Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Điều tra tỷ lệ mắc bệnh BCC (máu trắng) ở các bệnh nhân điều trị tại khoa A7 Viện 103 từ tháng 1/ 2007 – tháng 1/ 2008

- M6 : BCC cấp dũng hồng cầu - bệnh lý xảy ra ở tế bào progenitor đầu
dũng hồng cầu.
- M7 : BCC cấp dũng mẫu tiểu cầu - bệnh lý xảy ra ở tế bào progenitor
đầu dũng tiểu cầu[8].







Hỡnh 2.Hỡnh thỏi đột biến của bạch cầu cấp dũng tủy
BCC thể chưa biệt hố : Đây có thể là BCC tế bào gốc (pluripotential
stem cells), tế bồ này chưa biệt hố, bị đột biến trở thành [2].
1.2. NGUYấN NHÂN GÂY BỆNH BẠCH CẦU CẤP
Tỷ lệ mắc bệnh BCC ở Việt Nam vẫn chưa được xác định. Theo các thống
kê tại bệnh viện Bạch Mai thỡ bệnh BCC chiếm 21% cỏc bệnh mỏu vào thời kỳ
1979 - 1984, 39,2% năm 1997 trong đó dũng tuỷ chiếm 64,3% và dũng lympho
chiếm 25 %.
Tại Mỹ, BCC cấp dũng tuỷ chiếm tỷ lệ khoảng 1,2% cỏc bệnh ung thư.
Tỷ lệ này tăng cùng với tuổi và tương đối ổn định từ những năm 1960.

Tế bào đơn
nhõn của BC
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Hiện nay, ngun nhân gây bệnh BCCcấp vẫn chưa được xác định một
cách chính xác. Yếu tố di truyền, thuốc, yếu tố mơi trường, vi-rút được đề cập
đến như là những yếu tố nguy cơ gây bệnh [8].
1.2.1. Yếu tố di truyền
1.2.1.1. Yếu tố gia đỡnh:
Cú rất nhiều thụng bỏo về tỡnh trạng mắc bệnh BCC ở cỏc thành viờn
trong một gia đỡnh. Khả năng mắc bệnh tăng gấp 3 lần ở những đứa con có
những bố mẹ mắc bệnh BCC. Trong hai trẻ sinh đơi cùng trứng, nếu một trẻ mắc
bệnh thỡ khả năng mắc bệnh của trẻ thứ hai là 25%, thường trẻ em dưới 2 tuổi,
liên tiếp trong cùng một năm và thường cùng một loại bệnh BCC. Khả năng mắc
bệnh BCC ở những trẻ do các bà mẹ lớn tuổi sinh ra cũng cao hơn so với bỡnh
thường[8].
1.2.1.2. Bệnh di truyền:
Tỷ lệ mắc bệnh BCC trong nhóm các bệnh nhân có bệnh di truyền như
Down, Klinefelter, Fanconi cao hơn so với nhúm khụng cú cỏc bệnh di truyền.
Tỷ lệ mắc bệnh BCC của quần thể bệnh nhõn Down cao gấp 10 lần so với quần
thể khụng mắc HC Down. Trong số cỏc trẻ em BCC cú hội chứng Down, trẻ bị
BCC cao gấp 20 lần so với nhúm khỏc. Theo một số tỏc giả, thỡ sự phỏt triển
của bệnh BCC ở những người mắc bệnh lý di truyền là cả một quỏ trỡnh gồm
nhiều giai đoạn. Những biến loạn gen làm cho các NST trở nên kém bền vững
và dễ dẫn đến những biến loạn thứ phát [2].
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Hỡnh 3:Cặp song sinh mắc bệnh bcc chứa “ tế bào gốc tiền bc”
chuyển cho nhau trong tử cung mẹ .
1.2.2. Yếu tố mơi trường
Sự tiếp xúc với tia xạ ion hố và một số chất hố học cũng liên quan đến
sự phát triển của bệnh BCC [2].
Tỷ lệ mắc bệnh BCC trong nhúm những nạn nhõn sống sút sau vụ nổ bom
hạt nhõn tại Hirosima và Nagazaki năm 1945 cao gấp 20 lần so với nhóm đối
chứng. Thời gian tiềm tàng từ lúc xẩy ra vụ nổ bom đến khi xuất hiện bệnh là từ
5 đến 21 năm mà đỉnh điểm là khoảng năm thứ 6 - 7. Nguy cơ phát triển bệnh
liên quan chặt chẽ với tuổi của người bệnh lúc vụ nổ xảy ra (cao nhất ở người <
10 và >50) và cường độ tiếp xúc. Tiếp xúc với cường độ trung bỡnh cũng cú
liờn quan đến sự phát triển của bệnh. Nhóm những trẻ em sống gần những nhà
máy điện ngun tử có tỷ lệ mắc bệnh BCC cao hơn so với các nhóm trẻ khác.
Qua một số cụng trỡnh nghiờn cứu, cỏc tỏc giả cũng nhận thấy rằng việc sử
dụng tia xạ trong điều trị một số bệnh lành tính như viêm khớp dạng thấp, viêm
cột sống dính khớp, u tuyến giáp cũng có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện bệnh
BCC [12].
Việc sử dụng thường xun các chất hố học như benzen, thorotrast,
thuốc trừ sâu, thuốc điều trị ung thư làm cho nguy cơ xuất hiện BCC tăng cao.
Tỷ lệ mắc bệnh BCC của cơng nhân các ngành như cao su, thuộc da thường
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
xun tiếp xúc với benzen cao hơn hẳn so với cơng nhân các ngành nghề khác.
Trong các thuốc chống ung thư thỡ cỏc thuốc thuộc nhúm ankylan, nitrosourea,
procarbazine là những thuốc cú khả năng gây BCC thứ phát cao. Việc kết hợp
điều trị hố chất với điều trị tia xạ làm cho nguy cơ mắc bệnh BCC tăng cao một
cỏch rừ rệt.
Hiện nay, tỷ lệ mắc bệnh BCC liên quan đến điều trị hố chất chiếm 10 -
15% tổng số bệnh nhân BCC. Bệnh BCC thứ phát liên quan đến điều trị hố
chất thường đi sau một tỡnh trạng rối loạn sinh tuỷ và cú những biểu hiện lõm
sàng khỏc với BCC nguyờn phỏt [2].
Cho đến nay thỡ cỏc nhà huyết học trờn thế giới chưa tỡm ra được một
bằng chứng nào xác nhận mối liên quan trực tiếp giữa bệnh BCC và viruts. Một
số cơng trỡnh nghiờn cứu thực nghiệm đó cú thể gõy ra bệnh BCC trờn động vật
bằng virut RNA thuộc nhóm retrovirus (sao chép ngược). Tuy nhiên hiện nay
cũng đó cú những bằng chứng xỏc nhận mối liờn quan giỏn tiếp giữa BCC và
virut giữa HTLV1 (human T cell BCC virus 1)là một virut BCC nhận tỏc nhõn
tỏc động trực tiếp vào tế bào tuỷ và bệnh BCC lympho tế bào T, giữa virỳt
Epstein - Barr và LXMc thể L3.
1.3. CƠ CHẾ GÂY BỆNH
Cơ chế gây bệnh của bệnh BCC hiện nay vẫn chưa được xác định rừ. Đa
số các tác giả trên thế giới đều cho rằng sinh bệnh học của BCC gắn liền với
những biến loạn nhiễm sắc thể kiểu biến đoạn hoặc chuyển đoạn. Các biến loạn
nhiễm sắc thể này dẫn đến rối loạn trong q trỡnh tổng hợp cỏc protein tham
gia vào quỏ trỡnh phỏt triển và trưởng thành của các tế bào tạo máu, dẫn đến ức
chế các q trỡnh này và gõy ra bệnh. Nguyờn nhõn xõu xa của những biến loạn
này chính là các yếu tố nguy cơ mà đó được đề cập đến trong phần trên.
Bệnh sinh: Bệnh BCC xuất hiện sau các bệnh máu ác tính khác như hội
chứng tăng sinh tuỷ ác tính, đa u tuỷ xương và Waldenstrom, suy tuỷ xương vơ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
căn Trong cơ thể tồn tại 2 hệ thống gen duy trỡ và kiểm soỏt sự phỏt triển
bỡnh thường của tế bào:
Các proto – onogen là các gen “tiền ung thư”. Thực ra đây chính là các
gen bỡnh thường của cơ thể có vai trũ quan trọng trong việc kiểm soỏt sự tăng
sinh và biệt hố trưởng thành của các tế bào nhưng khi cấu trúc của chúng bị
thay đổi do đột biến, do kết hợp gen thỡ chỳng sẽ trở thành onogen để tạo ra các
onco – potein tác động lên bộ máy phân bào làm tế bào phát triển ác tính.
Các anti – oncogen (các gen chống ung thư) cú vai trũ ức chế sự phỏt
triển của khối u, sự đột biến làm các hạt các gen này và mất khả năng ngăn chặn
sự tăng sinh ác tính [8].
1.4. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA BỆNH BCC
Bệnh thường bắt đầu bằng triệu chứng sốt và da xanh do thiếu máu tăng
dần, lúc đầu thiếu máu nhẹ, sau thiếu máu nặng đũi hỏi phải truyền mỏu
nhiềulần.
Đồng thời với sốt, thiếu máu thường có biểu hiện xuất huyết, trên da thấy
có nhiều chấm xuất huyết màu đỏ, có những mảng bầm tím, dễ bị chảy máu
cam, rỉ máu ở lợi chân răng. Trường hợp nặng có thể bị cháu đường tiêu hố,
nhất là chảy máu ở hộp sọ và chảy máu ở phổi gây tử vong.
Các triệu chứng lâm sàng của bệnh BCC thường khơng đặc hiệu và
thường liên quan một cách chặt chẽ với q trỡnh giảm sinh của cỏc dũng tế bào
tạo mỏu bỡnh thường, do sự tăng sinh của các tế bào BC và sự xâm nhiễm của
các tế bào BC vào các cơ quan. Thường thỡ cả ba dũng tế bào mỏu đều bị giảm
sinh thể hiện bằng các hội chứng lâm sàng : thiếu máu (dũng hồng cầu) , xuất
huyết (dũng tiểu cầu) và nhiễm trựng (dũng bạch cầu). Sự xâm nhiễm của các tế
bào BC vào các cơ quan gây nên các triệu chứng: phỡ đại lợi, gan to, lách to,
hạch to, những tổn thương da, những dấu hiệu thần kinh khu trú như liệt mặt,
sụp mi mắt, những dấu hiệu của tăng áp lực nội sọ như đau đầu, nơn , tê đầu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
chi Trong BCC dũng tuỷ, cỏc hội chứng do sự giảm sinh cỏc dũng tế bào tạo
mỏu thường trầm trọng hơn và hay gặp hơn các triệu chứng thể hiện sự thâm
nhiễm cũn trong BCC dũng lympho thỡ ngược lại [2]









Hỡnh 4.Hỡnh ảnh xuất huyết của bệnh BCC ở trẻ em: cú những vết bầm
tớm.
1.5. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐỐN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH
BỆNH BCC
Để chẩn đốn xác định bệnh phải dựa vào xét nghiệm máu ngoại biên và
tuỷ máu, bệnh nhân mắc bệnh BCC máu ngoại biên giảm hồng cầu và huyết cầu
tố, thường tăng cao có nhiều bạch cầu non, giảm bạch cầu.Vỡ đây là một bệnh
ác tính do sự tăng sinh q sản dũng bc từ đó lấn át các dong khác.
Chọc tuỷ dũ xương để xét nghiệm máu tuỷ thấy có biểu hiện tuỷ tăng sinh
chủ yếu là tăng non, lấn át các dũng tế bào bỡnh thường ở tuỷ, như giảm dũng
hồng cầu, giảm dũng bạch cầu, giảm dũng mẫu tiểu cầu ở tuỷ. Xột nghiệm mỏu
tuỷ là xột nghiệm bắt buộc để chẩn đốn bệnh BCC.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Cũng cần núi rừ thủ thuật chọc tuỷ xương khơng gây tai biến, nếu đảm
bảo kỹ thuật. Máu tuỷ để làm một số xét nghiệm về miễn dịch, di truyền, rất cần
cho chẩn đốn, phân loại bệnh để chính xác [3].
Xột nghiệm BCC bằng mỏu ngoại vi :
Máu ngoại vi : Đa số các bệnh nhân thể hiện một tỡnh trạng giảm 3 dũng
bỡnh thường của máu ngoại vi và xuất hiện bạch cầu non trong cơng thức bạch
cầu. Các chỉ số hồng cầu máu ngoại vi thường cho thấy một tỡnh trạng thiếu
mỏu bỡnh sắc hồng cầu bỡnh thường khơng hồi phục. Số lượng bạch cầu có thể
từ dưới 1G/l cho đến trên 200G/l. Đa số bệnh nhân có số lượng bạch cầu trong
khoảng từ 5 - 30G/l. Theo một thống kê của các tác giả Peter người Tây Đức về
bệnh BCC dũng lympho thỡ số lượng bạch cầu cao trong 59%, bỡnh thường
trong 14% và giảm trong 27% các trường hợp, cá biệt có trường hợp số lượng
bạch cầu lên trên 500G/l và trên 90% bệnh nhân có bạch cầu non trong cơng
thức bạch cầu; số lượng tiểu cầu < 25G/l gặp trong 30% các trường hợp [2].
Tuỷ đồ: Trong rất nhiều bệnh máu như bệnh BCC rất cần làm tuỷ đồ để
biết rừ tỡnh hỡnh cơ quan tạo máu vỡ tuỷ xương là nơi sản sinh ra hồng cầu,
bạch cầu, tiểu cầu và cú biết rừ như vậy thỡ điều trị mới có kết quả, muốn
làm tuỷ đồ thỡ phải chọc tuỷ.
Gai chậu sau trên là vị trí thích hợp nhất để lấy tuỷ làm xét nghiệm. Tuy
nhiên trong các trường hợp như bệnh nhân trước đó đó điều trị tia xạ vùng
xương chậu, vùng dự định chọc tuỷ có biểu hiện nhiễm trùng, gai chậu sau trên
khó xác định, phụ nữ có thai thỡ xương ức là vị trí lý tưởng được chọn để làm
xét nghiệm tuỷ đồ. Dịch tuỷ lấy ra sẽ được sử dụng trong bốn phương pháp xét
nghiệm khác nhau: hỡnh thỏi tế bào học, hố học tế bào, miễn dịch tế bào và di
truyền tế bào và có thể nhuộm Prusian để đánh giá tỡnh trạng dự trữ sắt. Tuỷ đồ
của bệnh nhân BCC thường cho thấy một tỡnh trạng tuỷ giàu tế bào, số lượng tế
bào tăng cao. Tuy nhiên trong những trường hợp BCC suy tuỷ số lượng tế bào
giảm nhiều, tuỷ thường nghèo tế bào hoặc có mật độ bỡnh thường, có trường
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
hợp khơng đủ tế bào tuỷ để đếm. Các dũng tế bào tạo mỏu bỡnh thường trong
tuỷ bị thay thế bởi những tế bào BCC Các tế bào non ác tính này phải chiếm một
tỷ lệ > = 30% cỏc tế bào cú nhõn trong tuỷ thỡ chỳng ta mới cú thể xỏc định
chẩn đốn BCC [11].
Xét nghiệm BCC bằng sinh thiết tuỷ: Phương pháp này thường được tiến
hành trong các trường hợp chẩn đốn BCC khơng xác định được bằng xét
nghiệm tuỷ đồ. Sinh thiết tuỷ sẽ cho chúng ta biết được mật độ tế bào tạo máu,
có hay khơng có tỡnh trạng xõm lấn tuỷ của cỏc tế bào BCC tỡnh trạng xơ và
tỡnh trạng dũng mẫu tiểu cầu [6].
Xét nghiệm BCC bằng phương pháp nhuộm hố học tế bào:
Nhuộm hoỏ học tế bào cỏc tiờu bản tuỷ cho phộp chúng ta phân loại
BCC. Bốn phương pháp nhuộm hố học tế bào khác nhau hiện đang được sử
dụng rộng rói trờn thế giới: periodic acid - Schiff (PAS), Sudan đen, peroxidase
và oxydase.
Chủ yếu là 2 phương pháp sau:
1. Nhuộm glycogen các phương pháp nhuộm hay được dùng là phương
pháp Gomori dùngbạc. Phản ứng này PAS (periodic acid schiff). Trong phương
pháp này các BC hạt bắt màu đỏ trừ ngun tuỷ bào khơng thấy rừ ràng cỏc hạt
trung tớnh đều dương tính vỡ đều mang mucopoly trong máu ngoại vi, 13% BC
đa nhân trung tính trong phản ứng dương tính 9% vừa, dương tính mạnh 8%,
glycogen cũng thấy trong lympho và monocyt, tiểu cầu, hồng cầu và tương bào
cho phản ứng âm tính trong trường hợp bệnh lý có nhiều thay đổi.
2. Phương pháp nhuộm men oxydase và peroxydase các men cú vai trũ
quan trọng trong việc xỳc tỏc, phản ứng chuyển hoỏ của sự trưởng thành, tăng
sinh tế bào. Trong men người ta chú ý nhiều nhất oxydase và peroxydase,
photsphatase. Để nhuộm oxydase và peroxydase người ta dùng phương pháp
sato và selkiya.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Tớnh chất các BC hạt đều cho phản ứng dương tính, tế bào mang những
hạt màu xanh sẫm, riêng các ngun tuỷ bào loại già cho phản ứng dương tính,
loại rất trẻ cho phản ứng âm tính monocyt cho phản ứng dương tính nhẹ, xuất
hiện một số hạt rất nhỏ, tế bào dũng lympho. Dũng hồng cầu, tiểu cầu nguyờn
mono tiểu cầu, nguyờn mono đều cho phản ứng âm tính. Người ta thấy sự thay
đổi cuả phản ứng oxydase và peroxydase thường song song với sự có mặt lipid
trong các tế bào máu. Khơng dùng phản ứng này để phân biệt giữa ngun
lympho và ngun tuỷ bào được vỡ nguyờn tuỷ bào trẻ thường cho phản ứng âm
tính
Miễn dịch tế bào: Đây là phương pháp sử dụng kháng thể đơn dũng để
phát hiện những dấu ấn trên bề mặt tế bào. Phương pháp này thường được sử
dụng để chẩn đốn phân loại BCC trong những trường hợp tế bào BCC là những
tế bào non rất kém biệt hố đều cho phản ứng âm tính hoặc dương tính yếu đối
với các phương pháp nhuộm hố học tế bào ( 15% ). Các tế bào BCC thuộc
dũng tuỷ sẽ phản ứng dương tính với các kháng ngun CD33 hoặc CD14. Cỏc
tế bào thuộc dũng lymphụ B dương tính với CD19, CD20, CD10, HLA - DR,
TdT; dũng T dương tính với CD2, CD3, CD5, CD7, CD4, CD8, CD10, TdT (
terminal đeoxynucleotidyl transferase ). CD10 được gọi là kháng ngun chung
của dũng lympho. Đơi khi chúng ta cú thể gặp những tế bào BCC dũng tuỷ
mang những khỏng nguyờn của dũng lympho như CD2 hoặc CD19.
Xét nghiệm BCC bằng phương pháp di truyền tế bào: Những bất thường
nhiễm sắc thể là rất hay gặp trong bệnh BCC : chuyển đoạn NSTgiữa 15 và 17,
giữa NST 8 và 21, 9 và 22, đảo đoạn NST 16, mất một NST số 7 Những bất
thường này có một số giá trị nhất định trong chuẩn đốn. Tuy nhiên, cho đến
nay vẫn chưa xác định được những bất thường đặc hiệu có thể giúp ích trong
chẩn đốn phân loại BCC. Hiện nay, phương pháp sinh học phân tử đó được sử
dụng rộng rói trờn thế giới nhằm tiếp tục xỏc định những biến đổi di truyền ở
mức độ phân tử giúp cho chẩn đốn [2].
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Di truyền và ung thư : các nghiên cứu cho thấy một số trẻ ung thư có liên
quan đến di truyền ở các bệnh nhân đó có thể xảy ra một số như chuyển đoạn
khuyết đoạn của một số NST.Biến đổi nhiễm sắc thể cũng có giá trị cho phân
loại và chẩn đốn BCC . Trong nhiều nghiên cứu các tác giả đó chứng minh
rằng mỗi thể BCC cú biễn đổi NST đặc trưng, nên phương pháp di truyền cũng
có giá trị trong chẩn đốn và tiên lượng BCC[3].
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét