Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

Lê Ngọc ánh - K40
động và t bản đợc xoá bỏ trong phạm vi những nhà máy hợp tác đó; mặc dầu
ban đầu nó chỉ đợc xoá bỏ bằng cách biến những ngời lao động liên hiệp
thành những nhà t bản với chính bản thân mình, nghĩa là cho họ có thể dùng
t liệu sản xuất để bóc lột lao động của chính họ.
Nh vậy theo lý luận của C.Mác sự xuất hiện của công ty cổ phần là kết
quả của sự phát triển của lực lợng sản xuất và là bớc tiến từ sở hữu t nhân lên
sỏ hữu tập thể của các cổ đông.
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
Sự tồn tại phổ biến và vai trò quan trọng của khu vực kinh tế Nhà nớc
trong nền kinh tế thị trờng ở hầu hết các nớc trên thế giới là một thực tế rõ
ràng. Nó đợc coi nh là một công cụ kinh tế của Nhà nớc cùng với các công cụ
tài chính tiền tệ để thực hiện chức năng ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì sự tăng
trởng bền vững và thực hiện công bằng xã hội. Sự khác nhau chủ yếu là mức
độ chiếm giữ và tỷ trọng của khu vực này tuỳ theo quan điểm của mỗi nớc xác
định phát triển nền kinh tế theo mô hình nào. Còn đối với nhóm nớc đang phát
triển thì sự lựa chọn hai mô hình phát triển của 2 nhóm nớc trên sẽ quy định tỷ
trọng khu vực kinh tế Nhà nớc ở mức độ cao thấp khác nhau.
ở nhóm các nớc đang phát triển nhìn chung đều đề cập đến các mục
tiêu trên và còn bổ sung thêm một số mục tiêu có tính đặc thù sau: giảm gánh
nặng nợ nớc ngoài. Thu hút các nhà đầu t nớc ngoài để đổi mới công nghệ và
quản lý nâng cao chất lợng hàng hoá và các dịch vụ trong nớc. Xây dựng và
phát triển thị trờng tài chính trong nớc.
ở nhóm các nớc Đông Âu và SNG còn bổ sung thêm 2 mục tiêu có tính
đặc thù sau: giảm nhanh tỷ trọng gần nh tuyệt đối của khu vực kinh tế Nhà n-
ớc đang gây tình trạng trì trệ và khủng hoảng trong nền kinh tế. Tạo ra hệ
thống kinh tế thị trờng, tăng nhanh khu vực kinh tế t nhân để dân chủ hoá các
hoạt động kinh tế.
Các phơng pháp cổ phần hoá đợc thực hiện phổ biến ở các nớc gồm 3
hình thức: 1) bán cổ phần cho công chúng; 2) bán cổ phần cho t nhân;
3)những ngời quản lý và công nhân mua lại doanh nghiệp. Nói chung các ph-
5
Lê Ngọc ánh - K40
ơng pháp này thờng đợc kết hợp với nhau và tuỳ điều kiện của mỗi nớc mà ph-
ơng pháp nào đợc lựa chọn sử dụng nhiều hơn.
2 Sự cần thiết tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
2.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ phần hoá
Các doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ phần hoá sẽ là doanh nghiệp đa dạng
hoá quyền sở hữu. Trong cổ phần hoá tài sản của doanh nghiệp nhà nớc đợc
bán cho nhiều đối tợng khác nhau nh các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân
trong và ngoài doanh nghiệp. Nhà nớc chỉ giữ lại một tỷ lệ cổ phần thích hợp
trong doanh nghiệp đó. Do đó hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển
sang hình thức sở hữu hỗn hợp. Trên cơ sở đó tất yếu sẽ dấn đến sự thay đổi
quan trọng về hình thức tổ chức quản lý cũng nh hình thức phân phối và ph-
ơng thức hoạt động của công ty. Ngời chủ sở hữu của doanh nghiệp cổ phần
hoá là do các cổ đông bầu chọn ra Hội đồng quản trị là ngời đại diện cho
mình. Doanh nghiệp đợc cổ phần hoá sẽ huy động vốn bằng cách phát hành cổ
phiếu. Doanh nghiệp nhà nớc sau cổ phần hoá trở thành công ty cổ phần điều
lệ và thể thức hoạt động sẽ theo luật công ty
2.2 Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
Mục tiêu nhất quán của cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp Nhà n-
ớc là đi huy động vốn tạo điều kiện để ngời lao động đợc làm chủ thực sự
trong doanh nghiệp, tạo động lực bên trong, thay đổi phơng thức quản lý nhằm
nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời làm tăng tài
sản và thay đổi cơ cấu doanh nghiệp. Qua cổ phần hoá, hình thức sở hữu tại
doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu Nhà nớc duy nhất sang sở hữu hỗn hợp, và
chính từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức, quản lý
cũng nh phơng hớng hoạt động của công ty. Doanh nghiệp Nhà nớc sau khi cổ
phần hoá sẽ trở thành công ty cổ phần, hoạt động theo luật doanh nghiệp.
2.3 Tác dụng của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
Từ thực tiễn của các nớc đã tiến hành cổ phần hoá chúng ta có thể thấy
đợc tác dụng to lớn của cổ phần hoá trong việc đổi mới doanh nghiệp nhà nớc.
Những tác dụng đó đợc thể hiện ở một số khía cạnh sau:
6
Lê Ngọc ánh - K40
- Cổ phần hóa có tác dụng làm cho sở hữu trong doanh nghiệp trở lên
đa dạng hơn. chính vì vậy nó giải quyết đợc khá triệt để vấn đề sở hữu trong
doanh nghiệp nhà nớc vón gây ra những vớng mắc về hiệu quả và sự kém năng
động trong sản xuất kinh doanh.
- Cổ phần hóa có tác dụng trong việc xã hội hoá t liệu sản xuất trong
các doanh nghiệp thuộc sở hữu một chủ. Nh vậy các thực thể kinh tế vi mô
cũng trở nên đa dạng sở hữu nh bản thân nền kinh tế vĩ mô. Điều này tạo ra sự
tơng thích nhất định của các giải pháp quản lý vĩ mô và vi mô.
- Cổ phần hoá tạo cho ngời lao động có cơ hội thực sự làm chủ doanh
nghiệp nếu nh họ mong muốn. Bằng việc sở hữu cổ phần trong doanh nghiệp,
ngời lao động có thể tham gia vào việc quyết định những vấn đề quan trọng
của doanh nghiệp thông qua cái gọi là nền dân chủ cổ phần. Họ góp phần
hình thành nên các cơ quan quản lý doanh nghiệp, quyết định các vấn đề trọng
đại của nó. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động, tích
cực, tinh thần trách nhiệm của ngời lao động không chỉ đối với các vấn đề của
doanh nghiệp mà còn đối với các vấn đề kinh tế chính trị xã hội của đất nớc.
II TIếN TRìNH Cổ PHầN HOá DOANH NGHIệP NHà nớc ở
việt nam.
1 CPH DNNN theo quan điểm của Đảng và Nhà nớc
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nớc đợc tiến hành nhằm nâng cao hiệu
quả kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của cơ chế thị trờng, huy động vốn từ các
thành phần kinh tế, tăng cờng quản lý dân chủ
Đại hội VI (năm 1986) của Đảng ta đã có chủ trơng phát triển nhất
quán kinh tế nhiều thành phần , coi đó là đặc trng của thời kỳ quá độ. đa dạng
hoá hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, nhng vẫn đặt vấn đề làm cho kinh
tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo chi phối đợc các thành phần kinh tế khác
chiếm tỷ trọng lớn cả sản xuất và lu thông.
Đại hội VII (năm 1991) nhận định kinh tế quốc doanh đang lắm vị trí
then chốt gần một phần ba các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh vơn lên
trong kinh doanh và thích ứng với cơ chế mới. Nhng điểm yếu nhất của kinh tế
7
Lê Ngọc ánh - K40
quốc doanh là hiệu quả hoạt động nhìn chung còn thấp. Đại hội đề ra nhiệm
vụ khẩn trơng sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, bảo đảm
kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả nắm vững những lĩnh vực va ngành
then chốt để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Cho thuê và chuyển
hình thức sở hữu hoặc giải thể các cơ sở thua lỗ kéo dài.
Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ơng Đảng lần thứ 2 khoá VII
(tháng 11 - 1991), Đảng chủ trơng chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh
có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ
phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trớc
khi mở rộng phạm vi thích hợp. Cũng trong thời gian đó Quốc hội khoá VIII,
kỳ họp thứ 10 (12 1991) đã đa cổ phần hóa vào nhiệm vụ phát triển kinh tế
xã hội 1991 1995 : thí điểm việc cổ phần hó một số cơ sở kinh tế quốc
doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn vốn phát triển.
Nh vậy đối tợng hình thức và các chính sách cổ phần hoá đã đợc xác
định rõ ràng hơn. Đảng và Nhà nớc khẳng định cổ phần hoá ở Việt Nam
không phải là t nhân hoá vì cổ phần hóa hớng tới tháo gỡ khó khăn về vốn, về
cơ chế cho doanh nghiệp nhà nớc hiện có, không nhằm thu hẹp sở hữu nhà n-
ớc trong nền kinh tế quốc dân. Vốn thu đợc từ bán cổ phần nhà nớc không chỉ
dùng cho ngân sách mà để đầu t tiếp vào nền kinh tế. Nói cách khác thời gian
này cổ phần hoá nặng về mục tiêu thu hút vốn và chuyển đổi mô hình tổ chức
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nớc hơn là thu hẹp sở hữu nhà nớc.
Tuy nhiên đối tợng cổ phần hoá trong giai đoan này vẫn còn khá hẹp, chỉ bao
gồm các doanh nghiệp nhà nớc vừa và nhỏ, kinh doanh không có lãi và không
cần thiết nhà nớc giữ 100% vốn. Đối tợng mua cổ phiếu chủ yếu là cán bộ
công nhân viểntong doanh nghiệp có cho phép cổ đông trong nớc ngoài doanh
nghiệp nhng mức dộ khuyến khích cha cao. Nguyên tắc định giá doanh nghiệp
nhà nớc vẫn còn chung chung chủ yếu căn cứ vào kiểm kê giao vốn. Ngời lao
động trong doanh nghiệp cổ phần hoá đợc mua cổ phiếu chậm trả 12 tháng.
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII đã nêu rõ hơn các
hình thức cổ phần hoá với tính chất và lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Để thu
8
Lê Ngọc ánh - K40
hút thêm các nguồn vốn tạo nên động lực ngăn chặn tiêu cực thúc đẩy doanh
nghiệp nhà nớc làm ăn có hiệu quả thì sở hữu nhà nớc chiếm tỷ lệ cổ phần chi
phối. Việc bán cổ phần đã tiến hành thêm một bớc, thí điểm việc bán một
phần cổ phần, cổ phiếu của một số doanh nghiệp nhà nớc cho các tổ chức và
cá nhân ngoài doanh nghiệp. Thực hiện chia lợi nhuận theo lơng cơ bản kết
hợp với chia theo cổ phần. Trên cơ sở cổ phần hoá, tổ chức Hội đồng quản trị
gồm đại diện cho sở hữu nhà nớc, sở hữu công nhân doanh nghiệp và các chủ
sở hữu khác, Định thể chế và tiêu chuẩn để Hội đồng quản trị tuyển chọn giám
đốc điều hành. Hoàn thiện và áp dụng rộng rãi các hình thức khoán trong
doanh nghiệp nhà nớc. Nhà nớc hố trợ khuyến khích và thực hiện từng bớc
vững chắc phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc dổi mới các
kiên hiệp xí nghiệp, các tổng công ty theo hớng tổ chức các tập đoàn kinh
doanh, khắc phục tính chất hành chính trung gian. Xoá bỏ dần chế độ chủ
quản,cấp hành chính chủ quản và sự phân biệt xí nghiệp trung ơng và xí
nghiệp địa phơng.
Đại hội VII (năm 1996) chủ trơng triển khai tích cực và vững chắc
việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc nhằm huy động thêm vốn tăng thêm
động lực thúc đảy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả làm cho tài sản nhà nớc
ngày càng tăng thêm lên không phải để t nhân hoá. Bên cạnh những doanh
nghiệp 100% vốn nhà nớc sẽ có nhiều doanh nghiệp nhà nớc nắm đa số hay
nắm tỷ lệ cổ phần chi phối. Việc huy động vốn đợc thực hiện bằng cách gọi
thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho ngời lao động tại doanh nghiệp cho các tổ
chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp tuỳ từng trờng hợp cụ thể và vốn huy
động đợc phai dùng để đầu t mở rộng sản xuất kinh doanh.
Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ơng khoá VII tháng 6 năm
1997 xác định cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc là chủ trơng rất
quan trọng. Song cổ phần hoá hay xã hội hoá không đồng nghĩa với phi nhà n-
ớc hoá và càng không phải là t nhân hoá. Phơng châm cơ bản ở đây vẫn là Nhà
nớc và nhân dân cùng làm. trong đó nhà nớc có vai trò nòng cốt thực hiện
9
Lê Ngọc ánh - K40
quản lý nhà nớc tổ chức cho nhân dân và trong điều kiện cụ thể tham gia cùng
với dân, không làm thay dân cũng không khoán trắng.
Đại hội IX(năm 2001) đã đề ra mục tiêu trong 5 năm (2001 2005)
phải cơ bản hoàn thành củng cố sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu đổi mới và nâng
cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nớc hiện có đồng thời phát triển thêm
doanh nghiệp mà nhà nớc đầu t 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số
ngành lĩnh vực và địa bàn quan trọng. Đẩy mạnh thực hiện chủ trơng cổ phần
hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với nhũng doanh nghiệp mà nhà nớc không cần
năm 100% vốn. Việc bán cổ phần cho các tổ chức cá nhân ngoài doanh nghiệp
đớc mở rộng. Thực hiện sáp nhập, giải thể hoặc phá sản các doanh nghiệp nhà
nớc hoạt động không hiệu quả và không thực hiện đợc việc giao, bán, khoán,
cho thuê
Trong chơng trình cụ thể hoá về tiếp tục sắp xếp đổi mới phát triển và
nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc, Đảng chủ trơng đẩy mạnh cổ phần
hoá những doanh nghiệp nhà nớc mà nhà nớc không cần nắm giữ 100% vốn
xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu
quả doanh nghiệp nhà nớc. Đặc biệt Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng lần
thứ 3 đã nêu lên những định hớng quan trọng và chỉ ra những lĩnh vực mà nhà
nớc vẫn giữ 100% vốn quy định chi tiết đối với doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh và đối với doanh nghiệp hoạt động công ích.
Hội nghị Trung ơng 9 khoá IX (tháng 1 năm 2004) quyết định tiếp tục
sắp xếp đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà n-
ớc, trọng tâm là cổ phần hoá và mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nớc cần
cổ phần hoá kể cả một số công ty và doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực điện lực,
luyện kin, cơ khí, hóa chất, phân bón, xi măng, xây dựng, vận tải đơng bộ , đ-
ờng sông, đờng hàng không .Giá trị tài sản doanh nghiệp nhà n ớc thực hiện
cổ phần hoá trong đó có giá trị quyền sử dụng đất về nguyên tắc phải do thị tr-
ờng quyết định. Việc mua bán cổ phiếu phải công khai trên thị trờng, khắc
phục tình trạng cổ phần hoá khép kín trong nôị bộ doanh nghiệp.
10
Lê Ngọc ánh - K40
Tóm lại quá trình cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc ở nớc
ta có nhiều nét đặc thù đó là cổ phần hóa những doanh nghiệp thuộc sở hữu
nhà nớc, mà về thực chất là cổ phần hoá một bộ phận thuộc sở hữu xã hội, sở
hữu toàn dân. Mục tiêu cơ bản của việc chuyển một bộ phận doanh nghiệp nhà
nứơc thành công ty cổ phần là nhằm hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp
với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, nâng cao hiệu quả của những
doanh nghiêp nhà nớc. Cụ thể là tìm một hình thức quản lý vừa phát huy
quyền làm chủ của ngời lao động vừa bảo đảm quản lý một cách có hiệu qủa
những tài sản của doanh nghiệp.
Do đó từ sở hữu của nhà nớc đối với tài sản của doanh nghiệp chuyển
sang công ty cổ phần đa sở hữu, chúng ta đã đa ra nhiều dạng công ty cổ phần
mà về đại thể có thể gói gọn lại thành hai nhóm chính:
- Nhóm các công ty cổ phần trong đó nhà nớc có tham gia cổ phần nh:
giữ nguyên giá trị của doanh nghiệp, kêu gọi thêm vốn bằng cách phát hành
thêm cổ phiếu; bán một phần tài sản của doanh nghiệp; cổ phần hoá một bộ
phận của doanh nghiệp. Tất cả các hình thức cổ phần hoá theo ba dạng trên
đều có tỷ trọng sở hữu của nhà nớc hoặc là nhà nớc nắm giữ cổ phiếu khống
chế (51%), hoặc không nắm giữ cổ phiếu khống chế.
- Loại hình doanh nghiệp cổ phần hóa theo thể thức bán toàn bộ doanh
nghiệp cho ngời lao động nhà nớc dút vốn của mình. Về quan điểm để nhà n-
ớc tập trung đầu t vào những ngành những lĩnh vực thên chốt và địa bàn quan
trọng chiếm thị phần đủ lớn với các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu; không nhất
thiết phải giữ tỷ trọng lớn trong tất cả những ngành lĩnh vực, sản phẩm của
nền kinh tế.
Nh vậy bản chất quá trình cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà
nớc của chúng ta không phải là t nhân hoá mà là chuyển các doanh nghiệp nhà
nớc sang hình thức công ty cổ phần. Công ty cổ phần là dạng công ty mà chủ
sở hữu vốn không phải của một chủ duy nhất mà là nhiều chủ sở hữu. cổ phần
hóa là chuyển chủ sở hữu tài sản lĩnh vực sản xuất kinh doanh lâu nay do nhà
nớc nắm vào tay các thành phần kinh tế khác nhau trong đó có thành phần
11
Lê Ngọc ánh - K40
kinh tế t nhân và thành phần kinh tế quốc doanh. Nh vậy không nhất thiết khi
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nơc thì 100% vốn phải là t nhân. Thực chất cổ
phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là đa dạng hoá quyền sở hữu doanh nghiệp
nhà nớc. Trong cổ phần hoá tài sản của doanh nghiệp nhà nớc đợc bán cho
nhiều đối tợng khác nhau nh các tổ chức kinh tế xã hội, các cá nhân trong và
ngoài doanh nghiệp. Nhà nớc chỉ giữ lại một tỷ lệ cổ phần thích hợp trong
doanh nghiệp đó. do đó hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển sanghình
thức sở hữu hỗn hợp. Trên cơ sở đó tất yếu sẽ dấn đến sự thay đổi quan trọng
về hình thức tổ chức quản lý cũng nh hình thức phân phối và phơng thức hoạt
động của công ty. Doanh nghiệp nhà nớc sau cổ phần hoá trở thành công ty cổ
phần điều lệ và thể thức hoạt động sẽ theo luật công ty. Còn các doanh nghiệp
nhà nớc sau khi t nhân hoá sẽ trở thành doanh nghiệp t nhân vì thế thể thức
hoạt động sẽ theo luật doanh nghiệp t nhân. Nh vậy cổ phần hoá và t nhân hoá
là hai khái niệm riêng rẽ.
Doanh nghiệp nhà nớc khi chuyển sang công ty cổ phần thì đó là quá
trình xã hội hoá chứ không phải là quá trình t nhân hoá. Vì khi thành lập công
ty cổ phần thì cổ phiếu chỉ là giây chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông, còn
giá trị thực của nó đã đợc đầu t vào quá trình sản xuất. Trong trờng hợp công
ty phát hành thêm trái phiếu để huy động thêm vốn thf ngời có trài phiếu của
công ty chỉ là chủ nợ của công ty chứ không có giá trị (giá trị ghi trên giấy tờ
chứng khoán chỉ là giá trị danh nghĩa), còn giá tri thực của nó đợc đầu t đầu t
vào qua trình sản xuất. Giá trị thực của nó đợc đầu t vào qua trình sản xuất đợc
tồn tại dới hình thức nh nhà xởng máy móc, thiết bị vật t nguyên vật liệu ví
dụ ngành đờng sắt bán cổ phiếu ngời lao đông mua chỉ có thể sử dụng quyết
định số phận của những tờ cổ phiếu đó họ không thể thu hồi lại phần đờng sắt
(giá trị thực ) của họ. Trong trờng hợp họ bán cố cổ phiếu của họ thì đây chỉ là
chuển quyền sở hữu mà thôi. Do đó rõ ràng cổ phần hóa chính là xã hội hoá
ch không phải là t nhân hoá.
2 Sự cần thiết tiến hành công tác CPH DNNN
2.1 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam
12
Lê Ngọc ánh - K40
Sự phát triển của doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam bắt đầu từ xí
nghiệp nhà nớc đợc thành lập từ sau năm 1945 bằng con đờng quốc hữu hoá.
Sự hình thành các doanh nghiệp diễn ra một cách rất nhanh chóng từ khi đất
nớc ta giành đợc độc lập, năm 1993 nớc ta có khoảng 12000 doanh nghiệp nhà
nớc và hiện nay còn khoảng 4492 doanh nghiệp nhà nớc. Tuy số lợng doanh
nghiệp đa giảm song con số này còn rất lớn đối với nền kinh tế nớc ta hiện
nay.
Trên con đờng tiến lên chủ nghĩa xã hội , xây dựng một nền kinh tế thị
trờng thì doanh nghiệp nhà nớc có một ví trí quan trọng trong vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nớc:
- Doanh nghiệp nhà nớc phải chi phối đợc sự phát triển trong các lĩnh
vực kinh tế có ý nghĩa đối với sự phát triển ổn định kinh tế đất nớc.
- Doanh nghiệp nhà nớc phải là động lực cho sự phát triển của các
doanh nghiệp khác thông qua hiệu quả hoạt động cao trên nền cộng nghệ sản
xuấ hiện đại và hệ thống quản lý tiên tiến.
- Doanh nghiệp nhà nớc là nguồn lực vật chất chủ yếu của nhà nớc.
Doanh nghiệp nhà nớc phải tạo ra đợc sự đóng góp quyết định cho ngân sách
nhà nớc. Dựa vào những đóng góp chính của doanh nghiệp nhà nớc và thông
qua việc sở hữu các doanh nghiệp, Nhà nớc xã hội chủ nghĩa có trong tay tiềm
lực kinh tế vững mạnh để thực hiện sứ mệnh của mình.
- Doanh nghiệp nhà nớc là mẫu mực trong việc giải quyết các chính
sách xã hội nh việc làm , trợ cấp xã hội. Trong thực tiễn của đất nớc ta trớc
đây doanh nghiệp nhà nớc có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn
đề xã hội. Nhiều chính sách xã hội đợc thực hiện tốt thông qua các doanh
nghiệp nhà nớc.
Tuy nhiên hiên nay sự phát triển kinh tế trong nớc cũng nh của thế giới
làm cho doanh nghiệp nhà nớc đang đối mặt với mâu thuẫn giữa thực trạng
hoạt động với sứ mạng đợc giao phó:
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh cha cao, không tng xứng với vị trí và sự
đầu t của ngân sách. Theo số liệu trong báo cáo của ban cán sự Đảng của
13
Lê Ngọc ánh - K40
Chính phủ năm 2003, thì tính đến hết năm 2003 cả nớc có khoảng 4492 doanh
nghiệp nhà nớc với tổng số vốn là 189 000 tỷ đồng. Trong đó số các doanh
nghiệp nhà nớc hiện có chỉ có 77,2% kinh doanh có lãi song trong đó chỉ có
40% doanh nghiệp có mức lãi bằng hoặc cao hơn mức lãi suất của ngân hàng.
Nếu tính đủ các yếu tố chi phí, nợ thì tỷ lệ doanh nghiệp nhà nớc có lãi trong
kinh doanh sẽ thấp hơn nhiều. Năm 2003 tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn của
doanh nghiệp chỉ đạt 7,34%, tốc độ tăng bình quân trong ba năm gần đây là
10% trong lúc đó khu vực doanh nhân là 18%
- Doanh nghiệp nhà nớc có quy mô nhỏ. Trong số 4492 doanh nghiệp
nhà nớc hiện có số doanh nghiệp có vốn dới 5 tỷ chiếm 47% trong khi đó chỉ
có rất ít các doanh nghiệp có số vốn trên 100 tỷ đồng. Quy mô nhỏ bé của
doanh nghiệp còn đợc thể hiện trong việc sử dụng lao động, số doanh nghiệp
có số lao động dới 500 ngời chiếm 80%. Do quy mô của doanh nghiệp nhỏ do
vậy khả năng đầu t mở rộng sản xuất đổi mới công nghệ rất hạn chế. Mức độ
tự động hoá và tin học hoá trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn
thấp. Những hạn chế này làm cho hàng hoá của doanh nghiệp nhà nớc trở nên
đắt hơn so với các hàng hoá cùng loại của các doanh nghiệp khác và của hàng
nhập khẩu tới 20 30%.
- Doanh nghiệp nhà nớc lạc hậu về công nghệ sản xuất, về trình độ quản
lý. Hơn 50% tài sản cố định của các doanh nghiệp nhà nớc đã sử dụng trên 20
năm, số mua sau năm 1990 chiếm 10%. Chỉ có 3% số dây truyền sản xuất đợc
tự động hoá, còn lại là ở tình độ thủ công và trình độ cơ khí. Hiện có 38% tài
sản cố định chờ thanh lý.
- Cơ cấu bộ phận cha hợp lý. Còn khá nhiều doanh nghiệp nhà nớc hoạt
động trong lĩnh vực mà ở đó chúng khó có thể cạnh tranh đợc nh trong những
dịch vụ thông thờng. Bên cạnh đó có thể nhận thấy doanh nghiệp nhà nớc đợc
phân bổ không hợp lý theo ngành , theo địa phơng. Có những địa phơng
,ngành nh thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, ngành công nghiệp,th-
ơng mại doanh nghiệp nhà nớc tập trung với số lợng lớn trong lúc nhiều địa
phơng lại có rất ít các doanh nghiệp nhà nớc. Một số địa phơng nhất là ở cấp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét