Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

Kinh doang xăng dầu nội địa của Tổng công ty xăng dầu Việt Nam PETROLIMEX

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
sử dụng vốn,bảo toàn và phát triển được vốn qua mỗi chu kỳ kinh doanh,
chấp hành đầy đủ các nguyên tắc và kỷ luật,sử dụng vốn tiết kiệm
Quản lý chi phí kinh doanh là phải có kế hoạch và mục tiêu chi phí,có
quy định rõ mức độ quyền hạn của các cấp trong nghiệp được duyệt chi và chi
phí như thế nào là hợp lý,hợp lệ,tiết kiệm,quản lý chi phí kinh doanh là nắm
bắt được nội dung của các khoản chi,nắm được các nguyên tắc,chế độ chi
trả,thanh toán và mức độ của các khoản chi trong doanh thu,lợi nhuận
Quản lý hàng hóa trong kinh doanh nhằm giúp cho khách hàng đến với
doanh nghiệp với chất lượng tốt nhất.Để dự trữ,bảo quản hàng hóa,các doanh
nghiệp phải có các cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng theo đòi hỏi kỹ thuật của
mặt hàng như nhà kho,các phương tiện chứa đựng
Quản lý nhân sự là quản trị những hoạt đông liên quan đến nhân sự
như:việc tạo lập,duy trì,sử dụng và phát triển có hiệu quả yếu tố con người
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp một cách tốt
nhất.Quản trị nhân sự là một mặt của công tác quản trị doanh nghiệp là quá
trình hoạch định,tuyển dụng,tổ chức sắp xếp,đào tạo và phát triển,đãi ngộ
nhân sự và phân quyền,giao quyền,tạo dựng ê kíp,cũng như đánh giá nhân sự
c.Đánh giá kết quả của hoạt động kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh là thành tích hoạt động sản xuất kinh
doanh mà doanh nghiệp đạt được trong một giai đoạn nhất định. Kết quả có
thể là đại lượng định lượng được như: số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu,
lợi nhuận,… Kết quả cũng có thể là đại lượng chỉ phản ánh chất lượng, mang
tính chất định tính như: chất lượng sản phẩm, danh tiếng và uy tín của doanh
nghiệp.
Các kết quả kinh doanh phải được xem xét bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau.
- Doanh thu:
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Doanh thu là một chỉ tiêu kinh tế cơ bản phản áng mục đích kinh doanh
cũng như kết quả sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu doanh thu có ý nghĩa to lớn
trong việc đánh giá quá trình và quy mô sản xuất kinh doanh và quản lý
doanh nghiệp. Đây là cơ sở dể phân tích các chỉ tiêu khác có liên quan, nó còn
là căn cứ đáng tin cậy cho các cấp lãnh đạo đề ra những quyết định tối ưu
trong việc sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế và xác định chính
xác kết quả tài chính của doanh nghiệp.
Doanh thu bán hàng: là chỉ tiêu phản ánh giá trị thực hiện do hoạt động
sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, cung cấp lao vụ, dịch vụ
cho khách hàng. Giá trị của hàng hoá được thỏa thuận ghi trong hợp đồng
kinh tế về mua bán và cung cấp hàng hóa, lao vụ, dịch vụ đã được ghi trong
hoá đơn bán hàng hoặc trên các chứng từ khác có liên quan đến hoạt động bán
hàng hoặc thoả thuận giữa người mua và người bán về giá bán hàng hoá.
Doanh thu bán hàng thuần: Được xác định như sau:

Trong đó:
Thuế doanh thu phải nộp được tính bằng tỷ lệ % trên doanh thu chịu thuế:
Thuế suất doanh thu được quy định cho từng ngành cụ thể:


Thuế xuất khẩu: là khoản thuế được tính trên doanh thu bán hàng xuất
khẩu được qui định riêng cho từng mặt hàng cụ thể.
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
6
Thuế doanh thu
phải nộp
Doanh thu
tính thuế
Thuế suất thuế
doanh thu
Doanh thu bán
hàng thuần
Doanh thu
bán hàng
Các khoản
thuế
Các khoản giảm
trừ doanh thu
Doanh thu
tính thuế
Doanh thu
bán hàng
Các khoản giảm
trừ doanh thu
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thuế tiêu thụ đặc biệt: là loại thuế đánh vào các mặt hàng chịu thuế đặc
biệt. Hiện nay, có ba mặt hàng phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đó là: thuốc là,
rượu, bia.
- Lợi nhuận:
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh
doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của
doanh nghiệp. Từ góc độ của doanh nghiệp thì lợi nhuận là khoản tiền chênh
lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập đó.
Lãi nhuần được xác định như sau:
Lãi nhuần = Lãi gộp – Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp.
Lãi gộp được xác định:
Lãi gộp = Doanh thu thuần – Giá vốn bán hàng.
Giá thanh toán cho người bán là giá được ghi trên hoá đơn do người mua
hàng đem về cùng với hàng mua sau khi đã trừ đi các khoản chiết khấu, giảm
giá.
Chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng bao gồm: chi phí bảo hiểm, bốc
dỡ vận chuyển, tiền thuê kho bến bãi, hao hụt định mức trong khâu mua, khoản
lệ phí phải nộp trong khâu mua, tiền lương và bảo hiểm của cán bộ chuyên trách
mua (nếu có).
Chi phí bán hàng: phản ánh các khoản phí thực tế phát sinh trong quá
trình tiêu thụ hàng hoá, lao vụ, dịch vụ, bao gồm các chi phí quản lý, đóng
gói, vận chuyển, giới thiệu, bảo hành sản phẩm hàng hoá. Chi phí bán hàng
bao gồm các khoản mục sau: Chi phí nhân viên, chi phí vật liệu bao bì, chi
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
7
doanh thu tính
thuế
Thuế suất thuế
doanh thu
Thuế doanh thu
phải nộp
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phí dụng cụ đồ dùng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua
ngoài, chi phí bằng tiền khác.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: phản ánh các khoản chi phí quản lý kinh
doanh bao gồm: chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ
dùng văn phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định, thuế và các khoản lệ phí,
chi phí dự phòng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền khác.
- Chi phí kinh doanh:
Chi phí là đại lượng quan trọng để xác định hiệu quả kinh doanh. Chi phí
kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của các hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ kinh
doanh nhất định để thực hiện quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các nhà sản xuất phải chịu chi phí
về nguyên vật liệu, lao động cần thiết để cho quá trình sản xuất, các chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Các khoản chi phí bán hàng và chi
phí quản lý doanh nghiệp. Các khoản chi phí này gọi là chi phí ngoài sản xuất,
là các phí tổn phát sinh trong kỳ. Các khoản chi phí sản xuất là các khoản chi
phí sản phẩm. Để thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng và hạch toán, chi phí
thường được phân thành hai loại:
Chi phí cố định (định phí): là những chi phí không có sự biến động tăng
hay giảm theo sự biến động tăng hoặc giảm của khối lượng sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ, lao vụ. Chi phí cố định gồm có: Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi
phí quản lý chung, chi phí về thuế vốn, thuế trước bạ, thuế môn bài, các loại phí
bảo hiểm tài sản, tiền thuê tài sản.
Chi phí biến đổi (biến phí): là những chi phí kinh doanh có sự biến động tăng
hoặc giảm tương ứng với sự biến động tăng hoặc giảm của khối lượng sản
phẩm, hàng hoá, lao vụ. Chi phí này luôn biến đổi ở các kỳ kinh doanh với
nhau. Chi phí biến đổi gồm có: chi phí tiêu hao vật tư, nguyên vật liệu để sản
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
xuất sản phẩm, chi phí về tiền lương cho bộ phận sản xuất, bộ phận bán hàng
và bộ phận quản lý chung theo khối lượng kinh doanh, chi phí thuế doanh thu,
thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
* Các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp:
Các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của toàn bộ quá
trình sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp. Hiệu quả tổng hợp được xác
định thông qua việc tính toán, so sánh giữa các chỉ tiêu kết quả kinh doanh và
chi phí sản xuất
Lợi nhuận: Lợi nhuận là phần chênh lệch dương giữa tổng thu nhập và
tổng chi phí của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Lợi nhuận được
xác định như sau:
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Lợi nhuận là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Nhà quản trị quan tâm tới chỉ tiêu này vì lợi nhuận là điều kiện tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Càng tạo ra nhiều lợi nhuận, doanh nghiệp
càng phát triển vững mạnh, đời sống người lao động càng được nâng cao
Tỷ lệ lãi gộp:
Tỷ lệ lãi gộp là chỉ tiêu dùng để phản ánh ảnh hưởng của giá bán hàng
hoá tới hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp.
Lãi gộp
Tỷ lệ lãi gộp = x 100
Doanh thu thuần
Tỷ lệ lãi gộp càng cao chứng tỏ phần giá trị mới sáng tạo của hoạt động
sản xuất kinh doanh càng lớn, doanh nghiệp càng được đánh giá cao và ngược
lại. Nếu giá bán vẫn giữ nguyên nhưng tỷ lệ lãi gộp giảm thì ta có thể kết luận
là chi phí đã tăng lên. Chi phí ở đây được hiểu là chi phí mua nguyên vật liệu
phục vụ sản xuất hay giá vốn hàng bán.
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Doanh lợi sản xuất:
Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá khả năng sinh lời của toàn bộ hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận
Doanh lợi sản xuất =
Doanh thu
Chỉ tiêu này cho biết một đồng doanh thu sẽ đem lại cho doanh nghiệp
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu doanh lợi này càng cao thì lợi nhuận tạo ra
càng nhiều, chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Do hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức
tạp, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh nên
doanh nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi sử dụng có hiệu quả các yếu tố
cơ bản như vốn,trang thiết bị, lao động… Để đánh giá một cách toàn diện về
hiệu quả kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, người ta thường kết
hợp sử dụng các chỉ tiêu bộ phận để đánh giá từng mặt hoạt động cụ thể.
Mối quan hệ giữa chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp và chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
bộ phận không phải là mối quan hệ cùng chiều. Trong kỳ chỉ tiêu hiệu quả tổng
hợp tăng lên thì có thể những chỉ tiêu bộ phận có thể tăng lên, cũng có thể
không đổi hoặc giảm
* Hiệu quả sử dụng vốn:
Mỗi doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh thì trước tiên
phải có vốn, vốn là điều kiện không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất,
là tiền đề, là phương tiện cho quá trình hoạt động kinh doanh.
Hiệu quả sử dụng vốn là một phần chính yếu trong hiệu quả kinh tế của
doanh nghiệp, nó phản ánh mặt hoạt động kinh doanh trên góc độ vốn. Đối
với hoạt động kinh doanh thương mại thì vốn vận động hầu hết các quá trình
nghiệp vụ. Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và vốn lưu động, ta
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
lần lượt tính từng chỉ tiêu.Hiệu quả sử dụng vốn là một phần chính yếu trong
hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, nó phản mặt hoạt động kinh doanh trên
góc độ vốn. Đối với hoạt động kinh doanh thương mại thì vốn vận động hầu
hết các quá trình nghiệp vụ. Vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và
vốn lưu động, ta lần lượt tính từng chỉ tiêu.
- Chỉ tiêu doanh lợi trên vốn sản xuất:
Lợi nhuận
Doanh lợi vốn =
Tổng vốn sử dụng
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ sinh lời của toàn bộ vốn kinh doanh, cho
biết một đồng vốn bỏ vào kinh doanh sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Doanh lợi vốn càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại.
- Hiệu quả sử dụng vốn cố định:
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước
về tài sản cố định, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong
nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết
thời gian sử dụng. Quan niệm về tính hiệu quả của việc sử dụng vốn cố định
phải được hiểu trên hai khía cạnh.
Với số vốn hiện có, có thể sản xuất thêm một số lượng sản phẩm với
chất lượng tốt, giá thành hạ để tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Đầu tư thêm vốn một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để
tăng doanh số tiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn
hơn tốc độ tăng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn cố định phản ánh cứ một đồng vốn cố định tham
gia sản xuất sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn
cố định được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá chất lượng và hiệu
quả đầu tư cũng như chất lượng sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:
Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá
trình tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động đóng vai trò quan trọng, mang tính quyết định
trong hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nó được xác định thông qua
mối quan hệ giữa kết quả thu được và lượng vốn bỏ ra
Lợi nhuận
Doanh lợi vốn lưu động =
Vốn lưu động
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động bỏ vào kinh doanh sẽ thu
được bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Mức doanh lợi vốn càng
lớn thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao, thể hiện khả năng phản ánh sự cố gắng
của doanh nghiệp trong việc hợp lý hoá hoạt động kinh doanh của mình và
đảm bảo tiết kiệm chi phí
* Hiệu quả sử dụng lao động:
Dựa vào phần lý luận về hiệu quả kinh tế ở trên, ta có thể hiểu sử dụng
lao động trong các doanh nghiệp là chỉ tiêu tương đối, phản ánh quan hệ giữa
các đại lượng kết quả của hoạt động kinh doanh và đại lượng chi phí lao động
sống để đạt được kết quả đó. Hiệu quả sử dụng lao động chính là một chỉ tiêu
quan trọng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
nó phản ánh kết quả và trình độ sử dụng lao động của từng đơn vị trong doanh
nghiệp. Đánh giá hiệu quả lao động trong các doanh nghiệp là rất cần thiết,
giúp doanh nghiệp thấy rõ khả năng của mình, đồng thời khắc phục những tồn
tại trong công tác quản lý sử dụng lao động nhằm đạt tới mục tiêu đề ra. Đánh
giá hiệu quả sử dụng lao động không thể nói chung mà phải thông qua hệ
thống chỉ tiêu đánh giá, bao gồm:
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Năng suất lao động:
Chỉ tiêu này thường được biểu hiện dưới hai dạng: Chỉ tiêu hiện vật và
chỉ tiêu giá trị.
Chỉ tiêu hiện vật:
Số lượng sản phẩm Số sản phẩm sản xuất trong kỳ
bình quân một nhân viên Số nhân viên bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu giá trị:
Doanh thu bình quân Doanh thu bán hàng trong kỳ
một nhân viên trong kỳ Số nhân viên bình quân trong kỳ
- Lợi nhuận bình quân một nhân viên:
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Lợi nhuận bình quân Lợi nhuận của doanh nghiệp
một nhân viên Số nhân viên bình quân của DN
Chỉ tiêu này cho biết mỗi lao động sử dụng trong doanh nghiệp tạo ra
được bao nhiêu lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định.
Chỉ tiêu năng suất lao động và lợi nhuận bình quân một nhân viên càng
cao thì hiệu quả sử dụng lao động càng tốt. Việc phân tích, đánh giá hai chỉ
tiêu này giúp doanh nghiệp có thể khống chế số lượng lao động ở mức hợp lý,
vừa đảm bảo sử dụng tốt về số lượng thời gian và chất lượng lao động, vừa
góp phần vào việc tiết kiệm chi phí, tăng thu nhập cho doanh nghiệp.Đội ngũ
lao động giữ vai trò quan trọng trong việc kinh doanh có hiệu quả của doanh
nghiệp. Chất lượng sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào ý thức trách
nhiệm, tinh thần hợp tác của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Để phát huy
được mọi tiềm năng trong lao động, sử dụng lao động có hiệu quả đòi hỏi
phải quản lý lao động một cách khoa học, sử dụng đúng người, đúng việc,
đúng năng lực trình độ.
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Như vậy, việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhiệm vụ quan trọng của
bất kỳ công ty , doanh nghiệp nào trong cơ chế thị trường. Vấn đề đặt ra là
phải phân biệt giữa kết quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh, từ đó có
hướng nghiên cứu phù hợp.Để đưa ra được những biện pháp thích hợp nhằm
nâng cao hiệu quả kinh doanh của mỗi công ty, doanh nghiệp đòi hỏi phải có
sự nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ, chính xác thực trạng kinh doanh ở công ty,
doanh nghiệp đó.
1.2 Đặc điểm kinh doanh doanh xăng dầu và kinh doanh xăng dầu
nội địa
1.2.1 Đặc điểm
Xăng dầu là mặt hàng vật tư thiết yếu và mang tính chiến lược đối với sự
phát triển của đất nước, thuộc độc quyền Nhà nước. Nhà nước Việt Nam thực
hiện độc quyền của mình đối với xuất nhập khẩu xăng dầu thông qua quản lý
quyền trực tiếp xuất nhập khẩu của doanh nghiệp và quy định hạn ngạch nhập
khẩu. Trên cơ sở cân đối nhu cầu xăng dầu hàng năm của nền kinh tế quốc
dân, Nhà nước giao hạn ngạch nhập khẩu cho 10 doanh nghiệp đầu mối; trong
đó, Petrolimex được giao với khối lượng tương ứng với thị phần 55-60%.
Như vậy, Petrolimex giữ vị trí thống lĩnh thị trường xăng dầu nội địa. Vị trí
quan trọng này do Nhà nước xác lập tương ứng với vai trủ chủ đạo của
Petrolimex trong việc bảo đảm xăng dầu cho sự phát triển kinh tế- xã hội, bảo
đảm an ninh quốc phòng, bình ổn giá cả xăng dầu trên thị trường nội địa và
phục vụ đắc lực, có hiệu quả vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước hoạt động kinh doanh xăng dầu của Petrolimex được thực hiện chủ yếu
dưới các hình thức: Mua buôn, bán lẻ và bán qua hệ thống đại lý, tổng đại lý;
bán xăng dầu ra nước ngoài gồm tái xuất và chuyển khẩu.Với chính sách phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tại thị
trường nội địa đang phát triển các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu tham
Phạm Văn Đông Lớp: Thương mại 46A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét