2
Nội dung Trang
I. Lời giới thiệu 4
II. Thuyết minh và những biến then chốt 11
A. Thuyết minh Cơ bản 11
B. Dữ liệu then chốt 13
III. Sự Phân tích Thực nghiệm 20
A. Những kết quả cơ bản 20
B. Những vai trò tiến triển của việc giới hạn thanh khoản và giảm nhu cầu 23
C. Giải pháp đo lường khác về độ tin cậy tài chính 26
D. Những trắc nghiệm vô hại 27
E. Làm rõ thực chất tỷ giá hối đoái và sự thay đổi giá hàng hoá 29
F. Những sự mở rộng và kiểm tra bổ sung linh hoạt 32
IV. Kết luận 34
Tham chiếu 36
Bảng biểu
1a.Tổng kết số liệu 39
1b. Tương quan giữa các biến 39
2. Sự biến động của giá chứng khoán suốt giai đoạn khủng hoảng 40
3. Biện pháp thay thế của sự phụ thuộc tài chính 41
4. Sự thay đổi của tính thanh khoản có giải thích những thay đổi về giá cổ phiếu
trong thời gian từ ngày 10 đến 28 tháng 9 năm 2001 không? 42
5. Kiểm tra bổ sung: biến động giá chứng khoán trước giai đoạn khủng hoảng 43
6. Làm rõ thêm thay đổi của giá tiêu dùng và tỷ giá hối đoái 44
Bảng số liệu
1. Nhật ký về chỉ số giá cổ phiếu trong Cơn khủng hoảng nhà đất 45
2. Số lượng từ “subprime” và “crisis” trên báo chí 45
3. Dự báo chung về tốc độ phát triển GDP thực tế của Mỹ 46
4.
Lòng tin của người tiêu dùng xoay quanh ngày 11/09 và sự khủng hoảng 46
5. TED(mối ràng buộc giữa đồng đô la và đồng Euro thông qua trái phiếu Kho bạc)
xoay quanh ngày 11/9 và
cuộc khủng hoảng 47
6. Lợi nhuận cổ phiếu từ tháng 08/2007 48
7. Những hệ số hồi quy chính từ việc liên tiếp mở rộng mẫu 49
3
"Cơn khủng hoảng thị trường tài chính nổ ra trong tháng 8 năm 2007 đã phát
triển thành một cú sốc tài chính lớn nhất từ khi có Cuộc đại suy thoái đến nay, giáng
một đòn thiệt hại nặng nề lên những thị trường và những tổ chức nổi tiếng ở trung
tâm của hệ thống tài chính”
Quỹ tiền tệ quốc tế,Viễn cảnh kinh tế Thế giới, Tháng tư 2008
[George Soros] ghi chép, khủng hoảng tài chính đang bắt đầu có những
hiệu ứng nghiêm trọng trên nền kinh tế thực, nói thêm: " theo quan điểm của
tôi, phạm vi của nó vẫn chưa được nhận biết đầy đủ"
Reuters(New York), ngày 9 tháng 4 năm 2008
4
I. LỜI GIỚI THIỆU
Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất bắt đầu vào tháng 8 năm 2007 đã được
George Soros, Joseph Stiglitz, Quĩ Tiền tệ Quốc tế, và những người bình luận khác
gọi là cuộc khủng hoảng tài chính tồi tệ nhất từ sau cuộc đại suy thoái. Hơn nữa,
Soros nghĩ rằng cơn khủng hoảng đó có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế thực, tuy
nhiên phạm vi của ảnh hưởng của nó chưa hoàn toàn được nhận biết. Trong bài này,
chúng ta nghiên cứu bằng cách nào mà cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất có thể từ
khu vực tài chính lan ra nền kinh tế thực. Nếu có một hiệu ứng lan toả, nó có tự biểu
hiện thông qua giảm cầu tiêu dùng và lòng tin khách hàng không? Có thêm phương
thức giảm thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư thông qua việc thắt chặt giới hạn
đi vay mà những công ty phi tài chính phải đối mặt hay không? Tìm hiểu những
phương thức này có thể giúp xây dựng một chính sách đối phó thích hợp.
Quan điểm cho rằng nền kinh tế thực có thể hứng chịu một cuộc kiểm soát tín
dụng là một kết quả lan rộng của khủng hoảng nhà đất ngày càng hiển nhiên hơn.
Như tài liệu chu đáo mà Bates, Kahle, và Stulz(năm 2007) đã trình bày, các công ty
phi tài chính đã nắm giữ nhiều tiền mặt trước cuộc khủng hoảng. Theo họ, " Tỷ lệ nợ
ròng(số nợ trừ đi tiền, chia từ những tài sản) cho thấy một vấn đề muôn thủa rõ ràng.
Sự suy sụp trong những món nợ ròng thê thảm đến nỗi nợ ròng trung bình của các
công ty ở Mỹ trái ngược với năm 2004. Hay nói cách khác, trung bình các công ty có
thể đã thanh toán món nợ của họ bằng tài sản tiền mặt của họ" đã cho thấy khuynh
hướng xuống dốc dài hạn trong tài sản tiền mặt là điều hiển nhiên, tỷ lệ nợ ròng thích
hợp thậm chí có vẻ phù hợp hơn trong lĩnh vực tiêu cực cho đến giữa năm 2007, ngay
trước khi cuộc khủng hoảng nhà đất bùng nổ hoàn toàn vào tháng 8 năm 2007. Điều
này ít ra cũng cho thấy khả năng thắt chặt thanh khoản bên ngoài khu vực tài chính là
không nghiêm trọng. Có lẽ ngoài sự tin tưởng này, Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang
Ben S. Bernanke còn gọi là các vùng cân bằng chung của các tập đoàn mạnh " một
đốm sáng trong dự báo đen tối ", trong bài nhận định của ông ta tại quốc hội Mỹ về
chính sách tiền tệ vào ngày 27 tháng 2 năm 2008
5
Tuy nhiên chúng tôi tin tưởng rằng không phải tất cả các công ty phi tài chính
đều đứng vững như nhau trước sóng gió của cú sốc tín dụng nhà đất này. Thực vậy,
như Hình 1a cho thấy, từ khi cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất bùng phát trong
tháng 8 năm 2007, nhiều công ty phi tài chính đã trải qua một sự suy sụp giá chứng
khoán một cách thê thảm. Nếu cuộc khủng hoảng là kết quả của việc thắt chặt thanh
khoản các cơ quan tài chính bên ngoài, hiệu ứng này có khả năng gây hại nhiều hơn
đối với những công ty này bắt đầu với việc giới hạn thanh khoản tương đối nhiều.
Tìm hiểu mức độ biến đổi này thông qua các công ty có thể cho chúng ta một hướng
xác định phạm vi rắc rối tín dụng nhà đất đang ảnh hưởng đến nền kinh tế thực. Tất
nhiên, việc thắt chặt thanh khoản không phải là nguồn gốc duy nhất để khủng hoảng
tín dụng nhà đất có thể gây hại cho các khu vực thực. Nhu cầu đầu ra của công ty đã
có thể bị co lại do mất mát lòng tin khách hàng, và từ đó có sự thu hẹp tiêu sài của
người tiêu dùng trong hiện tại và lương lai.
Trong bài này, chúng ta không nghiên cứu những khó khăn về việc thế chấp cho
vay dưới chuẩn đã phát triển như thế nào đối với cuộc khủng hoảng trong khu vực tài
chính. Thay vào đó, chúng ta nghiên cứu để thấy rằng có một cuộc khủng hoảng trong
khu vực tài chính từ tháng 8 năm 2007, và nó bắt đầu với ngày càng nhiều món nợ xấu
hơn mong đợi; thay vào đó chúng tôi tập trung điều tra xem có khủng hoảng không
và cuộc khủng hoảng khu vực tài chính đã lan ra các công ty phi tài chính như thế
nào. Một thách thức thực nghiệm tiềm ẩn bên trong các biến giải thích chính. Nếu các
công ty phi tài chính khá tồi tệ vì những công ty tài chính làm việc không tốt, người ta
có thể dễ dàng hình dung một truyện không có hậu. Nói cách khác, cả hai biểu hiện
xấu đi của các cơ quan tài chính và các công ty phi tài chính có thể được gây ra bởi
một nhân tố chung thứ ba. Chúng tôi phát triển một phương pháp để có thể nghiên
cứu những cơ chế của sự lan toả, với sự chú ý đến vấn đề bên trong.
6
Chúng tôi phân biệt nguyên nhân cầu nhạy cảm với nguyên nhân giới hạn thanh
khoản. Đầu tiên chúng tôi đề xướng một chỉ số mức khu vực dựa trên tính nhạy cảm
với những cú sốc về cầu, dựa trên phản hồi từ cú sốc 11/ 9/ 2001. [Chúng tôi phải
loại trừ những ngành công nghiệp trong lĩnh vực hàng không, bảo hiểm và quốc
phòng khi chúng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi cuộc tấn công 9/11]. Sau đó chúng tôi
xây dựng một chỉ số mức công ty dựa trên mức độ các giới hạn tài chính, theo như
Whited và Wu(năm 2006). Hơn thế nữa chúng tôi sử dụng một chỉ số dựa trên sự
phụ thuộc bên trong đối với tài chính bên ngoài của Rajan và Zingales (1998) để kiểm
tra linh hoạt. Rất quan trọng khi lưu ý giới hạn tài chính để chỉ ra những khó khăn
trong việc nâng tất cả các khoản tài chính từ bên ngoài lên, không chỉ trong vay mượn
từ ngân hàng.
Khi kiểm soát các biến, chúng tôi thêm biến bêta, kích thước công ty, và hệ số
giá ghi sổ trên giá thị trường từ mô hình 3 nhân tố của Fama và French (1992), và
nhân tố thứ tư là động lượng được Lakonishok, Shleifer, và Vishny đưa ra(năm
1994). Những nhân tố này thường được dùng nhưng không phải lúc nào cũng quan
trọng trong thống kê. Tuy nhiên, hai biến hồi quy độc lập then chốt của chúng tôi:
giới hạn tài chính và tính nhạy cảm cầu tiêu dùng, thì luôn luôn quan trọng trong
thống kê với một dấu hiệu chính xác. Sự giải thích của chúng tôi là trong suốt thời
gian khủng hoảng nhà đất, hai biến này có thể phản ánh những khía cạnh về sự mạo
hiểm của các công ty nhưng hoàn toàn không được nắm bắt thông qua 3 nhân tố, hay
mô hình nhân tố thứ 4. Mớ rộng thêm, chúng tôi kiểm soát sâu hơn để làm rõ tỷ giá
và giá hàng hoá.
Để chỉ ra vấn đề bên trong, chúng tôi chắc chắn rằng các biến hồi quy độc lập
chính, độ giới hạn thanh khoản của công ty, và độ nhạy cảm của nó đối với cú sốc về
cầu phải được xác định trước với việc chú ý đến cuộc khủng hoảng chính thức về tài
chính. Nói cách khác, chúng tôi nghĩ thử nghiệm trong việc này đó là: nếu chúng tôi
phân loại các công ty phi tài chính vào các rổ khác nhau, dựa trên mức độ dự tính về
giới hạn thanh khoản, và tính nhạy cảm trước sau đến cú sốc về cầu, việc phân loại có
7
thể giúp chúng ta dự đoán sự thể hiện giá chứng khoán niêm yết của các công ty này
hay không? Nếu có sự dự báo khả năng liên quan đến những phân loại này, nó có thể
mang lại điều gì ngoài những cái được giải thích bởi mô hình 3 nhân tố cuả Fama và
French và nhân tố động lượng hay không?
Chúng tôi thấy thấy rằng câu trả lời là có cho cả hai câu hỏi. Một sự tăng lên
trong giới hạn thanh khoản bởi một độ lệch chuẩn liên quan đến việc giá chứng khoán
rớt thêm 12.4% trong thời gian 31 tháng 3 đến 31 tháng 7 năm 2008. Khi so sánh,
một sự tăng độ lệch chuẩn trong tính nhạy cảm tới lòng tin khách hàng thì có liên
quan tới việc làm giảm giá chứng khoán 3,4% trong cùng thời kỳ. Giải thích sự khác
biệt về suy sụp giá chứng khoán cuả các công ty kinh doanh chéo là vấn đề được quan
tâm, sự xuất hiện của giới hạn thanh khoản trở thành kênh định lượng quan trọng hơn
so với một sự giảm cầu tiêu dùng của khách hàng.
Theo cách khác, để đánh giá sự quan trọng về định lượng của giới hạn thanh
khoản và sự làm giảm cầu, và để theo dõi hiệu ứng trong dài hạn, chúng tôi quay về
một " Cách tiếp cận danh mục đầu tư." Đặc biệt, chúng tôi phân loại mỗi cổ phần theo
hai kích thước: cổ phần có độ thanh khoản cao hay thấp( thí dụ, giá trị chỉ số Whited-
Wu cuả nó nằm trên hay nằm dưới mức trung bình theo những công ty trong mẫu), và
có nhạy cảm tới cầu khách hàng trên hay dưới mức trung bình. Sau đó chúng tôi
nhóm tất cả các cổ phần vào trong bốn danh mục đầu tư có trọng số bằng nhau: danh
mục đầu tư HH đặt vào nhóm có trọng số ngang bằng có tính thanh khoản và độ
nhạy cảm cao đối với sự giảm cầu tiêu dùng; Danh mục HL được đặt vào nhóm cổ
phần có giới hạn thanh khoản cao, nhưng có mối quan hệ không nhạy cảm lắm đối
với thay đổi về lòng tin và cầu tiêu dùng của khách hàng. Danh mục đầu tư LH và
LL được định nghĩa cũng trên cơ sở đó. Chúng tôi thấy rằng danh mục đầu tư HH rõ
ràng đã sụt giảm nhiều nhất trong giá chứng khoán, trong khi danh mục đầu tư LL là
nhỏ nhất. Sự khác nhau giữa danh mục đầu tư HH và LL theo giới hạn phần trăm cổ
phiếu rớt giá là gần một nửa sự rớt giá không điều kiện. Hơn nữa, giữa hai Danh mục
này, hầu hết sự khác biệt đầu tiên giữa các công ty kinh doanh chéo nhau có độ lớn
8
mức rớt giá chứng khoán khác nhau cho thấy có quan hệ giữa các công ty kinh
doanh chéo trong độ giới hạn thanh khoản.
Như cách tiếp cận thực nghiệm của chúng tôi tương đối mới, sự giải thích của
chúng tôi chấp nhận được hay không tuỳ thuộc vào đo lường của chúng tôi về sự
nhạy cảm của cầu và giới hạn thanh khoản là rõ ràng và hợp lệ hay không. Chúng tôi
bắt đầu bằng việc thử lại chỉ số của chúng tôi dựa vào sự phản hồi giá cổ phiếu mức
công ty phản ánh chủ yếu từ cú sốc về cầu bao gồm cả cú sốc nặng về thanh khoản từ
vụ khủng bố 11/9. Chắc chắn rằng lãi suất thị trường có tăng lên vào vài ngày đầu
sau vụ 11 tháng 9 năm 2001. Tuy nhiên, cục dự trữ Liên bang đã đưa ra một hành
động quyết định để bình ổn thị trường. Lãi suất thị trường của FED là thích hợp để
khôi phục tính thanh khoản cần thiết cho nền kinh tế. Cùng lúc đó, cả hai dự báo kinh
tế về tỷ lệ tăng trưởng của Mỹ và lòng tin khách hàng được đo bởi chỉ số tình cảm
khách hàng của Michigan đã đón nhận một thời kỳ suy thoái sâu sắc ngay sau vụ tấn
công 11/9. Cái nhìn bi quan sâu sắc hơn về nền kinh tế Mỹ kéo dài ít nhất trong 6
tháng. Điều này cho thấy rằng cú sốc 11/9, được đo lường hơn 1 tháng sau vụ tấn
công khủng bố, phản ánh một cú sốc tiêu cực tới lòng tin của khách hàng. Để tô đậm
thêm sự giải thích của mình, chúng tôi cũng theo dõi một biến hồi quy về sự suy sụp
giá chứng khoán trong 1 tháng sau cú sốc 11/9 theo đo lường các giới hạn thanh
khoản của Whited và Wu (sử dụng đặc trưng của công ty với giá trị đến cuối năm
2000 để đảm bảo biến được xác định trước). Những sự khác biệt về giới hạn thanh
khoản của các công ty kinh doanh chéo trở thành không quan trọng trong việc giải
thích sự khác biệt trong sự suy sụp giá cổ phiếu của chúng trong thời gian này. Điều
này cho thấy thêm rằng chỉ số 11/9 không phải có khả năng bị hư hại nặng nề bởi yếu
tố giới hạn thanh khoản.
Bây giờ chúng tôi bàn đến tính hợp lệ của biện pháp then chốt về giới hạn thanh
khoản mức công ty. Khi kiểm tra linh hoạt, chúng tôi thay thế chỉ số Whited-Wu về
giới hạn thanh khoản bằng một chỉ số bản tính cấp độ khu vực dựa trên nguồn tài
chính bên ngoài được Rajan và Zingales đề xướng (năm 1998). Chỉ số mới này cũng
9
có một hệ số thống kê và phủ định quan trọng: những công ty vốn dựa nhiều hơn vào
nguồn tài chính ngoài thì chịu đựng rớt giá chứng khoán lớn hơn. Mở rộng ra, chúng
ta cũng có thể kết hợp chỉ số Whited-Wu (WW) với chỉ số Rajan- Zingales (RZ)
trong cùng một hồi quy khi chúng đo những điều hơi khác nhau. Chúng tôi thấy rằng
thậm chí trong số những công ty tồn tại trong các khu vực dựa vào tài chính bên
ngoài(theo chỉ số RZ), chúng cũng tương đối bị giới hạn thanh khoản nhiều hơn(theo
chỉ số WW) trải qua một sự rớt giá cổ phiếu lớn.
Để chắc chắn các biến hồi quy then chốt của chúng tôi lấy được một cái gì đó
duy nhất từ thời kỳ khủng hoảng nhà đất, chúng tôi kiểm soát một phép thử trong giai
đoạn từ 30 tháng 5 đến 30 tháng 7 năm 2007. Chúng tôi thử lại bằng cách tìm kiếm
một cơ sở dữ liệu tin tức điện tử mà vấn đề nhà đất lúc đó vẫn chưa được đoán nhận
rộng rãi như một cuộc khủng hoảng trong thời gian này. Chúng tôi quay lại sự thay
đổi trong giá cổ phiếu dựa trên giới hạn thanh khoản mức công ty (khi được đo bằng
chỉ số Whited-Wu) và nhạy cảm mức công ty đối với cú sốc nhu cầu(khi được đo
bằng chỉ số 11/9 của chúng tôi). Ngoài ra không phải chỉ số thống kê đặc trưng nào
cũng đều khác không trong thời gian này. Điều này cho phép tiên đoán trước sự bùng
nổ của cuộc khủng hoảng trong tháng 8 năm 2007, những thay đổi giá cổ phiếu không
liên quan đến giới hạn thanh khoản hay độ nhạy cảm của cầu (sau này giá cổ phiếu kỳ
vọng đã được đặt trong bất kỳ hiểu biết nào về thanh khoản và cú sốc về cầu).
Từ khi khủng hoảng nhà đất nổ ra trong tháng 8 năm 2007 có những thay đổi
khác trong môi trường kinh tế. Những nhân tố nổi bật nhất là một sự sụt giảm giá
ghê gớm của đôla Mỹ so với đồng ero, đồng yên và những tiền tệ khác, giá dầu và
giá hàng hoá khác cứ từ từ tăng lên. Nếu ai tin tưởng vào tính hợp lệ của mô hình
nhân tố thứ 3 của Fama và French, người đó đã có thể hiểu bài tập của chúng tôi khi
đặt câu hỏi có một sự phân loại trước sau của các công ty trong những giới hạn về
thanh khoản và độ nhạy cảm của cầu hay không sẽ giúp giải thích thay đổi tiếp theo
về giá chứng khoán, ngoài những điều có thể giải thích bằng mô hình 3 nhân tố. Bản
thân bài tập này rất rành mạch. Theo một nghĩa, làm rõ tiền tệ và sự thay đổi giá
10
hàng hoá đã được nắm bắt bởi mô hình 3 nhân tố rồi.
Tuy nhiên, khi mở rộng, chúng tôi nỗ lực tính đến vai trò của những thay đổi
trong tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hoá để giải thích những thay đổi giá chứng khoán
từ tháng 8 năm 2007.
Vì chúng tôi không có thông tin một cách hệ thống trong sự suy sụp về lợi tức
của các công ty và chi phí bởi tỷ lệ nước/tiền tệ từ bất kỳ cơ sở dữ liệu tiêu chuẩn nào,
chúng tôi phải triển khai tiếp cận một cách gián tiếp để đánh giá thực chất của các
công ty về sự thay đổi giá hàng hoá và dịch vụ của chúng. Tiếp theo chúng tôi có một
thủ tục gồm 3 bước. Đầu tiên, sử dụng thông tin tuần từ 2004 đến 2006, chúng tôi
đánh giá tính nhạy cảm của công ty đối với thay đổi của giá cả hàng hoá và tiền tệ
chính bằng việc sử dụng một khung hồi quy. Thứ hai, chúng tôi tập hợp những hệ số
nhạy cảm mức công ty với thay đổi giá hàng hoá và tiền tệ từ những hồi quy nêu
trên, và kết hợp chúng với những thay đổi thực sự trong các giá hàng hoá và tỷ giá
hối đoái chính sau tháng 8 năm 2007 để hình thành một thước đo thực chất nhận thức
của mỗi công ty đối với những hệ số này. Thứ ba, chúng tôi thêm mức công ty để
làm sáng tỏ những nhân tố này như những biến điều khiển bổ sung trong những hồi
quy chính của chúng tôi.
Cam đoan rằng, cả tính nhạy cảm câù tiêu dùng lẫn giới hạn thanh khoản đều
tiếp tục có những hệ số thống kê và phủ định quan trọng. Thật ra, kích thước của
những ước lượng điểm khó có thể bị ảnh hưởng bởi sự làm rõ thay đổi trong giá tiêu
dùng và tiền tệ. Cùng lúc đó, với cam đoan tương tự, chúng tôi tìm thấy vài bản chất,
đặc biệt là sự thả nổi giá năng lượng, có một hiệu ứng thống kê quan trọng trong giá
cổ phiếu của nhiều công ty.
Sự xoay vòng kiểm tra linh hoạt này củng cố sự giải thích của chúng tôi về cả
tính thanh khoản và sự mất mát lòng tin khách hàng có ảnh hưởng tiêu cực đến các
công ty phi tài chính trong thời gian khủng hoảng nhà đất. Hơn nữa, với hình thức
thay đổi giá cổ phiếu tương đối thì một sự thắt chặt giới hạn thanh khoản xuất hiện trở
11
thành định lượng cho một nguyên nhân quan trọng hơn.
Bài này liên quan tới các tài liệu kiểm soát tín dụng(chẳng hạn như, Bernanke và
Lown, 1991; Borensztein và Lee, 2002; Dell’Ariccia, Detragiache, và Rajan, 2008, và
nhiều tài liệu khác). Chúng tôi khác với tài liệu trước đó ở chỗ xem xét tính nhạy cảm
của cầu đồng thời với giới hạn thanh khoản. Những thước đo về giới hạn thanh khoản
của chúng tôi, đặc biệt là việc sử dụng chỉ số Whited-Wu là mới mẻ. Đáng chú ý hơn,
cách đo độ nhạy cảm đối với cú sốc về cầu cũng mới. Bài này cũng liên quan đến
một tài liệu nhỏ nhưng đang lớn lên so với ban đầu và những hệ quả của những rắc
rối về nhà đất là một cuộc khủng hoảng tài chính, bao gồm công việc gần đây của
Mian và Sufi (2008), Reinhart và Rogoff (2008), Dell’Ariccia, Igan và Laeven
(2008), và Greenlaw v.v (2008). Kể từ bây giờ, chúng ta không phải tham khảo bài
viết một cách trực tiếp về tài liêụ và định lượng của những cơ chế đối với những
điều mà cuộc khủng hoảng thế chấp nhà đất lan từ khu vực tài chính ra nền kinh tế
thực. Theo nghĩa này thì tài liệu này đã lấp đầy một chỗ trống quan trọng.
Số chỉ mục của tài liệu như sau. Mục 2 giới thiệu thuyết minh then chốt của
chúng tôi, xây dựng những biến then chốt, và những nguồn dữ liệu. Mục 3 bàn về
những kết quả thực nghiệm chính và một sự xoay vòng kiểm tra sự linh hoạt cùng
những mở rộng. Mục 4 đề xuất kết luận những nhận xét.
II. THUYẾT MINH VÀ NHỮNG BIẾN THEN CHỐT
A. Lý thuyết cơ bản
Chiến lược thực nghiệm cơ bản của chúng tôi là để kiểm tra xem có sự phân biệt
trước sau của các công ty thông qua những đặc trưng của họ dưới hình thức độ giới
hạn thanh khoản và tính nhạy cảm với cú sốc làm giảm lòng tin của người tiêu dùng
trước khủng hoảng nhà đất giúp dự đoán tầm quan trọng sau này trong thay đổi giá
chứng khoán từ tháng 8 năm 2007. Để cho chính xác, lý thuyết cơ bản của chúng tôi
được đưa ra
bởi lý thuyết sau đây:
(1)
Stockreturn
it
=
α
0
+
β
1
DemandSensitivity
i
+
β
2
FinancialConstraint
i
,t
−
1
+
ε
it
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét