Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Nhà nước có chính sách hỗ trợ cho đối với các vùng nghèo khó khăn,
mức sống thấp, khi công trình hư hỏng nặng cần phải sửa chữa, hỗ trợ chi phí
cho diện tích tiêu phi canh tác, hỗ trợ chi phí tiền điện tưới tiêu, khi có thiên tai
gây mất mùa phải giảm mức thuế sử dụng đất. Tuỳ theo loại hình công trình, tự
chảy hay động lực, điều kiện cụ thể của hệ thống công trình để quy định mức
thu và có chính sách hỗ trợ. Cơ quan nào quyết định miễn giảm giá nước tưới
thì cơ quan đó có trách nhiệm cấp bù hỗ trợ tài chính cho đơn vị quản lý công
trình thuỷ lợi.
Kinh nghiệm của Trung quốc cho thấy từ khi bắt đầu thu TLP (giá nước),
việc sử dụng nước được tiết kiệm hơn. Nhưng điều này cũng là một thách thức
đối với các đơn vị quản lý, điều này đòi hỏi đơn vị quản lý công trình thuỷ lợi
phải có các biện pháp để quản lý tốt, giảm các tổn thất để có nhiều nước bán
cho nông dân theo yêu cầu của họ và giảm thiểu chi phí.
Australia
Tại lưu vực miền nam Murray-Darling năm 1992 TLP từ nông nghiệp
thu đáp ứng được 80% chi phí vận hành và bảo dưỡng và đến năm 1996 thu
được 100% chi phí vận hành và bảo dưỡng. Giá nước cũng khác nhau giữa các
vùng. Ở bang Victoria mức thu gần đảm bảo chi phí vận hành và bảo dưỡng
(năm 1995), ở New South Wales thu trong nội bang thu khoảng 0,92
USD/1000m3 (chỉ tương đương khoảng gần 13 đ năm 1995) trong khi đó nếu
nước được đưa sang bang Victoria thì giá nước tăng hơn 3,6 lần giá nước trong
nội bang New South Wales. Tương tự như vậy ở bang Queensland giá thu trong
nội bang khoảng 1,5USD/1000m3 trong khi đó giá nước khi chuyển ra ngoài
ranh giới bang tăng hơn 4,2 lần; cuối cùng đối với vùng miền nam, lưu vực
Muray-Darlinh năm 1991-1992 mức thu đồng đều hơn 7,8USD/1000m3 (tương
đương với 80% phí vận hành và bảo dưỡng), và từ năm 1992 trở đi giá nước
cao hơn giá thành là 11% để thu hẹp khoảng cách giữa chi phí đầu tư và thu hồi
vốn.
5
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Mỹ
Mỹ là một quốc gia có nguồn tài nguyên nước phong phú.
+ Trước kia thuỷ nông địa phương (xí nghiệp thuỷ nông huyện hoặc tỉnh)
thu TLP dựa trên cơ sở chi phí vận hành và bảo dưỡng cho các vùng đất canh
tác khác nhau. Ví dụ mức thu đối với những vùng tưới động lực sẽ cao hơn
mức thu những vùng tưới tự chảy.
+ Bắt đầu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, nhà nước đã xây dựng
luật mà nó bao hàm cả việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước. Thuỷ lợi phí đã
được thu tăng lên đáng kể. Ví dụ: thời điểm năm 1988 thuỷ nông huyên
Broadview đã tăng mức thu từ 40USD/ha lên 100USD/ha với mức nước sử
dụng được tính toán; năm 1987 tại thuỷ nông huyện Pacheco mức thu tính theo
2 bậc, bậc thứ nhất mức thu 90USD/ha và bậc thứ 2 thu 150USD/ha; đối với
mức thu dựa trên khối lượng sử dụng ở hệ thống thuỷ nông bang Califonia tăng
mức thu từ từ 4,4USD/1000m3 lên 11,9USD/100m3. Với mức thu như vậy thì
thực tế đã cao hơn mức cần thiết để thu hồi các chi phí.
Italy
Ở Italy, nước sử dụng cho nông nghiệp thu thuỷ lợi phí dựa trên cơ sở
diện tích và mức thu khác nhau giữa các vùng từ 22,11-82,36USD/ha (trung
bình 37,38USD/ha đây là mức thu kế hoạch) nhưng thực tế chỉ thu được
khoảng 80% so với kế hoạch và chỉ đảm bảo được khoảng 60% chi phí vận
hành và bảo dưỡng.
Tây Ban Nha
Ở Tây Ban Nha thuỷ lợi phí nông dân phải trả hầu hết toàn bộ chi phí từ
xây dựng cơ bản, quản lý vận hành hệ thống thuỷ nông và cả quản lý cấp lưu
vực. Có 3 cách tính thuỷ lợi phí: dựa trên diện tích; dựa trên khối lượng sử
dụng hoặc kết hợp cả hai cách trên. Thuỷ lợi phí trung bình ở thời điểm năm
6
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
1994 khoảng 84,7USD/ha-năm (dao động khác nhau giữa các hệ khu vực từ
8,3-266 USD/ha-năm) và từ 0.008-0,16USD/m3 sử dụng.
Pakistan
Pakistan là một quốc gia đang phát triển, đông dân và có chỉ số nguồn tài
nguyên nước tính trên đầu người hàng năm tương đương với Việt nam. Mức
TLP là rất thấp 0,55USD/ha-vụ, ngô 0,33USD/ha-vụ, thuỷ lợi phí thu từ nông
dân khoảng 20% chi phí vận hành và bảo dưỡng còn lại là nhà nước trợ cấp.
2.2.2 Ở Việt Nam
Để đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển thủy lợi phục vụ cho sự
nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, trong từng giai đoạn Nhà nước đã ban hành
các chính sách miễn giảm Thủy lợi phí như sau:
Để khai thác tối đa năng lực các hệ thống công trình thuỷ lợi hiện có, gắn
trách nhiệm với quyền lợi của người dùng nước, giảm bớt gánh nặng bao cấp
của Nhà nước trong lĩnh vực thuỷ lợi, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã trình Chính
phủ ban hành chính sách về tiền nước và thuỷ lợi phí theo quy định tại Nghị
định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003, bắt đầu thực hiện việc miễn, giảm
thuỷ lợi phí.
Cụ thể: Những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
được miễn thủy lợi phí; địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thì giảm
từ 50% - 70% mức thủy lợi phí. Nhìn chung, người nông dân có thu nhập thấp
hàng năm vẫn phải gánh một khoản lệ phí không nhỏ cho thủy lợi. Như vậy,
Nghị định số 143 quy định việc miễn thủy lợi phí còn mang tính công thức và
không sát thực.
Đến năm 2007, Nghị định 154/2007/NĐ-CP được ban hành, thay thế cho
Nghị định 143/2003/NĐ-CP. Nghị định 154 quy định: Miễn thuỷ lợi phí (TLP)
đối với hộ gia đình, cá nhân có đất, mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối trong hạn mức giao đất nông
7
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
nghiệp…;đối với địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn và khó
khăn theo quy định của Luật Đầu tư được miễn TLP đối với toàn bộ diện tích
đất, mặt nước dùng vào nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm
muối không phân biệt trong hay ngoài hạn mức giao đất…Các đơn vị quản lý,
khai thác công trình thuỷ lợi được ngân sách Nhà nước cấp bù số tiền do miễn
thu TLP quy định tại Nghị định này.
Như vậy Nghị định 154/2007/NĐ-CP thay cho Nghị định 143/2003/NĐ-
CP (phần TLP), nhưng chỉ đối với các hệ thống thủy lợi được đầu tư bằng vốn
ngân sách do IMC quản lý và đã giảm được trên 80% tổng số TLP mà nông dân
phải trả trước đây. Chi phí về tưới của nông dân phải trả TLP nội đồng chỉ bằng
1,4 -2,0% tổng chi phí đầu vào của sản phẩm nông nghiệp có tưới (trước đây là
7 -10%).
Thực tế cho thấy, quá trình triển khai Nghị định 154 của Chính phủ đã
phát sinh nhiều phiền toái, chưa hợp lý. Nghị định này chỉ đề cập đến diện tích
tưới tiêu đối với các công trình thuỷ nông xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách
Nhà nuớc. Còn diện tích tưới tiêu các công trình thuỷ lợi xây dựng bằng vốn
không phải của ngân sách, đang thu theo thoả thuận thì không được miễn.
Ngoài ra, mức cấp bù thuỷ lợi phí cho các địa phương được căn cứ vào mức thu
thuỷ lợi phí theo quy định của UBND các tỉnh, thành phố theo quy định tại
Nghị định 143/2003/NĐ-CP nhưng khi thực hiện Nghị định này các địa phương
lại có quy định mức thu thuỷ lợi phí khác nhau. Mặt khác, còn một số HTX
nông nghiệp chưa nhận được khoản hỗ trợ tiền cấp bù miễn thủy lợi phí.
Xuất phát từ những tồn tại nêu trên, mới đây, Chính phủ đã ban hành
Nghị định 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 sửa đổi, bổ sung Nghị định
143/NĐ-CP qui định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và
bảo vệ công trình thủy lợi.
8
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hệ thống văn bản chính sách
3.1.1 Hệ thống văn bản chính sách liên quan
- Nghị định số 66-CP về việc ban hành điều lệ thu thủy lợi phí do hội
đồng chính phủ ban hành 05/06/1962.
- Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng 112-HĐBT ngày 25/8/1984 về việc
thu thủy lợi phí.
- Nghị định 143/NĐ-CP ngày 28/11/2003 quy định chi tiết thi hành một
số điều của pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi.
- Nghị định số 154/2007/NĐ-CP ngày 15/10/2007 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 quy định chi tiết
thi hành một số điều của pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi.
- Thông tư 36 Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số
115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi.
3.1.2 Văn bản chính sách làm tiểu luận
Nghị định 115/2008/NĐ-CP ngày 14-11-2008 sửa đổi, bổ sung một số
điều của nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình
thủy lợi.
Đối tượng miễn thuỷ lợi phí:
Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản và làm muối.
Phạm vi miễn thuỷ lợi phí:
9
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
- Miễn thuỷ lợi phí đối với diện tích mặt đất, mặt nước trong hạn mức giao
đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân dùng vào sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối, bao gồm: đất do Nhà nước giao,
được thừa kế, cho, tặng, nhận chuyển nhượng hợp pháp, kể cả phần diện tích
đất 5% công ích do địa phương quản lý mà các hộ gia đình, cá nhân được giao
hoặc đấu thầu quyền sử dụng.
- Miễn thuỷ lợi phí đối với toàn bộ diện tích đất, mặt nước dùng vào sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và làm muối của hộ gia
đình, cá nhân tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và địa
bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn theo quy định của Chính phủ.
Diện tích mặt đất, mặt nước miễn thuỷ lợi phí quy định tại điểm này
không phân biệt được cấp, tưới, tiêu nước từ công trình thuỷ lợi đầu tư bằng
vốn ngân sách hay các nguồn vốn khác, thu thuỷ lợi phí theo mức Nhà nước
quy định hay theo thoả thuận.
Mức miễn thuỷ lợi phí:
- Mức miễn thuỷ lợi phí đối với trường hợp sử dụng nước từ công trình
thuỷ lợi đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước được tính theo mức quy
định tại các điểm a, b, c và các tiết 3, 4 Biểu mức thu tiền nước tại điểm d
khoản 1 Điều này.
- Mức miễn thuỷ lợi phí đối với trường hợp sử dụng nước từ công trình
thuỷ lợi đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc có một
phần vốn ngân sách nhà nước được tính theo mức thu thuỷ lợi phí thoả thuận
quy định tại khoản 4 Điều này.
Mức cấp bù kinh phí do thực hiện miễn thủy lợi phí:
Các đơn vị quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi được ngân sách nhà
nước cấp bù số tiền do thực hiện miễn thu thuỷ lợi phí quy định như sau:
- Đối với đơn vị quản lý, khai thác hệ thống công trình thuỷ lợi đầu tư
bằng vốn ngân sách nhà nước được cấp bù số tiền do thực hiện miễn thuỷ lợi
10
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
phí tính theo mức thu quy định tại điểm a, b, c và các tiết 3, 4 của Biểu mức thu
tiền nước tại điểm d khoản 1 Điều 19 Nghị định này.
- Đối với đơn vị quản lý, khai thác hệ thống công trình đầu tư bằng
nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc có một phần vốn ngân sách
nhà nước và thu thuỷ lợi phí theo thoả thuận được cấp bù số tiền do thực hiện
miễn thuỷ lợi phí tính theo mức thu quy định tại khoản 4 Điều 19 Nghị định
này.
Đơn vị quản lý khai thác công trình thuỷ lợi làm nhiệm vụ cấp, tưới tiêu
nước được hưởng các khoản trợ cấp, trợ giá, hỗ trợ tài chính theo quy định của
pháp luật.
Công ty khai thác công trình thuỷ lợi nhà nước được hỗ trợ kinh phí để
xử lý xóa nợ đọng thuỷ lợi phí và khoản lỗ do nguyên nhân khách quan.
3.2 Kết quả thực hiện chính sách
3.2.1 Mặt tích cực
Miễn, giảm thủy lợi phí đồng nghĩa với việc người nông dân được giảm
bớt một phần chi phí sản xuất nông nghiệp và có thêm điều kiện thu nhập để cải
thiện đời sống. Đây chính là động lực mới để người nông dân phát triển sản
xuất và an tâm lạc nghiệp với chính mảnh đất của mình. Đồng thời tạo tâm lý
phấn khởi người dân về dịch vụ phúc lợi công cộng của Nhà nước đối với nông
dân, càng làm cho người dân vững tin vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước.
Các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi sẽ được ngân sách nhà
nước cấp bù số tiền do miễn thu thủy lợi phí. Sự hỗ trợ này của Nhà nước giúp
đảm bảo vận hành trơn tru hệ thống công trình thủy lợi trên cả nước khi không
còn nguồn thu trực tiếp từ người nông dân như trước đây.
Theo Nghị định 115 mức thu thủy lợi phí đối với đất trồng lúa được tính
trên ha/vụ. Mức phải nộp thấp nhất cũng là 566.000 đồng/ha/vụ và cao nhất là
1.097.000 đồng/ha/vụ. Trong trường hợp tưới, tiêu chủ động một phần thì thu
11
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
bằng 60% mức phí quy định (quy định cũ là từ 50% -70%); Chỉ tạo nguồn tưới,
tiêu bằng trọng lực, động lực thu bằng 40% (quy định cũ là 40% -60%).
Đối với diện tích trồng mạ, rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, kể cả cây vụ
Đông, mức thu thủy lợi phí bằng 40% mức thủy lợi phí đối với đất trồng lúa
(mức cũ là từ 30% -50%). Riêng đối với mức thủy lợi phí sản xuất muối vẫn
giữ nguyên mức cũ là 2% giá trị muối thành phẩm. Khung mức tiêu nước đối
với tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi để
phục vụ cho các mục đích không phải sản xuất lương thực tăng gấp đôi so với
mức cũ Qua đó, chúng ta thấy rằng, với mức đóng như vậy nếu không được
miễn thủy lợi phí thì quả là gánh nặng của nhiều hộ nông dân.
Những khoản thu thủy lợi phí luôn là một trong những loại thuế có tỷ lệ
nợ đọng cao nhất đối với người nông dân. Theo số liệu báo cáo của các địa
phương, trong năm 2007, tổng số nợ đọng thủy lợi phí lên đến 460 tỷ đồng, cá
biệt còn có tỉnh 70% người dân chưa nộp thủy lợi phí vì lý do “không có tiền”.
Vì vậy, điểm mới của Nghị định 115 là miễn thủy lợi phí cho nông dân, theo
quy định miễn thủy lợi phí của Chính phủ, nông dân cả nước sẽ chỉ phải đóng
chi phí duy nhất dành cho công tác thủy lợi là phí để vận hành thủy lợi nội
đồng. Bản chất khoản phí này là để thuê nhân công làm công việc điều tiết và
theo dõi khi dẫn nước từ vị trí đầu kênh vào từng thửa ruộng.
Bên cạnh đó, Nghị định mới này cũng quy định rất rõ việc miễn thủy lợi
phí đối với diện tích mặt đất, mặt nước trong hạn mức giao đất nông nghiệp của
các hộ gia đình, cá nhân dùng sản xuất nông, ngư, lâm nghiệp và làm muối, bao
gồm đất do Nhà nước giao, được thừa kế, cho, tặng kể cả phần diện tích đất
5% công ích do địa phương quản lý mà các hộ gia đình, cá nhân được giao hoặc
đấu thầu quyền sử dụng.
Đối với các hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn, đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ cũng được miễn thủy
12
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
lợi phí cho toàn bộ diện tích đất, mặt nước dùng vào sản xuất nông, ngư, lâm
nghiệp và làm muối.
Sản xuất nông nghiệp là ngành thu lợi ít nhất, do đó đây là sự quan tâm
đặc biệt của nhà nước đối với người nông dân. Nghị định 115/2008/NĐ-CP
được coi là "khoán 10", là bước đột phá, khi đối tượng được cấp bù thuỷ lợi phí
được mở rộng, không giới hạn ở những tổ chức quản lý công trình xây dựng
bằng nguồn vốn của Nhà nước, mà tất cả các tổ chức quản lý công trình thuỷ
lợi đều được cấp bù thuỷ lợi phí không phân biệt công trình được xây dựng từ
nguồn vốn nào. Mức thu thuỷ lợi phí để được cấp bù sẽ cao hơn so với mức cũ,
cơ bản đảm bảo yêu cầu và thống nhất trong từng vùng.
3.2.2 Một số hạn chế
Mặc dù được miễn thuỷ lợi phí nhưng đa số hộ dân vẫn thấy lo lắng, bởi
nếu không còn nguồn thu trực tiếp từ người nông dân thì chất lượng phục vụ,
hệ thống công trình thuỷ lợi có còn hoạt động trơn tru như trước đây?
Mức hỗ trợ của Nghị định 115 qui định chỉ căn cứ vào mức của Nghị
định 143 (mặc dù đã có tính đến trượt giá) để qui đinh mức hỗ trợ là chưa đảm
bảo được yêu cầu chi đúng và chi đủ cho hoạt động của các tổ chức dịch vụ
tưới tiêu.
Mặt khác, do đời sống của nông dân các tỉnh miền núi khó khăn hơn so
với các tỉnh vùng đồng bằng, nên khi quyết định mức thu cụ thể của Nghị định
143 đối với các tỉnh miền núi đã qui định thấp hơn so với các tỉnh đồng
bằng.Và thực tế đã khẳng định vốn đầu tư, chi phí quản lý hàng năm đối với
công trình thủy lợi có qui mô vừa và lớn (trừ loại công trình quá nhỏ phục vụ
vài héc-ta trên phạm vi thôn, bản) ở các tỉnh miền núi thường lớn gấp 2-3 lần so
với các tỉnh đồng bằng Vi vậy mức hỗ trợ của Nghị định 115 (đã có tính trượt
giá) đối với các tỉnh miền núi chưa phù hợp (chỉ bằng xấp xỉ 50% mức hỗ trợ
của đồng bằng sông Hồng).
13
Tài liệu: Docs.vn Hỗ trợ : Y!M minhu888
Nhiều địa phương đã phản ảnh thực trạng này là có căn cứ, cần được
nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh , nhằm đảm bảo công bằng giữa các vùng trong
việc hỗ trợ thủy lợi phí được miễn.
Trong thông tư hướng dẫn số 36 có đề cập đến mức thủy lợi phí đối với
công trình thủy lợi được đầu tư không thuộc nguồn vốn ngân sách và mức thủy
lợi phí sau “cống đầu kênh” đến mặt ruộng được xác định theo” mức thỏa thuận
giữa đơn vị cấp nước và người dùng nước, nhưng không được cao hơn mức
trần do UBND tỉnh qui định” là chưa phù hợp, vì không tính đến với sự thỏa
thuận được thiết lập giữa hai bên. Thực trạng này đang diễn ra ở đồng bằng
sông Cửu long và một số tỉnh miền trung. Mặt khác, mức thỏa thuận (kể cả
mức trần do UBND tỉnh qui định) phải có căn cứ và phải được qui định (mức
khung cũ thể) để đảm bảo trả đủ tiền công cho người quản lý và có tính đến sự
phát triển “hệ thống thủy lợi nội đồng” mà lâu nay nhiều nơi còn bỏ ngỏ, không
nên qui định một cách tùy tiện sẽ hạn chế sự huy động đóng góp tự nguyện, có
bàn bạc, quyết định của nông dân phục vụ cho lợi ích của chính họ.
Vì vậy mức thỏa thuận hợp lý chỉ khi nông dân được tham gia bàn bạc và
tự quyết định, thống nhất với tổ dùng nước và có sự chỉ đạo của chính quyền.
Trước đây các đơn vị dịch vụ (Công ty thủy nông, HTDN) được nông dân
thanh toán đủ thủy lợi phí theo qui định ghi trong hợp đồng chỉ sau khi phục vụ
tưới tiêu tốt (theo hợp đồng). Nhưng hiện nay phần thủy lợi phí này Nhà nước trả
thay cho nông dân và nông dân cũng phải được quyền như trước đây. Nhưng
trong thông tư 36 chưa thể hiện được quyền của nông dân trong việc trả thủy lợi
phí và thực tế một số nơi đã xẩy ra khi nông dân trả thủy lợi phí thì ruộng có
nước, nhưng khi nhà nước trả thủy lợi phí thay thì ruộng lại thiếu nước.
“Các tổ chức HTDN được phân cấp quản lý một phần công trình trong hệ
thống do công ty quản lý, Công ty thực hiện ứng và thanh toán kinh phí cho tổ
HTDN theo hợp đồng ”(mục 2, khoản V, thông tư 36) đã hạn chế quyền của tổ
HTDN (của nông dân) và đã chuyển CTTN từ vị trí “làm dịch vụ” (cấp nước tưới
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét