ứng cả các yêu cầu về thẩm mỹ của con người. Là một phần nhỏ trong lĩnh vực mỹ
thuật công nghiệp nên mang trong mình tất cả các yếu tố chi phối chung của
nghành mỹ thuật công nghiệp.
Ngày nay xã hội ngày càng văn minhđòi hỏi trang phục ngoài giá trị có tính sử
dụng cao, tính đa dạng, còn phải đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ của con người. Nhu
cầu này còn phụ thuộc vào tập tục, thói quen trong sinh hoạt, văn hoá của con người,
phụ thuộc vào thiên nhiên khí hậu của từng vùng. Nhu cầu về trang phục đôi khi phụ
thuộc rất nhiều vào Mốt. Mốt được hiểu là thị hiếu thẩm mỹ mới nhất đang được ưa
chuộngthịnh hành ở hiện tại. mốt cũng có thể tạo nên những xu hướng phát triển tiếp
theo của thời trang. Từ các mẫu mốt phát triển thành các ứng dụng khácđi vào đời
sống và trở thành thời trang đời thường.
Việc nghiên cứu thị trường, phản ánh đúng nhu cầu thị trường nhằm thoả
mãn nhu cầu tiêu dùngttg là rất quan trọng. Ngoài ra nó còn giúp các nhà thiết kế
có được những ý tưởng, những cải tiến về mẫu thời trang thông qua quá trình sử
dụng của người tiêu dùng.
Vật liệu quyết định đến sự thành công của sản phẩm song nó phụ thuộc vào
kiểu dáng, tính năng của sản phẩm, mục đích và môi trường sử dụng sản phẩm.
Vật liệu sản phẩm quyết định trực tiếp đến giá thành sản phẩm cho nên nếu các
nhà sản xuất lựa chọ được các loại vật liệu nội địa, có săn trong nước, sẽ giảm chi
phí đi rất nhiều. Trên thực tế Việt Nam là nước có truyền thống trồng dâu nuôi
tằm, sợi tơ tằm khá phổ biến. Các nhà sản xuất trong nước đã biết khai thác thế
mạnh này, họ đã biết kết hợp loại sợi tự nhiên với sợi tổng hợp tạo nên một loại
sợi vải tổng hợp có chất lượng tốt, giá cả phải chăng. tuy nhiên trong công nghệ
dệt may, các nhà xản suất còn cần phải nghiên cứu, phân loại, tính định mứctiêu
hao nhiên liệu so cho hiệu quả nhất nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Trong những thời gian trước đây, nghành công nghiệp dệt may chưa phát
triển, loại hình phổ biến là may đo. Do tính đơn lẻ, tự phát tính ngẫu hứng cá nhân
cao nên các thông số kỹ thuật sản phẩm được thiết kế theo sở thích của mỗi người.
Hiện nay công nghệ dệt may đã phất triển mạnh mẽ, nghề dệt may đã phát triển
theo công nghiệp hoá. Thời kỳ đầu, công nghệ dệt may đã phát triển ở các nước
tiên tiến như: Anh, Pháp, Italia… vì những nước này có nghành công nghiệp phát
triển mạnh theo hướng công nghiệp hoá, khoa học kỹ thuật đạt đến trình độ cao,
họ đã tìm ra được nhiều loại vật liệu mới cùng với công nghệ dệt nhuộm khá hoàn
chỉnh. Tuy nhiên trong những năm gần đây, xu hướng của ngành may mặc công
nghiệp đang chuyển sang các nước vùng Châu Á, đặc biệt là các nước có nền kinh
tế chậm phát triển, trong đó có Việt Nam.
Nghành thời trang đã đóng góp rất nhiều cho đời sống xã hội, nó không
những đem lại những tiện ích như: bảo vệ làn da, bảo vệ sức khoẻ cong người mà
còn đóng vai trò nâng cao thẩm mỹ của người sử dụng, làm cho xã hội ngày càng
văn minh hơn. Với sự phát triển của khoa học công nghệ như hiện nay, các nhà
thiết kế thời trang đã nghiên cứu ra các loại vật liệu may quần áo thông minh có
thể thay đổi màu sắc quần áo theo nhiệt độ, ánh sáng… Ngành thời trang mang
tính nghệ thuật thiết thực kết hợp với công nghệ hiện đại trong tương lai sẽ phát
triển mạnh mẽ, mang đến cho con người vẻ đẹp ngày càng hoàn hảo.
2. CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THIẾT KẾ THỜI TRANG.
2.1. Khái niệm về thời trang - mốt
Trang phục Việt Nam có một quá trình hình thành và phát triển lâu đời. Cùng
với sự biết thiên của lịch sử, với sự giao lưu, tiếp xúc, văn hoá trang phục đã biến
đổi rất nhiều về màu và thời trang.
Mốt có thể nói là “ Hơi thở của cuộc sống “ trong một thời kỳ, Mốt vẫn là
nhu cầu của con người. Mốt gắn liền với cuộc sống của xã hội. Mốt được thể hiện
rõ qua trang phục, tính cách của mỗi nhân vật. Mốt gắn liền với từng cá nhân, thể
hiện từng tính cách, trình độ văn hoá của từng người. Vòng xoáy của Mốt thay đổi
từ đời này qua đời khác rồi du nhập, sao chép và cải biên rồi biến thiên vạn hoá và
đời thường.
Mỗi một thời kỳ, Mốt lại được thể hiện một cách khác nhau do quan niệm xã
hội và mức sống của người dân, Nhưng nhìn chung, Mốt vẫn luôn gắn liền với
cuộc sống, đi vào ngõ ngách của cuộc đời, mang lại các giá trị tinh thần và vật
chât. Mốt chính là một thứ giá trị nghệ thuật cao được chắt lọc từ cuộc sống để
mỗi người tự tìm tòi, ứng dụng cho mình.
2.2. Tính chất của thời trang
Cũng như ăn uống, mặc là một loại hình văn hóa của con người. Văn hóa
mặc hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả quần áo, giầy dép, đầu tóc, mũ nón và đồ
trang sức. Sở dĩ mặc trở thành hiện tượng văn hóa vì nó là một trong những dẫn
chứng cho thấy con người đã tách khỏi giới động vật. Con người đã biết cách ứng
phó với thời tiết, có ý thức về bản thân, tách mình khỏi giới tự nhiên, phân biệt
mình với người khác, có lòng tự trọng, có sự e thẹn trước người khác giới. Cùng
với sự phát triển của lịch sử, con người càng ngày càng làm cho quần áo của mình
có ích hơn, tiện ích hơn, khoa học hơn. Không những thế, quần áo còn thể hiện
phẩm chất đạo đức, địa vị xã hội, đặc điểm nghề nghiệp; chúng ngày cành đẹp hơn
và làm cho con người đẹp hơn. Như vậy, mặc thể hiện : chân, thiện, mỹ, hội đủ cả
ba cá tính: tính khoa học, tính đạo đức, tính thẩm mỹ.
Văn hóa mặc thể hiện rõ lối sống văn hóa của một dân tộc, của một thời đại.
Một con người, được quy định bởi các quan niệm triết học, đạo đức, tính thẩm mỹ
bởi phong tục tập quán, bởi các thị hiếu khác nhau. Qua trang phục có thể đánh giá
con người về nhiều mặt, về mức độ giàu nghèo, về địa vị xã hội cao, thấp, về tư
cách đạo đức, về thị hiếu thẩm mỹ… ông bà chúng ta thường nói:
Hơn nhau cái áo cái quần
Thả ra mình trần ai cũng như ai
Trong xã hội trước đây, người ta thường nhấn mạnh một chức năng nào đó
của quần áo, ví dụ thời phong kiến nhấn mạnh vai trò thể hiện đạo đức người mặc
hoặc địa vị xã hội của người mặc hoặc địa vị xã hội của họ.
Trong xã hội có công bằng, dân chủ, văn minh, quần áo và trang sức có
chức năng tôn vinh con người, thể hiện sự phát triển toàn diện của nhân cách: trí,
đức, mỹ, thể. Qua y phục số đông cũng có thể xác định trình độ dân chủ của một
xã hội, trình độ tự do của một cá nhân, sự tôn trọng cá tính của một con người.
Hoạt động thời trang (sáng tạo, biểu diễn, phổ cập mẫu mới) là biểu hiện
nhạy cảm, tinh tế, có hiệu quả xã hội cao của văn hóa mặc. Nó chủ yếu là sản
phẩm của văn minh đô thị, của xã hội công nghiệp. Thời trang vừa có tính nghệ
thuật, vừa có tính thực dụng, vừa là hoạt động văn hóa và cũng là hoạt động kinh
tế. Ngày nay, đã xuất hiện nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động thời trang: chất
liệu phong phú, mẫu mã đa dạng, nhu cầu về thời trang nhất là giới trẻ ngày càng
tăng, ngày càng đổi mới để phù hợp với nhịp sống năng động của văn minh đô thị,
của xã hội hiện đại, loại hình thời trang cũng nhiều hình, nhiều vẻ: thời trang công
sở, dạ hội, du lịch, thể thao… thay đổi theo mùa, theo thời tiết và thể hiện đặc
trưng của giới tính, của lứa tuổi…
Thời trang còn mang tính cập nhật, do đó luôn phải đổi mới, luôn sáng tạo.
Một thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn sẽ giúp cho công chúng phân biệt được cái mới
chân chính – tức cái đẹp – với cái mới. Thời trang luôn cần đến sự sáng tạo, tính
đa dạng.
Thời trang còn mang tính nổi bật, đây là một ưu điểm của thời trang để nêu
lên được vẻ đẹp đặc trưng cho giới tính, nam có cái đẹp của nam, nữ có cái đẹp
của nữ.
Vẫn biết rằng quần áo, trang sức, mũ nón, giày dép có vẻ đẹp riêng xong
chức năng chính của chúng là tôn vinh con người, làm đẹp cho con người, đem lại
sự tiện lợi cho cuộc sống của con người, giúp cho con người hoàn thiện nhân cách,
phát triển cá tính.
Thời trang còn mang tính thời sự mới lạ, cái mới, cái lạ là đặc tính cơ bản
nhất của thời trang. Một kiểu thời trang nào đó muón trở thành xu hướng thời
trang phải mang tính thời sự, nghĩa là phải mới hơn các kiểu dáng đang thịnh
hành, phải lạ hơn để thu hút sự chú ý của mọi người. Tuy nhiên, vào bất kỳ thời
điểm nao, xu hướng thời trang luôn phát triển xen cài lẫn nhau, xu hướng thời
trang mới luôn xuất hiện nối tiếp với thực tế thời trang cũ.
Thời trang còn mang tính chu kỳ, tính chu kỳ thể hiện sự gia tăng dần lên,
ổn định trông thấy và rồi lại suy thái đột ngột, nhường chỗ cho một sản phẩm, một
sêri các trang phục với những phong cách, chất liệu kiểu dáng mới.
Trang phục bộc lộ và phát huy vẻ đẹp của con người, làm giảm thiểu sự
khiếm khuyết của cơ thể. Ngược lại, vẻ đẹp của con người, trình độ văn hóa, cách
ứng xử, phong thái, cử chỉ, dáng dấp của con người cũng làm tôn thêm vẻ đẹp của
trang phục. Sự hài hòa giữa trang phục và con người chính là mục đích của văn
hóa mặc, của thời trang.
Để đạt được hiệu quả xã hội, thời trang cần được phổ biến và nhiều mẫu
thời trang đã đưa vào cuộc sống. Tuy nhiên, để có sự tiến bộ trong thời trang, rất
cần tổ chức những cuộc trình diễn có tính nghệ thuật tổng hợp.
CHƯƠNG II
THỜI TRANG VIỆT NAM VÀ CẢM HỨNG SÁNG TÁC
1. QUAN NIỆM VỀ MẶC CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Thời trang Việt, dù phát triển, hiện đại đến đâu trong thế kỷ XXI, về cơ bản
vẫn mang gốc tích vủa văn hoá nông nghiệp cổ truyền, với những hằng số địa lý –
khí hậu đặc thù của cư dân trồng lúa nước, mặc dù cư dân này đang phải nỗ lực
tiến hoá, với những mục tiêu mới: công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá.
Người Việt Nam quan niệm về mặc trước hết là một quan niệm rất thiết
thực. Ăn lấy chắc mặc lấy bền và cơm ba bát áo ba manh, đói không xanh, rét
không chết. Người Việt Nam rất coi trọng đến ăn mặc, nó giúp con người ứng phó
được với cái rét, nóng, mưa, gió,…
Tuy nhiên, xứ Việt Nam bên bờ biển Đông, đã tự nhiên thành vị trí giao điểm
(ngã tư đường) của các nền văn hoá văn minh, mà văn hoá mặc của người Việt cũng
đã tiếp nhận và tiếp biến văn hoá mặc từ các nước phương Tây, cũng như một ứng xử
tất yếu. Song, người Việt truyền thống cũng không chỉ dừng lại ở quan niệm thiết
thực, chỉ thuần tuý muốn mặc để lấy bền. Người nông dân Việt, vào những dịp nghỉ
Xuân Thu nhị kỳ, vẫn chủ trương ăn lấy ngon mặc lấy đẹp:
Người đẹp vì lụa
Chân tốt vì hài
Tai tốt vì hoa
Nông dân Việt vẫn biết rằng mặc còn là để thăng hoa cái đẹp của thân thể,
để làm duyên, thậm chí, có thể làm…ốm người nữa (!?)
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm đỏ bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu
Và đúng hơn cả, mặc còn là để che dấu khéo léo những nhược điểm về hình
thể vốn không dễ khắc phục, có thể vì cha mẹ sinh ra không được xinh giòn, có thể
cái già xồng xộc đã đến lúc mình chưa muốn già.Vậy thì, phải dùng đến nghệ thuật
mặc để cái tốt phô ra, xấu xa đậy lại:
Cau già khéo bổ thì non
Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa
Nhưng mặc, không chỉ là quan niệm và cung cách chung chung mà còn là sự
lựa chọn chất liệu. Người Việt đã phát huy cao độ cái sở trường trong việc tận
dụng các chất liệu có nguồn gốc thực vật, vốn là sản phẩm của nghề trồng trọt, để
làm chất liệu may mặc cơ bản. Thật hữu lý, vì đầy là những chất liệu phù hợp hoàn
toàn với xứ nóng, ngay từ thuở tiền sử, người Việt đã biết sử dụng tơ tằm, tơ
chuối, tơ đay, sợi bông…trong may mặc.
Các nhà khảo cổ học Việt Nam đã có công tìm thấy ở Bàu Tró (cách nay
khoảng 5000 năm) những di chỉ khảo cổ mang dấu vết của vải, có dọi xe chỉ bằng
đất nung. Cùng với nghề trồng lúa, nghề tằm tang (trồng dâu nuôi tằm, quay tơ,
dệt cửi) đã có từ rất sớm, và các loại “ biến thể” của tơ tằm cùng đã được sử dụng
từ rất sớm: nào là tơ, lụa, gấm, vóc, lượt, là, đũi, nái, đoạn, the, lĩnh, sồi, thao, vân,
địa, gấm, vóc…
Vải tơ chuối cũng là một loại đặc hiệu của Việt Nam, được người Trung
Quốc ngày xưa đăc biệt thích dùng, đặt tên là Giao Chỉ, với nhận xét: Vải dễ rách
nhưng đẹp, màu vàng nhạt, hay là: Loại vải này mịn như lượt là, mặc vào mừa nực
thì hợp lắm…
2. TRANG PHỤC QUA CÁC THỜI ĐẠI
Trang phục xưa của người Việt tuân thủ rất linh hoạt hai yếu tố khách
quan: công việc trồng lúa nước và khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt ở Việt
Nam. Và phân định rõ sự khác nhau về mục đích, người Việt có trang phục
đi làm và trang phục lễ hội; về chủng loại: có đồ mặc phía trên, đồ mặc phía
dưới, về giới tính: có trang phục dành riêng cho nam và cho nữ…
2.1. Đồ mặc ở phía trên
Đồ mặc phía trên của phụ nữ ổn định nhất qua các thời đại là chiếc yếm.
Yếm là đồ đặc thù của người Việt, thường do phụ nữ tự cắt – may – nhuộm lấy.
Yếm có nhiều màu phong phú: Yếm màu nâu để mặc đi làm thường ngày ở nông
thôn, yếm trắng mặc thường ngày ở thành thị, yếm hồng, yếm đào, yếm thắm…
dùng vào những ngày lễ hội. Yếm dùng để che ngực cho nên trở thành biểu tượng
của phụ nữ.
Ước gì sông rộng một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi
Để ứng phó với khí hậu nóng bức, phụ nữ khi làm lụng nhất là trong bóng
râm vẫn thường mặc váy – yếm với hai tay và lưng để trần. Đàn ông khi lao động
thường để trần. Các thành ngữ “váy vận yếm mang (đối với phụ nữ) và cởi trần
đóng khố (đối với nam) miêu tả rất chính xác trang phục tự nhiên này dần dần trở
thành một quan niệm về cái đẹp của người Việt Nam cổ truyền.
Đàn ông đóng khố đuôi tôm
Đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh
Khi lao động và trong những hoạt động bình thường nam nữ cũng thường
mặc áo ngắn có hai túi phía dưới, có thể xẻ tà hai bên hông hoặc bít tà; ngoài Bắc
gọi là áo cánh, trong Nam gọi là áo bà ba. Áo có đính cúc vừa để cho mát, vừa để
hở yếm trắng làm duyên.
Dịp lễ hội phụ nữ thường mặc áo dài từ thế kỷ XIX đến 1945 ở miền Trung
và Nam cũng như một số vùng miền Bắc, người ta mặc áo dài thường xuyên kể cả
khi lao động nặng nhọc. Áo dài phụ nữ phân biệt áo tứ thân và năm thân. Áo tứ
thân cũng ghép như áo tứ thân chỉ có điều vạt phía trước may ghép từ hai thân vải
thành ra rộng gấp đôi vạt vải, để bên ngoài gọi là vạt cổ, đè lên vạt vải bên trong
gọi là vạt con.
Dịp hội hè, phụ nữ xưa nay hay mặc áo mối mớ ba, mớ bảy, tức là mặc
nhiều áo cánh lồng vào nhau. Ở Nam Bộ, nơi khí hậu nóng quanh năm “áo mở”
được thay bằng áo cạp.
Về màu sắc, màu ưu thích là màu âm tính phù hợp với phong cách truyền
thống ưa tế nhị, kín đáo: ở miền Bắc là màu nâu, màu gụ của đất; ở Nam Bộ màu
đen, màu của bùn, người xứ Huế thì ưa màu tím trang nhã phù hợp với phong cách
đế đô. Trong lễ hội, phụ nữ mặc áo dài màu thâm hoặc nâu…ở ngoài lấp ló bên
trong mới là cái lớp áo cánh nhiều màu dương tính hơn (vàng mỡ gà, vàng chanh,
hồng cánh sen, hồng đào, xanh hồ thuỷ…). Mấy chục năm gần đây, do ảnh hưởng
của phương Tây, màu sắc trang phục đã trở nên đa dạng hơn. Tuy nhiên trong
quan niệm thì màu hồng, màu đỏ vẫn là của sự tốt đẹp, màu “ đại cát”. Ở nông
thôn hiện nay, khi làm lễ cưới trước giờ gia tiên, chú rể có thể mặc âu phục, còn
cô dâu vẫn mặc áo dài màu đỏ hoặc hồng chứ không mặc áo dài màu trắng là màu
truyền thống Việt Nam cho là màu tang tóc.
Do ảnh hưởng của phương Tây, từ những năm 30 của thế kỷ này, chiếc áo
dài cổ truyền được cải tiến dần thành chiếc áo tân thời. Nó kết hợp được một cách
xuất sắc truyền thống dân tộc với ảnh hưởng phương Tây. Bên cạnh những cải tiến
đáng kể theo hướng tăng cường phô trương cái đẹp có thể một cách trực tiếp theo
kiểu phương Tây như đa dạng hoá màu sắc, áo được thu gọn cho ôm sát thân, làm
nổi ngực, bó eo hơn, bỏ áo cánh, yếm xẻ tà áo hai bên sườn cao hơn cho hở
sườn…thì áo dài tân thời lại cũng đồng thời kế tục và phát triển cao để phong cách
tế nhị, kín đáo cổ truyền.
Trong khi áo tứ thân cổ truyền buông hai vạt trước phấp phới thì áo dài tứ
thân ghép chúng thành một vạt kín đáo hơn; trong khi áo tứ thân cổ truyền để hở
ngực yếm, hở cổ thì áo dài tân thời có cổ cao…Nhờ vậy áo dài tân thời khiến cho
phụ nữ mặc nó nhìn chung và nhìn từ phía trước hết sức kín đáo đoan trang mà
cũng không kém phần quyễn rũ, còn nếu nhìn nghiêng từ bên hông thì hết sức
quyễn rũ lên gấp bội. Chính sự khêu gợi một cách tế nhị kín đáo đã đáp ứng được
yêu cầu thời đại, lại vừa duy trì được bản sắc dân tộc khiến cho chỉ trong một thời
gian ngắn áo dài tân thời đã được phổ biến rộng rãi ở các địa phương Hà Nội, Sài
Gòn, Huế và trở thành biểu tượng cho y phục truyền thống Việt Nam.
Nhưng sang đầu thế kỷ XX, với sự hình thành một cuộc sống đô thị kiểu
mới, người phụ nữ Bắc ở thành thị tỏ ra không còn thích chiếc áo tứ thân và chiếc
váy đen nữa. Chiếc áo dài phụ nữ Huế, Sài Gòn đã chinh phục phụ nữ Hà Nội.
Cùng với ái dài Huế, chiếc nón Huế chóp nhọn cũng được nhập vào miền Bắc,
không những ở thành thị mà còn ở nông thôn, vì nó tỏ ra nhẹ nhàng duyên dáng
hơn.
Từ chiếc áo màu thẫm và quần đen, năm 1920 phụ nữ Hà Nội đã thay bằng
những chiếc áo màu xanh tươi mát cộng thêm chiếc khăn san mềm mại. Tuy
nhiên, đến đầu năm 30, chiếc áo rộng che phủ hết mọi đường nét duyên dáng của
cơ thể không còn thích hợp với một lớp phụ nữ mới, ngày càng ham thích thể thao
với những phong trào đi bộ, đi xe đạp và dấn thân vào các hoạt động xã hội. Trên
báo chí đã có những bài nói về “bộ ngực đàn bà”, coi đấy là một nét đẹp cần phô
bày chứ tại saơ lại cứ phải dấu đi! Rồi khi chiếc quần đen chuyển thành chiếc quần
trắng thì quả là “ một cuộc cách mạng ghê gớm” như một bài báo thời đó đã viết.
Nhưng như thế chưa đủ, vào năm 1930 một hoạ sĩ tốt nghiệp Trường cao
đẳng Mỹ thuật Đông Dương là Nguyễn Cát Tường đã có sáng kiến đưa ra một
kiểu áo cải tiến nhằm làm nổi lên những đường cong hấp dẫn trên cơ thể phụ nữ.
Chiếc áo được may bó sát người khiến cho thân hình như cao hơn mảnh mai hơn.
Chiếc quần lĩnh bưởi thịnh hành ở giới thượng lưu đã đượng thay thế bằng chiếc
quần lụa hay sa tanh trắng, may hơi bó sát mông và đùi để mở rộng từ đầu gối
xuống, làm cho đôi chân như dài hơn trên đôi dép cao gót.
Chiếc áo dài Cát Tường giới thiệu trên báo Ngày nay và Phong hoá đã
nhanh chóng truyền đi khắp nước, được phụ nữ miền Trung và miền Nam nhiệt
liệt hưởng ứng, mà đầu tiên là những cô tiểu thư các trường nữ học. Một số hoạ sĩ
khác như Lê Phổ cũng có những đóng góp về chi tiết khiến chiếc áo dài thêm
hoàn thiện. Lúc đầu các hoạ sĩ đưa ra nhiều kiểu cổ áo như: cổ bánh bẻ, cổ lưỡi
dao, cổ viền, tay áo hẹp nhưng cổ tay lại xoè cánh sen…nhưng dần dần cái giản dị
đã chiến thắng, bước sang những năm 40, chỉ còn một kiểu cổ duy nhất là cổ
đứng. Nó chỉ còn thay đổi khi thì lên cao gần sát mang tai, gần giống kiểu áo
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét