,
tăng cường tập đầu tư vào những lĩnh vực xương sống là phương châm đề ra của
VINATEX. Ta có thể thấy rõ điều này qua bảng về kết quả hoạt động kinh doanh trong
thời gian 1993- 1997:
Bảng 7: Kết quả thực hiện chỉ tiêu của VINATEX giai đoạn 1993 - 1997
Chỉ tiêu Đơn vị 1993 1994 1995 1996 1997
Giá trị tổng sản lượng Tỷ đồng 1.445 2.488 2.964,5 3.283,6 3.653
Tổng doanh thu Tỷ đồng 2.692 3.500 4.566,9 4.593 5.283
Kim ngạch xuất khẩu Triệu USD 111,9 138 350 395,4 474,7
Kim ngạch nhập khẩu Triệu USD 121 180,6 347 407,5 417,8
Sợi các loại 1.000 tấn 7,6 43,5 51,2 56,9 59
Vải lụa thành phẩm Triệu mét 109,2 104 124,4 127,8 140
Quần áo dệt kim Triệu sản
phẩm
20,1 15,5 22,1 23 25
Quần áo may sẵn Triệu sản
phẩm
25.5 30,9 33,3 35,1 41,3
Nguồn: Báo cáo tổng kết – Ban kế hoạch đầu tư (VINATEX).
Qua bảng trên cho thấy Tổng Công ty Dệt may Việt Nam có tốc độ phát triển khá cao. Sản
lượng tăng 10% đến 19%, doanh thu tăng từ 15% tới 30%, kim ngạch xuất khẩu tăng từ
13% tới 24%, có năm lên tới 154%. Số liệu về tốc độ phát triển có thể tổng hợp theo bảng
sau:
Bảng 8: Tốc độ phát triển của VINATEX gia đoạn 1993 - 1997
Chỉ tiêu
1994 1995 1996 1997
Tổng sản lượng
72% 19% 11% 11%
Tổng doanh thu
30% 30% 01% 15%
Kim ngạch xuất khẩu
24% 154% 13% 20%
Kim ngạch nhập khẩu
49% 93% 17% 20%
Nếu lấy năm 1993 làm định gốc, thì năm 1997 Tổng Công ty Dệt may Việt Nam có sản
lượng tăng gấp 2,5 lần, tổng doanh thu tăng gấp 2,1 lần, kim ngạch xuất khẩu tăng 4,4 lần,
kim ngạch nhập khẩu tăng 4 lần. Để thấy rõ tốc độ phát triển, ta xem xét biểu đồ 2.
Biểu đồ 2: Tốc độ phát triển của VINATEX giai đoạn 1993 - 1997
Qua biểu đồ, ta thấy tốc độ tăng của kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh hơn rất nhiều so
với tốc độ tăng trưởng của giá trị sản lượng và tổng doanh thu. Điều này cho thấy Tổng
Công ty đang cố gắng lấy bộ phận xuất khẩu làm trung tâm trong hoạt động kinh doanh
của mình.
Trong giai đoạn này, còn có những điểm đáng chú ý khác nữa là chính sách vĩ mô của Nhà
nước và Chính phủ đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành dệt may Việt Nam nói
riêng:
- Luật đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và Việt Nam ra nước ngoài được ban hành là điều
kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế. Chính phủ đã có những chính sách khuyến khích đầu
tư nước ngoài đã khiến cho ngành dệt may thu hút được một lượng vốn lớn. Hình thức đầu
tư chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI), theo mô hình liên doanh. Yếu tố trên tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp dệt may có cơ hội tiếp cận với công nghệ tiên tiến, hiện đại, phương thức
quản lý kinh doanh mới. Ngành dệt may được đổi mới về cả chất và lượng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét