đoạn mới; đồng thời phải thể chế hoá chủ trương này thành luật pháp, chính sách
cụ thể sát hợp với thực tế, loại bỏ những chính sách, quy định phù hợp, v.v. tạo
môi trường pháp lý và môi trường kinh tế- xã hội lành mạnh cho các hình thức
kinh tế phát triển bình đẳng.
Tóm lại, sự phát triển kinh tế tư nhân là nhu cầu tất yếu khách quan và lâu
dài của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
II-THỰC TRẠNG CỦA KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG QUÁ TRÌNH
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.
1.Khảo sát tiến trình phát triển của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
1.1-Thời kì trước đổi mới.
Trước đổi mới (năm 1986), khu vực kinh tế tư nhân là đối tượng cải tạo xã
hội chủ nghĩa, không được luật pháp bảo vệ và khuyến khích phát triển. Nhưng
vì khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể không đủ thoả mãn nhu cầu mọi mặt
của đời sống kinh tế- xã hội của đất nước, nên khu vực kinh tế tư nhân còn cần
thiết cho nền kinh tế, vì vậy vẫn âm thầm tồn tại dưới dạng kinh tế phụ gia đình
(của các hộ cán bộ công nhân viên nhà nước và hộ xã viên hợp tác xã), các tổ
hợp tác, tổ hợp sản xuất núp bóng doanh nghiệp nhà nước hặc hợp tác xã (thực
chất là những loại hình kinh tế tư nhân khác nhau). Tuy mức độ và phạm vi hoạt
động còn hạn chế nhưng các hình thức kinh tế tư nhân cũng đã thực sự góp phần
tăng thu nhập, cải thiện đáng kể đời sống cho một bộ phận lớn cán bộ, công
nhân viên và xã viên các hợp tác xã, giảm bớt căng thẳng cho nền kinh tế thời
bấy giờ.
Nhìn lại lịch sử kinh tế Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến nay, kinh
tế tư nhân đóng vai trò hết sức quan trọng. Trong giai đoạn khôi phục kinh tế ở
miền Bắc (năm 1955-1957), Đảng và Nhà nước đã chủ trương duy trì và phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có kinh tế tư nhân. Nghị quyết của
Bộ chính trị (tháng 9-1954) xác định “phải hết sức coi trọng công tác phục hồi
công thương nghiệp, làm cho các xí nghiêp công tư hiện có tiếp tục kinh doanh”.
Nhờ có chính sách đúng đắn đó kinh tế miền Bắc đã khôi phục nhanh chóng
kinh tế tư nhân phát triển rầm rộ. Năm 1955 công nghiệp tư nhân và tiểu thủ
công nghiệp ở miền Bắc có tới 51.688 cơ sở, với 128.622 công nhân tăng lên
thành 54.985 cơ sở, với 161.241 công nhân (năm 1956). Trong giai đoạn
này,thương nghiệp tư nhân chiếm tỉ trọng khá cao, 71.8% tổng mức bán buôn và
79.7% tổng mức bán lẻ.
5
Năm 1957 trong cơ cấu giá trị sản xuất toàn xã hội, kinh tế quốc doanh và
công ty hợp danh mới chỉ chiếm 17.9%, kinh tế tập thể và hợp tác xã chiếm
0.2%, trong khi đó kinh tế tư nhân chiếm 81.9% Trong giai đoạn này(1955-
1960), tốc độ tăng GDP của Việt Nam đạt đỉnh điểm cao (10.1%). Đây là bài
học của sự phát huy sức mạnh tổng hợp các thành phần kinh tế, đặc biệt là phát
triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn phát triển đầu tiên của nhà nước ta.
Từ năm 1958 miền Bắc nước ta chuyển sang thời kì phát triển kinh tế với
mục tiêu là xây dựng chủ nghĩa xã hội.Trong thời gian này, với quan niệm chủ
nghĩa xã hội là công hữu hoá về tư liệu sản xuất, là sư thống trị của kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể. Vì vậy Đảng và Nhà nước đặt ra nhiệm vụ là phải cơ
bản hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế tư nhân.
Hội nghị trung ương 14 khóa II (11-1956) đề ra: đẩy mạnh công cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm trước mắt là đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã
hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và
cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân, đồng thời,
phải ra sức phát triển kinh tế quốc doanh.
Với chủ trương như vậy đã đưa đến một số tình hình sau đây:
+ Các xí nghiệp tư bản tư nhân bị cải tạo dưới hai hình thức công ty hợp
danh đối với tư bản lớn và hợp tác xã đối với tư sản nhỏ.Trong những năm
1958-1960, ở miền Bắc đã cải tạo 2.135 xí nghiệp với 13.500 công nhân làm
thuê. Như vậy, có thể nói thành phần kinh tế tư bản tư nhân lúc đó ở miền Bắc
đã bị xoá bỏ hoàn toàn.
+ Đối với kinh tế tiểu nông, cá thể, tiểu chủ thì vận động đưa vào làm ăn
tập thể dưới hình thức như: hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, sản xuất tiểu thủ
công nghiệp và tổ hợp tác mua bán
Tình hình trên làm cho kinh tế tư nhân không được tôn trọng về mặt xã
hội. Một tâm lý xã hội đã được hình thành ở Việt Nam lúc bấy giờ là khinh ghét
những người làm kinh tế tư nhân. Luật pháp không bảo đảm cho tư nhân quyền
tự do kinh doanh, tự do lập nghiệp.
Mặc dù vậy, kinh tế tư nhân vẫn tồn tại và có những đóng góp quan trọng
vào nền kinh tế quốc dân. Kế hoạch 5 năm 1976-1980 chủ trương tiếp tục công
cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với những người sản xuất nhỏ ở miền Bắc và
triển khai mạnh mẽ ở miền Nam, nhưng trong công nghiệp vẫn có trên 60 vạn
người sản xuất cá thể và tạo ra khoảng 15% giá trị sản lượng toàn ngành. Trong
nông nghiệp, hộ nông dân là xã viên hợp tác xã nông nghiệp thu nhập từ kinh tế
6
tập thể thường chỉ chiếm 30-40%, kinh tế phụ gia đình chiếm 60-70%- thực chất
là khu vực kinh tế tư nhân.
Như vậy, thực tế đã cho thấy, sự tồn tại của kinh tế tư nhân là một yêu cầu
khách quan. Nhà nước không chỉ thừa nhận mà còn phải biết khai thác những
tiềm năng của nó vào mục tiêu dân giầu , nước mạnh.
1.2-Thời kì đổi mới.
Cùng với quá trình đổi mới tư duy, trong suốt chặng đường phát triển của
đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Nhà nước đã ban hành nhiều chính
sách, biện pháp để phát triển kinh tế tư nhân. Vì vậy, kinh tế tư nhân đã phát
triển nhanh, thu hút đông đảo các tầng lớp dân cư tham gia.
1.2.2-Sự phát triển về số lượng của các hình thức kinh tế thuộc khu vực kinh tế
tư nhân.
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI( tháng 12-1986) và nhất là từ khi
ban hành luật doanh nghiệp tư nhân ( năm 1990) và Nghị định số 221/HĐBT
(ngày 23-7-1991) về “cá nhân và nhóm kinh doanh” cùng nhiều chỉ thị, nghị
quyết, chính sách khuyến khích khác của Đảng và Nhà nước, khu vực kinh tế tư
nhân đã có bước ngoặt trong sự hồi sinh và phát triển. Năm 1990 mới có khoảng
800.000 cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ, thì đến năm 1992 đã có 1.498.600 hộ cá
thể, tiểu chủ đăng ký kinh doanh. Hai năm sau, năm 1994, đã lên tới 1.533.100
cơ sở, tăng thêm 51.100 cơ sở: năm 1996 có 2.215.000 cơ sở, tăng thêm 164.900
cơ sở(so với năm 1995).
Cùng với kinh tế cá thể, tiểu chủ, các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách
nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần cũng có bước phát triển vượt bậc về số
lượng. Nếu năm 1991 tổng số các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm
hữu hạn và công ty cổ phần là 414 doanh nghiệp thì đến năm 1992 là 5.198
doanh nghiệp, năm 1998 đã tăng lên đến 26.021 doanh nghiệp.
1.2.2- Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân theo ngành nghề sản xuất kinh
doanh
Đa số các cơ sở kinh tế thuộc khu vực kinh tế tư nhân đều tập trung vào
lĩnh vực thương mại, dịch vụ, kế đó mới đến sản xuất công nghiệp và sau cùng
là sản xuất nông nghiệp. Những năm gần đây, xu thế trên vẫn được duy trì và có
chiều hướng tập trung vào các lĩnh vực dịch vụ và sản xuất nông nghiệp. Trong
tổng số trên 2,2 triệu hộ cá thể, tiểu chủ được khảo sát thời kỳ 1997-1998 thì:
lĩnh vực dịch vụ có trên 1,2 triệu cơ sở, lĩnh vực công nghệ và xây dựng có tới
527 ngàn cơ sở và cuối cùng là lĩnh vực nông nghiệp với khoảng 369 ngàn cơ
sở.
7
Xu hướng tập trung đầu tư vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ của khu vực
kinh tế tư nhân không chỉ thể hiện về mặt số lượng, cơ cấu các loại hình doanh
nghiệp, hộ cá thể, tiểu chủ, mà còn thể hiện qua cơ cấu vốn đầu tư và số lượng
lao động sử dụng, doanh thu, nộp thuế,
Trong lĩnh vực sản xuất khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng thấp, tiềm
lực còn rất nhỏ bé, dễ bị tác động trước sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
1.2.3- Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân theo vùng lãnh thổ.
Sự phát triển và phân bố các doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân
diễn ra không đồng đều giữa các vùng trong cả nước. Năm 1997, trong tổng số
25.002 doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân thì 18.728 doanh nghiệp tập
trung ở miền Nam, trong khi miền Bắc chỉ có 4.187 doanh nghiệp và miền
Trung có 2.087 doanh nghiệp. Những vùng có nhiều cơ sở kinh tế tư nhân cũng
là những vùng sử dụng nhiều lao động: trong tổng số 4.849.142 lao động (năm
1996) làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân thì Đông Nam Bộ chiếm 26%,
Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 23%, Đồng bằng sông Hồng gần 20%, Duyên
hải miền Trung trên 11%, khu Bốn cũ 11%, miền núi và trung du Bắc Bộ gần
7%, Tây Nguyên gần 3%.
1.2.4- Những đặc điểm về vốn, lao động và sản xuất kinh doanh của khu vực kinh
tế tư nhân
+ Kinh tế tư bản tư nhân
- Về vốn sản xuất: trong 5 năm (1991-1996), vốn bình quân của loại hình
doanh nghiệp tư nhân tăng lên gấp 2 lần, công ty trách nhiệm hữu hạn có số vốn
bình quân 2 tỷ đồng, công ty cổ phần có số lượng vốn bình quân cao gấp trên 60
lần vốn bình quân của công ty trách nhiệm hữu hạn và 600 lần vốn bình quân
của doanh nghiệp tư nhân.
- Về gía trị tài sản cố định: trong 3 loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực
kinh tế tư nhân thì doanh nghiệp tư nhân có giá trị tài sản cố định bình quân
chung thấp nhất nhưng có xu hướng tăng lên và giữ ổn định ở mức 0,2 tỷ đồng;
giá trị tài sản cố định bình quân của công ty trách nhiệm hữu hạn tăng không đều
và có xu hướng giảm; công ty cổ phần có bình quân chung giá trị tài sản cố định
cao nhất đạt 16,9 tỷ đồng năm 1995.
- Về lực lượng lao động: Số lượng lao động bình quân một doanh nghiệp
tư nhân là 8 lao động năm 1991 lên 19 lao động năm 1998, số lao động bình
quân của một công ty trách nhiệm hữu hạn khoảng 47 lao động năm 1998, công
ty cổ phần có quy mô lao động bình quân tăng gần gấp đôi từ 89 lao động năm
1991 lên 155 lao động năm 1996.
8
- Về doanh thu: Năm 1991, bình quân doanh thu của một cơ sở thuộc khu
vực kinh tế tư nhân là 2.7 tỷ đồng, sau 5 năm doanh thu đạt 2,8 tỷ đồng trong đó
doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần đều có mức tăng cao hơn so với công
ty trách nhiệm hữu hạn.
- Về chỉ tiêu nộp ngân sách: Bình quân chung cả 3 loại hình doanh nghiệp
trên là 0,12 tỷ đồng/ cơ sở năm 1991, sau 5 năm mức bình quân này giảm còn
0,07 tỷ đồng (năm 1996). Trong đó doanh nghiệp tư bản tư nhân có mức nộp
ngân sách bình quân thấp nhất, công ty trách nhiệm hữu hạn mặc dù có doanh
thu giảm mạnh nhưng vẫn duy trì được mức nộp ngân sách, công ty cổ phần nộp
ngân sách nhà nước có mức bình quân cao nhưng sau đó liên tục giảm.
+ Kinh tế cá thể, tiểu chủ
- Vốn sản xuất kinh doanh khoảng 11 triệu đồng.
- Sử dụng khoảng 3,3 lao động ở nông thôn và 6,3 lao động ở thành phố.
- Doanh thu hằng năm khoảng 18 triệu đồng.
+ Về hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân: doanh
ngiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả nhất tiếp đó là
công ty trách nhiệm hữu hạn và sau cùng là công ty cổ phần. Còn xét theo ngành
sản xuất thì các ngành có hiệu quả hơn cả vẫn là thương nghiệp, sửa chữa và
công nghiệp chế biến; ngành nông- lâm nghiệp vẫn có hiệu quả thấp nhất.
+ Về tốc độ tăng trưởng, phát triển của khu vực kinh tế tư nhân: các loại
hình kinh tế cá thể, tiểu chủ có tốc độ tăng về số lượng không đều, bình quân
giai đoạn 1992-1997 tăng khoảng 13%/năm. Các loại hình kinh tế tư bản tư nhân
có tốc độ tăng cao vào năm 1994 nhưng các năm tiếp theo tốc độ tăng giảm dần,
đạt bình quân khoảng 37%/năm.
Khu vực kinh tế tư nhân được đánh giá là có tốc độ phát triển khá nhanh
và cao hơn so với tốc độ phát triển của khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể,
nhưng kém hơn so với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nhờ có tốc độ
tăng trưởng và phát triển nhanh nên khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp ngày
càng quan trọng vào GDP của nền kinh tế: từ 102.468 tỷ đồng năm 1995 lên
151.388 tỷ đồng vào năm1998.
Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là tốc độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân
cũng như toàn bộ nền kinh tế nước ta có dấu hiệu chững lại vào năm 1997- sau
một thời gian phát triển ngoạn mục. Cụ thể là, khu vực kinh tế cá thể đang có tốc
độ tăng GDP gần 10% năm 1995 đã tụt xuống còn 5% năm 1998, kinh tế tư bản
tư nhân tụt từ 9% năm 1995 xuống còn 1% năm 1998.
9
Mặc dù vậy, những đóng góp to lón của khu vực kinh tế tư nhân vào công
cuộc đổi mới là rất to lớn, không thể phủ nhận được.
2.Đánh giá chung về thực trạng của thành phần kinh tế tư nhân ở Việt
Nam.
2.1-Những thành tựu đã đạt được.
Thực hiện mục tiêu lớn nhất của Đảng và Nhà nước ta là “lấy việc giải
phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời
sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các
thành phần kinh tế và các hình thái tổ chức kinh doanh”, huy động sức mạnh
tổng lực của nền kinh tế cho phát triển đất nước, xây dựng nước Việt Nam “dân
giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” ,thì chính sách khuyến
khích phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân những năm qua
đã góp phần thực hiện có kết quả mục tiêu đó. Nhìn tổng thể, sự hồi sinh và phát
triển khu vực kinh tế tư nhân trong những năm đổi mới vừa qua đã mang lại
nhiều kết quả kinh tế-xã hội to lớn mà nổi bật là:
2.1.1- Khơi dậy và phát triển tiềm năng của một bộ phận lớn dân cư tham
gia vào công cuộc phát triển đất nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm.
+ Huy động mọi nguồn vốn đầu tư phát triển.
Kinh tế cá thể, tiểu chủ tuy quy mô nhỏ nhưng với số lượng cơ sở sản xuất kinh
doanh lớn nên đã động viên được nhiều nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh từ
14.000 tỷ đồng năm 1992 đã tăng lên 26.500 tỷ đồng vào năm 1996. Các doanh
nghiệp tư bản tư nhân đã huy động được lượng vốn vào kinh doanh là 20.665 tỷ
đồng (tính đến hết năm 1996), chiếm khoảng 5% tổng số vốn đầu tư phát triển
của toàn xã hội và 6,9% vốn kinh doanh của các ngành. Mặc dù trong những
năm đổi mới vừa qua với chính sách mở cửa, kêu gọi đầu tư nước ngoài của Nhà
nước đã thu hút thêm nguồn FDI ngày một tăng nhưng khu vực kinh tế tư nhân
trong nước vẫn đóng góp lượng vốn đầu tư rất đáng kể: 21% tổng lượng vốn đầu
tư toàn xã hội năm 1998 - là tỷ trọng không nhỏ.
+ Tạo việc làm, tận dụng lao động xã hội
Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là lực lượng tham gia tích cực
và có hiệu quả đối với việc giải quyết việc làm. Tính đến năm 1996 đã giải
quyết việc làm cho 4.700.742 lao động, chiếm gần 70% lực lượng lao động xã
hội trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp. Xét ở góc độ giải quyết việc làm thì
đây là khu vực có tỷ lệ thu hút lao động trên vốn đầu tư cao nhất trong nền kinh
tế, cụ thể là: kinh tế cá thể thu hút 165 lao động/1 tỷ đồng vốn; doanh nghiệp tư
10
bản tư nhân thu hút 20 lao động/1 tỷ đồng vốn Các doanh nghiệp tư bản tư
nhân trong 5 năm 1991-1996 bình quân mỗi năm giải quyết thêm khoảng 70.020
việc làm. Tổng số lao động thuộc khu vực kinh tế tư nhân chiếm 90,1% tổng số
lao động toàn xã hội - đây thực sự là khu vực kinh tế có vai trò quan trọng trong
việc tạo việc làm cho lao động xã hội cả hiện tại và trong tương lai.
+ Đóng góp quan trọng trong GDP và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.
Bên cạnh mục tiêu cơ bản là huy động tiềm năng về vốn và giải quyết việc làm
cho lao động xã hội, khu vực kinh tế tư nhân còn đóng góp đáng kể vào tổng sản
phẩm xã hội. Năm 1998 khu vực tư nhân đóng góp 41,1% GDP, nếu cộng với
9,1% GDP của khối đầu tư nước ngoài , khu vực ngoài quốc doanh chiếm trên
50% GDP cả nước. Nhờ vậy khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng
cùng với khu vực kinh tế nhà nước và đầu tư nước ngoài thúc đẩy nền kinh tế
nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao trên 8%/1 năm, liên tục trong giai doạn 1992-
1997, và đỉnh cao đạt 9,5% vào năm 1995.
Không chỉ đóng góp lớn vào tổng sản phẩm quốc nội và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân còn góp phần quan trọng tăng nguồn thu
cho nhân sách Nhà nước, góp phần giải quyết nhiều vấn đề kinh tế- xã hội đặt
ra. Nếu năm 1990, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nộp ngân sách là 969 tỷ
đồng, thì đến năm 1998 đã tăng lên 11.086 tỷ đồng; tính ra bình quân hàng năm
khu vực ngoài quốc doanh đóng góp vào nguồn thu cho ngân sách trên dưới
32% GDP của cả nước cao gấp trên 3 lần đóng góp của khu vực liên doanh với
nước ngoài và gần bằng 1/2 đóng góp của các doanh nghiệp nhà nước vào nguồn
thu ngân sách hàng năm. Điều đó cho thấy đóng góp của khu vực kinh tế tư
nhân có đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách, tăng tiềm lực cho nền kinh tế.
2.1.2 Thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản
ứy theo hướng thị trường, tạo sự cạnh tranh trong nền kinh tế.
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các ngành sản xuất kinh
doanh,v.v đều do kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể đảm nhận. Hiện nay, trừ
một số lĩnh vực, ngành nghề mà Nhà nước độc quyền, kinh tế tư nhân không
được kinh doanh, còn lại hầu hết các nghành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh
khác nhau khu vực kinh tế tư nhân đều tham gia.Trong đó, nhiều lĩnh vực,
nghành nghề, khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng áp đảo như: sản xuất lương
thực, thực phẩm, nuôi trồng thuỷ hải sản, đánh cá, lâm nghiệp, hàng hoá bán lẻ,
chế biến, sành sứ, giày dép, dệt may, v.v.Nhiều lĩnh vực đã mang về hàng tỷ
đôla cho nền kinh tế, trong đó có đóng góp to lớn của khu vực kinh tế tư
nhân.Chính sự phát triển phong phú, đa dạng các cơ sở sản xuất, các nghành
11
nghề, các loại sản phẩm dịch vụ, các hình thức kinh doanh, v.v của khu vực
kinh tế tư nhân đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp Nhà nước, buộc khu vực
kinh tế nhà nước phải cải tổ, sắp xếp lại, đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới
phương thức kinh doanh, dịch vụ,v.v để tồn tại và đứng vững trong cơ chế thị
trường. Qua đó, khu vực kinh tế tư nhân đã thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các khu
vực kinh tế, làm cho nền kinh tế trở nên năng động; đồng thời cũng tạo nên sức
ép lớn buộc cơ chế quản lý hành chính của Nhà nước phải đổi mới đáp ứng yêu
cầu đòi hỏi của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế thị trường nói chung.
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần quan trọng hình thành và
xác lập vai trò, vị trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ
chế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy cải cách doanh
nghiệp nhà nước, cải cách cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác
với bên ngoài.
2.1.3 Hình thành và phát triển các chủ doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế
tư nhân, góp phần xây dựng đội ngũ các nhà doanh nghiệp Việt Nam, làm đầu
tàu thúc đẩy nền kinh tế bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở
cửa hợp tác với bên ngoài.
Nhờ đổi mới và phát triển khu vực kinh tế tư nhân, chúng ta đã từng bước
hình thành được đội ngũ các nhà doanh nghiệp hoạt động trong hầu hết các lĩnh
vực, các ngành nghề của nền kinh tế quốc dân với số lượng ngày một lớn:
khoảng trên 40.000 chủ doanh nghịêp và trên 120.000 chủ trang trại. Mặc dù
được hình thành một cách tự phát nhưng nhờ được đào luyện trong cơ chế thị
trường, đội ngũ các nhà doanh nghiệp tư nhân đã tỏ rõ bản lĩnh, tài năng, thích
ứng khá kịp thời với sự chuyển đổi của nền kinh tế. Họ đã vươn lên, tham gia
vào hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh mà luật pháp không
cấm- trong đó bao gồm cả những ngành kỹ thuật cao và đã làm chủ nhiều lĩnh
vực, nhiều ngành hàng.
2.1.4 Góp phần xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển, thực hiện công bằng xã hội.
Chính nhờ phát triển kinh tế tư nhân với nhiều loại hình kinh tế khác nhau,
đã góp phần làm cho quan hệ sản xuất chuyển biến phù hợp với lực lượng sản
xuất trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế nước ta.
Nếu trước đây quan hệ sở hữu ở nước ta chỉ bao gồm sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thể thì giờ đây quan hệ sở hữu đã được mở rộng hơn: còn có sở hữu
tư nhân về tư liệu sản xuất và sở hữu hỗn hợp. Trong quan hệ quản lý: hình
thành tầng lớp chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân, đội ngũ những người lao động
12
ồam thuê trong các doanh nghiệp tư bản tư nhân ; xuất hiện quan hệ chủ thợ,
quan hệ thuê mướn lao động thông qua hợp động kinh tế; thị trường lao động
bước đầu được hình thành và ngày càng mở rộng, tạo cơ hội tìm kiếm việc làm
cho mọi người thay cho việc phân bổ lao động vào các doanh nghiệp theo chỉ
tiêu Quan hệ phân phối càng trở nên đa dạng, linh hoạt: xuất hiện các hình thức
phân phối theo vốn góp, theo tài sản, theo cổ phần và các hình thức khác,
Chính những sự chuyển biến trên đã làm cho quan hệ sản xuất trở nên
mềm dẻo, đa dạng, linh hoạt, dễ được chấp nhận và phù hợp với thực trạng nền
kinh tế và tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay. Nó đã khơi dậy và phát huy được
tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất, tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguồn lao
động dồi dào và tiềm lực của hàng triệu hộ tư nhân vào công cuộc phát triển
kinh tế đất nước. Nhờ vậy đã góp phần quan trọng xoá đói giảm nghèo, cải thiện
đời sống dân cư, góp phần đưa đất nước vượt qua khủng hoảng và là một trong
những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhiều năm liền trong khu vực và trên
thế giới.
Bên cạnh mặt tích cực kể trên, sự chuyển biến của quan hệ sản xuất trong
thời gian qua cũng ít nhiều bộc lộ tính tự phát và những mặt tiêu cực chưa phù
hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa như: phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã
hội, chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn Mặc dù vậy, những tác
động tích cực do sự chuyển biến của quan hệ sản xuất trong việc thúc đẩy lực
lượng sản xuất phá triển tạo nên những thành tựu kinh tế- xã hội to lớn của đất
nước thời kỳ đổi mới là không thể phủ nhận.
2.2-Những tồn tại, yếu kém chủ yếu.
+ Phần lớn các cơ sở kinh tế tư nhân đều có quy mô nhỏ, năng lực và sức
cạnh tranh hạn chế, dễ bị tổn thương trong cơ chế thị trường. Hiện nay có tới
87,2% số doanh nghiệp có mức vốn dưới 1 tỷ đồng.Thiếu vốn để sản xuất và mở
rộng sản xuất là hiện tượng phổ biến đối với toàn bộ các doanh nghiệp thuộc
khu vực kinh tế tư nhân hiện nay và được coi là một trong những cản trở lớn
nhất đến sự phát triển sản xuất kinh doanh của các cơ sở kinh tế tư nhân. Hầu
hết các doanh nghiệp khởi sự bằng vốn tự có ít ỏi của mình đồng thời cũng có
những hạn chế nhất dịnh trong việc tiếp cận các nguồn vốn, tiếp cận thông tin.
Hệ thống ngân hàng yếu kém cùng với những thủ tục thế chấp phức tạp và nạn
quan liêu đã khiến cho hơn 20% doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa không muốn
vay ngân hàng. Mặt khác, thành lập doanh nghiệp chủ yếu là dựa trên kinh
nghiệm chứ chưa tính toán đầy đủ nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ chắc
chắn nên hầu hết các chủ doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân hoạt động
13
thiếu phương án cũng như kế hoạch kinh doanh, vì vậy dễ đổ vỡ trước biến động
thị trường.
+ Máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu và nguồn nhân lực còn nhiều hạn
chế. Mặc dù nhận thức được nhu cầu cấp bách phải nâng cao khả năng cạnh
tranh của sản phẩm hàng hoá, song khả năng đổi mới thiết bị, công nghệ của các
cơ sở sản xuất tư nhân hạn chế ( do thiếu vốn đầu tư) vì vậy phần lớn đều đang
sử dụng máy móc thiết bị cũ, lạc hậu; rất ít doanh nghiệp sử dụng máy móc,
công nghệ mới cũng như thuê máy móc thiết bị. Số doanh nghiệp được trang bị
máy móc công nghiệp hiện đại chỉ có khoảng 24% số doanh nghiệp tư nhân và
25% số công ty trách nhiệm hữu hạn. Còn lại 37,2% số doanh nghiệp tư nhân và
20% số công ty trách nhiệm hữu hạn sử dụng công nghệ truyền thống; 34% số
doanh nghiệp tư nhân và 57% số công ty trách nhiệm hữu hạn kết hợp cả công
nghệ hiện đại và truyền thống. Các hộ cá thể, tiểu chủ sử dụng công nghệ thủ
công và truyền thống là phổ biến, việc đổi mới trang thiết bị, công nghệ hiện đại
còn rất hạn chế. Do đó đã hạn chế năng suất lao động, chất lượng sản phẩm của
phần lớn các cơ sở sản xuất kinh doanh. Lao động trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa của kinh tế tư nhân chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo, thiếu
kỹ năng, trình độ văn hoá thấp. Trong khu vực kinh tế tư nhân chỉ có 5,13% lao
động có trình độ đại học, khoảng 48,4% số chủ doanh nghiệp không có bằng cấp
chuyên môn. Cùng với sự lạc hậu về công nghệ, kỹ thuật, sự yếu kém của đội
ngũ lao động cũng là nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả sản xuất kinh doanh
của khu vực kinh tế tư nhân.
+ Thiếu mặt bằng sản xuất và mặt bằng sản xuất không ổn định là tình
trạng phổ biến đã tác động bất lợi tới chiến lược kinh doanh của các doanh
nghiệp. Luật đất đai chỉ quy định quyền sử dụng đất, không cho phếp tư nhân có
quyền sở hữu và hạn chế nghiêm ngặt việc mua bán đất đai do đó đất không
được chuyển nhượng công khai, giá đất thiếu ổn định dẫn đến tình trạng đất đai
bị đầu cơ, sử dụng kém hiệu quả. Vì vậy các cơ sở kinh tế tư nhân mới thành lập
rất khó có được mặt bằng đất đai ổn định. Thêm vào đó, sự phân biệt đối xử trong
việc giao đất của Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước và cho thuê đất đối
với các cơ sở kinh tế tư nhân cũng gây bất lợi và thiệt thòi cho khu vực kinh tế tư
nhân. Mặt khác, những vấn đề về chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất lại
chưa rõ ràng làm cho vấn đề mặt bằng sản xuất càng căng thẳng hơn. Ngay cả khi
doanh nghiệp đã bỏ ra rất nhiều chi phí để có mặt bằng sản xuất, nhưng sau đó họ
lại rất khó khăn trong việc dùng đất đai làm tài sản thế chấp vay ngân hàng. Rất ít
doanh nghiệp có được mặt bằng sản xuất ngay từ khi mới thành lập mà thường
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét