ra được các quyết định là ngành kinh doanh mới nào cần tham gia, ngành nào nên rút
ra,việc phân phối và sử dụng các nguồn lực của công ty như thế nào cho hợp lý và đạt
được hiệu quả cao nhất tránh tình trạng lãng phí không phân phối công bằng trong mọi
bộ phận của công ty,đồng thời có sự quyết định đúng đắn về việc mở rộng hay thu nhỏ
quy mô của thị trường.
- Công tác tổ chức: Đây là công tác đưa việc hoạch định các chính sách vào áp
dụng cho sản xuất. Sản xuất có phát triển hay không phụ thuộc rất nhiều vào môi trường
mà công tác tổ chức đặt ra cho nó. Công tác này nhằm xác định những hoạt động cần
thiết, sắp xếp các bộ phận phòng ban chuyên môn, giao trách nhiệm đến từng cá
nhân,từng bộ phận, từng mạng lưới phối hợp hoạt động. Công tác tổ chức sẽ giúp cho
việc xác định rõ ràng phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của từng cá nhân để họ có biện
pháp thực hiện nhiệm vụ của mình.
- Công tác điều khiển: Đây là công tác lãnh đạo quá trình vận hành, là sự tác động
đến con người sao cho mỗi cá nhân mỗi thành viên trong công ty đều phải hướng chung
tơí mục tiêu của doanh nghiệp. Công việc điều khiển không có nghĩa là chỉ đưa ra quy
chế chỉ thị, xác lập cách thức làm việc cho mỗi người mà công tác này phải hướng tới
mục tiêu chung cho công ty cũng như lợi ích thiết thực đến bản thân họ.
- Công tác kiểm tra: Đây là giai đoạn cuối cùng của một chiến lược,nó có tác dụng
đánh giá kết quả các hoạt động bằng việc thiết lập các định mức,chuẩn mực để đo lường
thành tích của từng thành viên trong công ty.Trên cơ sở các kết quả thu được đó ta đưa
ra được các giải pháp điều chỉnh cần thiết nhằm hướng tới mục tiêu trong tương
lai.Công tác kiểm tra có một vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành một chiến
lược phát triển cho công ty trong tương lai.
2.2/ Công tác quản trị chiến lược.
*Quản trị chiến lược
Trước kia trong công tác quản trị kinh doanh các nhà kinh tế thường dùng thuật
ngữ quản trị nhưng ngày nay do yêu cầu của việc phát triển sản xuất kinh doanh theo
5
định hướng của nhà quản trị nên thuật ngữ chiến lược được các nhà quản trị thay bằng
quản trị chiến lược.Thuật ngữ này nhằm nhấn mạnh những đặc trưng cơ bản của quản trị
chiến lược trong điều kiện mới.
-Điều kiện môi trường:Trước đây nhiều công ty đã từng thành công do việc tập
trung hầu như toàn bộ các nỗ lực quản lý vào việc hoàn thiện các chức năng hoạt động
nội bộ và thực hiện các công việc hàng ngày của mình một cách hiệu quả nhất.Ngày nay
các công ty thường xuyên gặp phải môi trường kinh doanh biến động, phức tạp và có
nhiều rủi ro.Sự biến đổi nhanh chóng và phức tạp đó tạo ra cho công ty không ít cơ hội
cũng như thách thức và những rủi ro bất ngờ,điều này buộc các nhà quản trị phải phân
tích và dự báo các điều kiện môi trường trong tương lai gần (ngắn hạn) cũng như trong
dài hạn.Từ những nắm bắt về điều kiện môi trường đó mà các nhà quản trị có khả năng
nắm bắt tốt hơn các cơ hội cũng như giảm bớt các nguy cơ tác động đến hoạt động của
tổ chức. Vì vậy quản trị chiến lược có nghĩa là các quyết định của tổ chức đưa ra thường
gắn liền với môi trường kinh doanh liên quan.Việc quan tâm đế môi trường giúp các
doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn để đối phó với những thay đổi của môi trường và làm chủ
được mọi diễn biến trong tương lai đồng thời nó cũng giúp cho doanh nghiệp xác định
được đường lối phát triển của mình(chiến lược phát triển)-đây chính là điều kiện quan
trọng để có biện pháp “đi trước đón đầu” một cách hợp lý.Trong cuốn sách nghiên cứu
về thời và thế của tổng thống Mỹ Nicxon cũng đã viết “Người thức thời là người biết
nhìn ra thời thế và nắm bắt lấy nó để tạo sự nghiệp cho mình”.Thời thế ở đây chính là
môi trường kinh doanh biến động của công ty cho nên các công ty muốn thành công
cũng cần chủ động nắm bắt thời thế một cách nhanh nhậy để từ đó vạch ra cho mình một
chiến lược phát triển một cách hợp lý.
-Điều kiện tư duy mới theo kiểu chiến lược: Đặc trưng của tư duy chiến lược là
nếp nghĩ linh hoạt. Tư duy chiến lược trái với cách tư duy hệ thống, phân tích và sắp
xếp vấn đề một cách máy móc, dựa theo lối tư duy tuyến tính, nó không như cách tư duy
trực giác, đi đến kết luận mà không qua mô tả phân tích.Trong tư duy chiến lược trước
6
hết cầ tìm hiểu rõ đặc tính của từng nhân tố trong tình huống được nghiên cứu sau đó
vận dụng trí tuệ để cấu thành các yếu tố theo cách có lợi nhất. Tư duy chiến lược giúp
cho các nhà quản trị chiến lược tìm được những giải pháp tốt nhất trong những điều
kiện, tình huống thay đổi.
7
*Nội dung của công tác quản trị chiến lược.
Nội dung của quản trị chiến lược có thể được mô tả trong sơ đồ sau.
Về phân tích môi trường: Môi trường ở đây bao gồm cả môi trường bên ngoài và
môi trường bên trong doanh nghiệp.Việc phân tích môi trường tạo cơ sở cho việc xác
định nhiệm vụ và mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Tuỳ từng ngành mà
công ty đang hoạt động mà có sự biến đổi khác nhau,có những ngành môi trường kinh
doanh biến động và diễn biến rất phức tạp và năng động như những ngành sản xuất trang
thiết bị, phần mềm máy tính… nhưng cũng có những ngành có môi trường ổn định hơn
như những ngành sản xuất những đồ dùng thiết yếu…
Sự diễn biến phức tạp của môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến công tác kế hoạch
dẫn đến phải thay đổi thường xuyên mục tiêu mà kế hoạch trước đã đưa ra.Do vậy trước
8
Phân tích môi tr ngườ
Xác nh nhi m v v m c đị ệ ụ à ụ
tiêu
mmmm cm c tiêuụ ụ
Xây d ng các ph ng án chi nự ươ ế
l cượ
Th c hi n chi n ự ệ ế
l cượ
Ki m tra ánh giá v th c hi nể đ à ự ệ
khi tiến hành lập kế hoạch, chiến lược ngắn hạn phải phân tích và hiểu rõ những điều
kiện của môi trường có ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp.
Về xác định nhiệm vụ và mục tiêu: Một điều hết sức quan trọng và cần thiết khi
tiến hành thực hiện các hoạt động của một doanh nghiệp là các doanh nghiệp phải biết
được mục đích và hướng đi của mình trước khi vận động. Hướng đi này được xác định
bằng cách hoạch định các mục tiêu thích ứng với môi trường hiện tại cũng như trong
tương lai. Nhưng điều quan trọng là trước khi đưa ra mục tiêu cho doanh nghiệp cần xác
định rõ nhiệm vụ và chức năng của doanh nghiệp, các mục tiêu của doanh nghiệp là
nhằm vào thực hiện các nhiệm vụ và chức năng đó của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
phải xác định riêng biệt đâu là mục tiêu dài hạn đâu là mục tiêu ngắn hạn, đâu là nhiệm
vụ chính, đâu là nhiệm vụ bổ trợ, đâu là mục đích cuối cùng, đâu là mục tiêu mà doanh
nghiệp muốn đạt được qua từng mốc thời gian. Có như vậy thì doanh nghiệp mới điều
chỉnh hoạt động của mình đúng hướng và hiệu quả.
Về xây dựng phương án chiến lược: Đây là giai đoạn mà doanh nghiệp cần xác
định được những bước đi và biện pháp cụ thể để đạt tới mục tiêu cuối cùng. Chiến lược
giúp các nhà quản trị lập ra những sơ đồ tác nghiệp nhằm dẫn dắt hoặc hướng doanh
nghiệp đi đến những mục tiêu. Để đi đến những mục tiêu có thể có nhiều cách đi, do vậy
các nhà quản trị phải có nhiều bước đi khác nhau phong phú và đa dạng để từ đó có sự
lựa chọn, so sánh để tìm ra phương án tốt nhất.
Việc thực hiện chiến lược: Việc thực hiện chiến lược là khâu quan trọng nhất của
chiến lược.Vấn đề cần đặt ra là phải huy động mọi thành viên trong công ty tập trung
thực hiện tốt các chiến lược đã lựa chọn. Mục tiêu của chiến lược có được thực hiện
một cách triệt để và hiệu quả nhất hay không còn tuỳ thuộc vào khả năng và trách nhiệm
của mọi thành viên trong công ty. Chính vì vậy việc khuyến khích các thành viên của
công ty là rất cần thiết để cho công ty đạt được mục đích của mình.
Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chiến lược: Đây chính là giai đoạn xem xét xem
chiến lược đã đi được đến đâu trong lộ trình của nó.Việc kiểm tra đánh giá phải thường
9
xuyên được tổ chức thực hiện xen lẫn quá trình kiểm tra để xem chiến lược có được đi
đúng lịch trình hay không. Có nhiều nguyên nhân khiến cho mục tiêu của chiến lược
không thể đạt được theo mục tiêu đã đề ra Những nguyên nhân này có thể do sự biến
động của môi trường kinh tế trong và ngoài doanh nghiệp(khách quan) nhưng cũng có
khi là do tác động của nhân tố chủ quan của tổ chức như sự không thu hút đủ nguồn
nhân lực… Do vậy việc thông qua các hệ thống thông tin phản hồi và các biện pháp
kiểm tra theo dõi là rất quan trọng trong quá trình hoàn thành mục tiêu của doanh
nghiệp.
2.3/Xây dựng chiến lược kinh doanh.
*Bước chuyển từ kế hoạch dài hạn sang chiến lược kinh doanh.
ở phạm vi hẹp như một công ty thì chiến lược kinh doanh có chức năng như một kế
hoạch dài hạn, chiến lược kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu và chức năng của
một kế hoạch dài hạn. Kế hoạch của quản trị bao gồm quá trình từ phân tích môi trường
đến việc xác định nhiệm vụ, mục tiêu và chiến lược xây dựng doanh nghiệp. Chiến lược
là phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được
những thành công để duy trì sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp.
Cũng như sự chuyển đổi từ quản trị sang quản trị chiến lược thì chiến lược kinh
doanh là sự phản ánh đặc trưng của kế hoạch dài hạn. Sau chiến tranh thế giới lần II, đặc
biệt là sau những năm 1960, do việc ứng dụng thành công các thành tựu của khoa học kỹ
thuật vào việc sản xuất kinh doanh nên hầu hết các công ty trên thế giới đã chuyển từ kế
hoạch tác nghiệp ngắn hạn sang kế hoạch dài hạn. Nhưng vào những năm 1970 thì do
sự phát triển bùng nổ của nền kinh tế toàn cầu cộng với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các
đối thủ nên các công ty muốn tồn tại thì phải đặt ra cho mình một kế hoạch sao cho phù
hợp với sự phức tạp của môi trường. Do vậy nét đặc trưng của tầm nhìn dài hạn đòi hỏi
phải hướng tới sự mềm dẻo cần thiết nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của tổ
chức trrước những thời cơ và thách thức mới các nhà quản trị gọi đặc trưng này là mang
10
tính chiến lược. Chính điều này đã đưa các công ty chuyển từ kế hoạch dài hạn sang việc
thực hiện các chiến lược kinh doanh vì chiến lược kinh doanh có ưu việt hơn kế hoạch
dài hạn để thích ứng với sự biến động thường xuyên của môi trường kinh tế.
Thuật ngữ “Chiến lược”xuất phát từ lĩnh vực quân sự .Trong quân sự chiến lược
được hiểu là “Nghệ thuật phối hợp các lực lượng quân sự, chính trị, tinh thần, kinh tế
được huy động vào chiến tranh để đánh thắng kẻ thù ”.Hai yếu tố cơ bản tạo ra thành
công của chiến lược là cạnh tranh và bất ngờ, nếu tổ chức nào tạo ra được bất ngờ và
phát huy được sức mạnh trong cạnh tranh thì tổ chức đó sẽ thành công. Ngày nay những
yếu tố này cũng được coi là những yếu tố cơ bản để chiến thắng trong kinh doanh.Từ đó
cũng có thể hiểu chiến lược chiến lược kinh doanh là quá trình xác định các mục tiêu
tổng thể phát triển doanh nghiệp và sử dụng tổng hợp các yếu tố kỹ thuật,tổ chức kinh tế
và kinh doanh để chiến thắng trong cạnh tranh và đạt được những mục tiêu đề ra.
* Các cấp chiến lược.
Chiến lược có thể được tiến hành ở nhiều cấp khác nhau, nhưng thông thường có
hai cấp cơ bản nhất là cấp công ty và cấp cơ sở kinh doanh
Chiến lược cấp công ty: Chiến lược cấp công tý xác định ngành kinh doanh mà các
doanh nghiệp đang hoặc sẽ phải tiến hành. Do đó nó phải đề ra được đúng hướng phát
triển cho các đơn vị kinh doanh đơn ngành giới hạn lĩnh vực hoạt động của họ trong một
ngành công nghiệp hoặc dịch vụ chính. Các đơn vị kinh doanh đa ngành hoạt động trong
hai ngành trở lên, vì vậy nhiệm vụ của họ sẽ phức tạp hơn. Họ cần phải quyết định xem
sẽ tiếp tục hay không các ngành hiện đang kinh doanh, đánh giá khả năng cac ngành mới
và đưa ra quyết định cần thiết.
Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh cần được đưa ra đối với các đơn vị kinh doanh
đơn ngành cũng như đối với mỗi đơn vị kinh doanh cơ sở trong đơn vị kinh doanh đa
ngành. Chiến lược phải làm rõ xem các đơn vị tham gia cạnh tranh như thế nào. chiến
lược cấp cơ sở kinh doanh có mức độ quan trọng như nhau đối với các đơn vị kinh
doanh dơn ngành và từng đơn vị kinh doanh trong đơn vị đa ngành. Chiến lược cấp cơ
11
sở kinh doanh dựa trên dựa trên tổ hợp các chiến lược khác nhau ở cấp chiến lưọc trung
tâm. Đối với mỗi hãng khác nhau sẽ có chiến lược trung tâm khác nhau.có hãng thì coi
chiến lược marketing là trung tâm, có hãng thì lại coi về nghiên cứu phát triển (Thường
được coi là chiến lược trung tâm ở các công ty lớn của các nước phát triển – còn gọi là
chiến lược R & D) là trung tâm, các chiến lược trung tâm có chức năng liên kết các chức
năng khác. Mỗi chiến lược cấp cơ sở cần phù hợp với chiến lược cấp công ty và chiến
lược cấp cơ sở khác của công ty.
* Tổ chức xây dựng chiến lược.
-Vai trò nhà quản trị doanh nghiệp trong xây dựng chiến lược.
Nhà quản trị doanh nghiệp là người đứng đầu, lãnh đạo các hoạt động của doanh
nghiệp, là người biết điều khiển hoặc phối hợp các công việc của mọi thành viên trong
công ty một cách có hiệu quả. Do vậy họ chính là người quyết định thành công của công
tác kế hoạch trong doanh nghiệp. Các nhà lãnh đạo thường là người đưa ra những tư
tưởng xuất phát đưa ra những mục tiêu chung của doanh nghiệp và xác định những biện
pháp có tính chiến lược. Mặt khác việc xây dựng Chiến lược phát triển đòi hỏi sự tham
gia của mọi thành viên trong công ty nên việc khuyến khích các thành viên trong công ty
tham gia đầy đủ vào việc xây dựng chiến lược đòi hỏi phải có sự quan tâm rất lớn của
người lãnh đạo mới có tác dụng lôi cuốn mọi thành viên trong công ty. Đối với những
công ty nhỏ thì vai trò của người lãnh đạo bao trùm cả việc xây dựng cũng như tổ chức
thực hiện. Còn đối vơí các công ty trung bình và lớn thì việc tổ chức và thực hiện công
tác quản trị chiến lược phức tạp hơn, người lãnh đạo khó nắm toàn bộ công tác chiến
lược thì cần phải có sự phân công trách nhiệm tạo ra các đơn vị hỗ trợ.
Có hai loại quản trị chiến lược đó là nhà quản trị chiến lược và nhà quản trị chức
năng. Nhà quản trị chiến lược là những người chịu trách nhiệm về khả năng hoạt động
chung của công ty, hay đơn vị hoạt động chính. Quan tâm chính của họ là sức mạnh của
toàn bộ công tydưới sự lãnh đạo của họ. Còn nhà quản trị chức năng là người chịu trách
nhiệm về một chức năng hoạt động cụ thể: quản trị nguồn tài chính, nguồn nhân lực, lao
12
động sản xuất, marketing … Quyền hạn của các nhà quản trị này thưừng giới hạn trong
phạm vi nhất định. Họ tham gia vào việc xây dựng các chiến lược bộ phận
*Vai trò của công tác kế hoạch hoá trong xây dựng chiến lược.
Các phòng ban kế hoạchcông ty thường được coi là bộ phận tham mưu, có nhiệm
vụ lãnh đạo phân tích tình hình, xác định mục tiêu chiến lược và các phương pháp cơ
bản để đạt được mục tiêu để ra. Bộ phận này cũng có nhiệm vụ tổng hợp các kế hoạch
đã được soạn thảo ở các bộ phận khác và chuẩn bị các nghiên cứu cần thiết các bước
triển khai. đồng thời họ cũng cố vấn cho các bộ phận chức năng, giúp các bộ phận này
xây dựng kế hoạch và cùng nghiên cứu các lĩnh vực đặc thù
Việc tổ chức phòng ban kế hoạch trong công ty phụ thuộc vào quy mô của doanh
nghiệp. Đối với các doanh nghiệp nhỏ thường không có bộ phận kế hoạch riêng biệt,
việc xây dựng kế hoạch là nhiệm vụ của tất cả các bộ phận . Người lãnh đạo trực tiếp
tổng hợp kế hoạch và chủ trì việc xây dựng chiến lược. Còn đối với các doanh nghiệp
vừa và lớn thường được tổ chứ có phòng ban kế hoạch nhất định. Bộ phận này chuyên
trách việc xây dựng chiến lược và kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng như giúp lãnh đạo
công ty theo dõi quá trình việc thực hiện chiến lược.
III/Quy trình xây dựng Chiến lược cho công ty.
Việc xây dựng Chiến lược kinh doanh phù hợp cho một công ty là rất quan trọng
do vậy nó đòi hỏi phải được thực hiện theo những chuẩn mực sau:
1/ Phân tích môi trường kinh doanh.
1.1/ Phân tích môi trường vĩ mô.
a/ Các yếu tố kinh tế.
Các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh tế xã hội thường có ảnh hưởng rất mạnh mẽ tới các
ngành kinh tế nói chung và của các công ty nói riêng. Đặc biệt đối với ngành xuất nhập
khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thì các ảnh hưởng của môi trường kinh tế như sau.
13
-Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Trong thập kỷ 90 tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta
khá cao, tương đối ổn định(mặc dù có những biến động do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng kinh tế năm 1997) và thu nhập bình quân đầu người cũng có bước tăng đáng kể.
Điều này được thể hiện qua bảng sau:
Biểu 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1994 - 1998.
Năm Tốc độ tăng trưởng kinh tế(g) Thu nhập bình quân (1000đ)
1994 8.8 2017.2
1995 9.5 2473.2
1996 9.3 2720.4
1997 9.0 2930.2
1998 6.0 2730.0
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét