đơn vị sản xuất nông, lâm, ng nghiệp với quy mô lớn theo hớng sản xuất hàng
hoá.
1.2. Kinh tế trang trại
Về kinh tế trang trại, có nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận khác
nhau:
Có quan điểm cho rằng: Kinh tế trang trại là loại hình cơ sở sản xuất
nông nghiệp, hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trờng từ khi phơng
thức này thay thế phơng thức sản xuất phong kiến. Trang trại đợc hình thành
từ các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ cái vỏ tự cấp tự túc khép kín, vơn lên sản
xuất nhiều nông sản hàng hoá tiếp cận với thị trờng, từng bớc thích nghi với
nền kinh tế cạnh tranh
(1)
Khái niệm này đã chỉ đúng bản chất sản xuất hàng hoá của kinh tế trang
trại nhng lại sai lầm khi cho rằng nguồn gốc cuả các trang trại chỉ là xây dựng
từ kinh tế của các hộ tiểu nông.
Trong nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang
trại. Chính phủ ta đã thống nhất nhận thức về kinh tế trang trại nh sau: Kinh
tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông
thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu
quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng
rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông- lâm- thuỷ sản.
Khái niệm này khá đầy đủ, nêu ra đợc cơ sở, chức năng, hình thức sản
xuất của trang trại nhng cha hớng đến tính chất hàng hoá hớng ra thị trờng của
trang trại.
Nh vậy có thể tóm lại: Kinh tế trang trại là một trong những hình thức
tổ chức sản xuất cơ sở trong nông - lâm - ng nghiệp, có mục đích chủ yếu là
(1)
Báo cáo chuyên đề: Chính sách phát triển trang trại và tác động của nó đến việc làm và thu nhập của lao
động nông thôn, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2002.
5
sản xuất hàng hoá, t liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hay thuộc quyền sử
dụng của một chủ thể độc lập, sản xuất đợc tiến hành trên quy mô đất đai và
các yếu tố sản xuất đợc tập trung đủ lớn với cách tổ chức quản lý tiến bộ và
trình độ kĩ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trờng.
1.3. Tiêu chí xác định một trang trại.
Không phải nhà nớc bỏ qua hình thức tổ chức sản xuất này, nhng vì đến
trớc những năm 2000, do cha có một sự thống nhất về khái niệm cũng nh tiêu
chí xác định trang trại nên mang đầy đủ đặc điểm của một đơn vị sản xuất
kinh doanh nhng chủ trang trại vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin hởng
các chế độ hỗ trợ của nhà nớc và vì không có t cách pháp nhân nên trang trại
rất khó khăn trong các hoạt động giao dịch thơng mại. Thông thờng các nhà
thống kê vẫn sử dụng những chỉ tiêu định tính hoặc chỉ tiêu định lợng mà tính
định lợng không cao, và các chỉ tiêu này không đợc thống nhất trong cả nớc.
*Tiêu chí định tính:
Có thể dùng tiêu chí này để nhận dạng thế nào là một trang trại, tức là
căn cứ vào mức độ sản xuất nông sản hàng hoá của trang trại để phân biệt kinh
tế trang trại với kinh tế hộ gia đình.
*Tiêu chí định l ợng :
Dùng để phân biệt rõ ràng trang trại và không phải trang trại, và để phân
loại các trang trại khác nhau. Ngày 23/6/2000, Liên bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn- Tổng cục Thống kê đã ra thông t số 69/2000/ TTLT/ BNN-
TCTK hớng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại. Cụ thể nh sau:
1.Các đối tợng và ngành sản xuất đợc xem xét để xác định là kinh tế
trang trại
Hộ nông dân, hộ công nhân viên nhà nớc và lực lợng vũ trang đã nghỉ
hu, các loại hộ thành thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm nông nghiệp,
6
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính, có kiêm
nhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn.
II.Tiêu chí định lợng để xác định là kinh tế trang trại:
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đợc xác
định là trang trại phải đạt đợc cả hai tiêu chí định lợng sau đây:
1.Giá trị sản lợng hàng hoá và dịchvụ bình quân 1 năm:
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng
trở lên.
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên.
2.Quy mô sản xuất phải tơng đối lớn và vợt trội so với kinh tế nông hộ
tơng ứng với từng ngành sản xuất và với từng vùng kinh tế.
a.Đối với trang trại trồng trọt:
(1)Trang trại trồng cây hàng năm:
- Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
- Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
(2)Trang trại trồng cây lâu năm:
- Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
- Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
- Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên.
(3)Trang trại lâm nghiệp:
- Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nớc.
b.Đối với trang trại chăn nuôi:
(1)Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,v.v
7
- Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thờng xuyên từ 10 con trở lên
- Chăn nuôi lấy thịt có thờng xuyên từ 50 con trở lên
(2)Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, v.v
- Chăn nuôi sinh sản có thờng xuyên đối với lợn từ 20 con trở lên, đối
với dê, cừu từ 100 con trở lên
- Chăn nuôi lợn thịt có thờng xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn
sữa), dê thịt từ 200 con trở lên.
(3)Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, v.v có thờng xuyên từ
2000 con trở lên (không tính số đầu con dới 7 ngày tuổi).
c.Trang trại nuôi trồng thuỷ sản:
- Diện tích mặt nớc có để nuôi trồng thuỷ sản từ 2 ha trở lên (riêng đối
với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên).
d.Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có
tính chất đặc thù nh: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống
thủy sản và thuỷ đặc sản, thì tiêu chí xác định là sản lợng hàng hoá.
2. Đặc trng của kinh tế trang trại
Hầu hết các ý kiến đều thống nhất về đặc trng của kinh tế trang trại ở 3
điểm sau đây:
2.1. Mục đích sản xuất của kinh tế trang trại là sản xuất nông- lâm- thuỷ sản
hàng hoá với quy mô lớn
Knh tế trang trại là kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa, khác với
kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc. K.Marx đã phân biệt chủ trang trại với ngời
tiểu nông nh sau:
- Chủ trang trại bán ra thị trờng toàn bộ sản phẩm làm ra
8
- Ngời tiểu nông dùng đại bộ phận sản phẩm làm ra và mua bán càng
ít càng tốt.
Đây là điểm khác biệt lớn nhất của kinh tế trang trại so với kinh tế cá
thể sản xuất nông nghiệp trớc đây. Sản xuất hàng hoá đòi hỏi các trang trại
phải có quy mô lớn để giảm chi phí đầu vào, tạo ra sản phẩm hàng hoá với giá
thành cạnh tranh, chất lợng cao. Đến lợt nó, sản xuất quy mô lớn lại càng đòi
hỏi phải làm ra sản phẩm hàng hoá để trao đổi trên thị trờng vì rõ ràng ngời
chủ trang trại không thể tiêu dùng hết đợc.
Quy mô của trang trại lớn gấp nhiều lần quy mô của hộ gia đình hay
kiểu tiểu nông. Nó đợc đánh giá bằng diện tích đất đai sử dụng, hay bằng giá
trị sản lợng làm ra trong một năm hoặc đo bằng tỉ suất hàng hoá của trang trại.
2.2. Quá trình tích tụ ruộng đất và vốn đầu t dẫn đến chuyên môn hoá và
hình thành các vùng chuyên canh
Bất kì một hình thức sản xuất nông nghiệp nào cũng cần có sự tập trung
đất đai và vốn ở mức độ nhất định. Do tính chất sản xuất hàng hoá quy mô lớn,
quá trình phát triển kinh tế trang trại sẽ dần tạo ra những vùng, tiểu vùng sản
xuất nông nghiệp với cơ cấu sản xuất khác nhau:
- Cơ cấu sản xuất độc canh: là mức phát triển thấp của kinh tế trang
trại. Trang trại chỉ sản xuất kinh doanh một loại cây (con) nhất định,
tính chuyên nghiệp, chuyên môn và tính chất hàng hoá cha cao.
- Cơ cấu sản xuất đa dạng: trang trại kết hợp nhiều loại cây trồng vật
nuôi để tận dụng mọi năng lực sản xuất của mình.
- Cơ cấu sản xuất chuyên môn hoá: đây là giai đoạn trang trại đã tích
luỹ đủ về đất đai, vốn, năng lực và kinh nghiệm quản lý để tham gia
vào hệ thống phân công lao động xã hội. Khác với cơ cấu độc canh,
sản xuất chuyên môn hoá đòi hỏi ứng dụng rộng rãi những tiến bộ
9
khoa học kĩ thuật và đạt đến trình độ, tính chất sản xuất hàng hoá
cao. Dần dần, nhiều trang trại cùng chuyên môn hoá một loại cây
trồng, vật nuôi có thể hình thành nên những vùng chuyên canh rộng
lớn.
2.3. Tổ chức và quản lý sản xuất theo phơng thức tiến bộ
Dựa trên cơ sở thâm canh, chuyên môn hoá sản xuất, các trang trại phải
có cơ chế tổ chức và quản lý sản xuất nh là các đơn vị kinh doanh khác, tức là
phải hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thờng xuyên tiếp cận với thị tr-
ờng, khác với lối sản xuất làm tới đâu thì tới của kinh tế tiểu nông. ở đây
hiệu quả kinh tế đợc đặt lên hàng đầu nên tất cả các hoạt động sản xuất đều
phải tính toán lợi ích - chi phí bỏ ra.
Lao động trong trang trại có hai bộ phận: lao động quản lý (thờng là
chủ trang trại) và lao động trực tiếp (lao động gia đình và lao động làm thuê).
Số lợng lao động thuê mớn thay đổi tuỳ loại hình trang trại và quy mô trang
trại khác nhau.
Chủ trang trại là ngời có kiến thức và kinh nghiệm, trực tiếp điều hành
sản xuất, biết áp dụng khoa học công nghệ. Thu nhập của trang trại vợt trội so
với kinh tế hộ.
3. Phân loại kinh tế trang trại
3.1. Theo quy mô đất sử dụng, có thể chia 4 loại:
- Trang trại nhỏ: dới 2 ha
- Trang trại vừa: 2 - 5 ha
- Trang khá lớn: 5 - 10 ha
- Trang trại lớn: trên 10 ha
3.2. Phân loại theo cơ cấu sản xuất, chia thành:
10
* Trang trại trồng trọt:
- Trang trại trồng rừng: thờng có quy mô lớn và đợc phát triển ở các
vùng núi phía Bắc. Loại hình trang trại này không chỉ đòi hỏi lợng
vốn lớn mà thời gian thu hồi vốn lại dài (5 - 10 năm hoặc hơn) cho
nên để ngời kinh doanh trang trại có điều kiện nhận thì phải có cơ
chế chính sách hỗ trợ về lâu dài.
- Trang trại trồng cây ăn quả: Đây là loại hình trang trại phổ biến
không chỉ ở miền núi mà còn rất thích hợp với vùng đồng bằng, đặc
biệt là Đồng bằng Bắc Bộ và Đồng bằng Nam Bộ. Tuỳ điều kiện đất
đai, khí hậu và ý tởng kinh doanh mà chủ trang trại có thể lựa chọn
trồng một hay nhiều loại cây ăn quả khác nhau.
- Trang trại trồng cây công nghiệp: Loại hình này thờng chỉ phù hợp
với những vùng đất có tính chất đặc thù. Có lẽ đây là loại hình trang
trại ra đời ở Việt Nam sớm nhất, bắt đầu từ những đồn điền cao su
của các ông chủ ngời Pháp. Đến nay, cây công nghiệp đợc trang trại
lựa chọn rất đa dạng, bao gồm cả cây công nghiệp dài ngày (cà phê,
tiêu, điều ) và cây công nghiệp ngắn ngày (đay )
- Trang trại trồng cây lơng thực, thực phẩm: quy mô đất nhỏ. Rất phù
hợp với điều kiện đất đai và khí hậu vùng đồng bằng. Trong nhóm
này, cây lúa chiếm một vị trí đáng kể.
- Trang trại kinh doanh đặc thù: đó là các trang trại trồng hoa cảnh,
cây cảnh, hoặc nuôi vật cảnh, cung cấp giống cho nông dân Loại
này không đòi hỏi diện tích đất đai lớn, vốn lớn nhỏ tuỳ loại sản
phẩm nhng phải có trình độ khoa học kĩ thuật. Rất phù hợp với các
vùng đồng bằng vốn đất đai hạn chế.
*Trang trại chăn nuôi:
11
Loại hình trang trại này cũng rất đa dạng. Nếu là vùng núi trung du
rộng lớn, thờng chăn nuôi các loại đại gia súc (bò, dê ) còn ở vùng đồng bằng
là các loại gia súc nhỏ (lợn, đà điểu, ) và gia cầm.
*Trang trại thuỷ sản: loại hình trang trại này rất đặc thù, nhất thiết phải
có mặt nớc nuôi trồng thuỷ sản với một diện tích nhất định. Ven biển Đồng
bằng Sông Hồng có rất nhiều yếu tố để phát triển ngành này. Tuy nhiên, các
trang trại thủy sản cũng rất thờng xuyên phải đối mặt với những rủi ro về khí
hậu do những đặc trng riêng của ngành.
*Trang trại kinh doanh tổng hợp: chủ trang trại có thể kết hợp trồng trọt
với chăn nuôi, trồng trọt với nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất với dịch vụ, tiểu thủ
công nghiệp hoặc thậm chí tất cả các hình thức miễn sao có lợi.
3.3. Phân loại trang trại theo chủ thể kinh doanh
Chủ trang trại có thể sở hữu hoặc đi thuê t liệu sản xuất. Trờng hợp phổ
biến là chủ trang trại sở hữu quyền sử dụng đất nhng phải đi thuê máy móc,
thiết bị, chuồng trại, kho tàng. ở Việt Nam, ngời chủ trang trại chỉ có quyền sử
dụng đất (t liệu sản xuất chủ yếu) chứ không có quyền sở hữu nên tốt nhất
không phân loại theo loại hình sở hữu về t liệu sản xuất.
Theo chủ thể kinh doanh, có thể chia kinh tế trang trại thành:
- Trang trại nhà nớc: nh nông trờng quốc doanh, công ty nông nghiệp
nhà nớc, thờng có quy mô lớn nên hình thành nên nhiều cấp trung gian. Các
nông trờng các công ty này lại khoán cho gia đình công nhân lập trang trại gia
đình.
- Các hợp tác xã nông nghiệp: sau khi luật hợp tác xã ra đời, nhiều hợp
tác xã nông nghiệp chuyển thành hợp tác xã dịch vụ đầu vào, đầu ra cho các
hộ gia đình nông dân. Hợp tác xã nông nghiệp cũng có thể hình thành nhờ sự
hợp tác sản xuất của các xã viên. Hình thức này ngày nay rất ít tồn tại.
12
- Trang trại của công ty hợp doanh: Là loại hình kinh doanh nông
nghiệp quy mô lớn theo hớng sản xuất hàng hoá của các công ty hợp doanh.
Họ có thể trực tiếp sản xuất hoặcgiao cho các hộ gia đình hay một đơn vị kinh
tế khác làm, hùn vốn hay góp phần lớn vốn góp.
- Trang trại gia đình: Đây là loại hình phổ biến nhất của kinh tế trang
trại trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Loại hình này thực chất là
các hộ nông dân từ kinh tế tiểu nông sản xuất tự túc, tiến lên kinh tế trang trại
sản xuất hàng hoá với các mức độ khác nhau. Trang trại gia đình rất đa dạng
về quy mô, về sở hữu và sử dụng ruộng đất, về chủng loại và số lợng lao động
với số lợng khác nhau, về nguồn vốn và khoa học công nghệ, về ngành nghề,
mặt hàng sản xuất.Trong hình thức này, mỗi gia đình là một chủ thể kinh tế,
họ bỏ vốn và sức lao động để sản xuất, tự lo cả đầu vào và đầu ra cho sản
phẩm.
- Trang trại t nhân kinh doanh nông nghiệp: là loại trang trại của cá
nhân các nhà t bản, công thơng gia, hoặc công ty cổ phần , hoặc thuê đất đai,
thuê lao động sản xuất kinh doanh nông nghiệp nghĩa là họ hoàn toàn sử dụng
lao động làm thuê nh các doanh nghiệp t nhân kinh doanh công nghiệp, dịch
vụ khác của nền kinh tế.
II. Vai trò của kinh tế trang trại đối với phát triển kinh tế-
xã hội vùng Đồng bằng Sông Hồng
Bất kì một hình thức sản xuất nào cũng gây ảnh hởng đến đời sống kinh
tế xã hội nói chung. Là một thực thể kinh tế, các trang trại hình thành và phát
triển đã có những đóng góp không nhỏ cả về mặt tăng trởng kinh tế và phát
triển xã hội, làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp - nông thôn.
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, vùng Đồng bằng Sông
Hồng bao gồm Thủ đô Hà Nội và 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng, là
13
một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá lớn, giữ một vai trò quan trọng
trong chiến lợc phát triển chung của quốc gia. Nông nghiệp của vùng Đồng
bằng Sông Hồng có một thế mạnh lớn, đóng góp 23,28% GDP toàn vùng và
không ngừng tăng qua các năm, trong đó có sự đóng góp của kinh tế trang trại.
1. Phát triển kinh tế trang trại là một tất yếu của quá trình phát triển
sản xuất nông nghiệp- nông thôn
Các ngành sản xuất đều có xu hớng tích luỹ về vốn và các yếu tố sản
xuất khác: t liệu, lao động, kinh nghiệm, trình độ quản lý Trong nông nghiệp
cũng vậy. Những năm cuối thế kỷ 17 ở các nớc bắt đầu công nghiệp hoá, đã có
chủ trơng thúc đẩy các quá trình tập trung ruộng đất, xây dựng các xí nghiệp
nông nghiệp t bản quy mô lớn với hi vọng mô hình này sẽ tạo ra nhiều nông
sản tập trung với giá rẻ hơn sản xuất gia đình phân tán. Lúc đầu Marx cũng
cho rằng đây là điều tất yếu trong qúa trình công nghiệp hoá nền nông nghiệp
t bản chủ nghĩa nhng trong tác phẩm cuối cùng của mình, ông đã viết: Ngay
ở nớc Anh nền công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không
phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình
không dùng lao động làm thuê.
(2)
Sở dĩ nh vậy là vì sản xuất nông nghiệp có
đặc trng khác với công nghiệp ở chỗ là phải tác động vào những vật sống (cây
trồng, vật nuôi) nên không phù hợp với hình thức tổ chức sản xuất tập trung
quy mô quá lớn.
Công cuộc đổi mới kinh tế và đổi mới nông nghiệp của Việt Nam mới
bắt đầu cách đây gần hai chục năm. Cơ chế thị trờng không chỉ tác động mạnh
mẽ đến hoạt động của các ngành công nghiệp, dịch vụ mà còn làm thay đổi
căn bản mục đích và do đó thay đổi cả phơng thức sản xuất trong nông nghiệp.
Sự phát triển của trao đổi hàng hoá đặt ra yêu cầu làm ra sản phẩm phải là
hàng hoá với giá cả hợp lý và chất lợng đảm bảo hơn. Không chỉ là các nông
(2)
K.Marx, Toàn tập, tập 25, phần 2.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét