Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Những giải pháp chính để giải quyết vấn đề lao động - việc làm trong khu vực nông thôn

Thái Bình, Ninh Bình trung bình mỗi hộ có từ 6 đến 12 khoảng đất (mỗi khoảng
rộng trên dới 200 m
2
).
Các số liệu thống kê cho ta thấy số liệu sau:
Lực lợng
lao động
nông thôn
Lực lợng lao động
nông thôn trong độ
tuổi lao động
Số ngời thiếu việc làm ở nông thôn
Tổng
Từ 15-24 tuổi Từ 25-34 tuổi
Số lợng Tỉ lệ Số lợng Tỉ lệ
32 tr 27 tr 7,2 tr 2,63 tr 36-37 (%) 2 tr 27-28 (%)
Nguồn: Số liệu ở bảng này tham khảo từ bài viết: Phát triển dạy nghề
cho thanh niên nông thôn nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn của Lê Doãn Khải - Tạp chí lao động xã hội, 3/1999.
Các tỉ lệ này cho thấy tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn hiện nay khá
trầm trọng và chủ yếu lại ở vào lứa tuổi thanh niên là số lao động khoẻ mạnh,
nhanh nhạy và có khả năng tiếp thu nhanh các kiến thức mới.
Bên cạnh vấn đề số lợng dân số bớc vào độ tuổi lao động tăng nhanh gây
ra hiện tợng d thừa lao động, hơn nửa triệu lao động dôi d phải trở về làm
ruộng, trong những năm qua do tinh giảm biên chế ở khu vực Nhà nớc cũng đợc
coi là một lý do đáng kể gây ra sức ép lớn đối với vấn đề việc làm ở nông thôn.
Ngày nay quá trình đô thị hoá diễn ra rất mạnh, đất nông nghiệp mất dần nhất
là ở các vùng ven đô, ven đờng giao thông. Theo báo cáo điều tra của Viện quy
hoạch và thiết kế nông nghiệp năm 1996 cho thấy diện tích đất canh tác tính
bình quân cho một lao động nông thôn Việt Nam rất thấp (0,3 ha/1 lao động)
thời gian làm việc nông nghiệp thấp (khoảng 4-7 tiếng/ngày). Chỉ có khoảng
18% lao động nông nghiệp làm 210 ngày/năm còn lại làm dới 200 ngày/năm.
Đặc biệt có khoảng 21% làm việc 90 ngày/năm. Theo tính toán nếu nh chỉ là
lao động thuần nông, với số lợng ngời lao động và với quỹ đất canh tác nh hiện
thời thì lao động nông thôn d thừa khoảng 30% (8-9 triệu ngời).
Thế nhng đánh giá một cách khách quan, tình trạng việc làm ở khu vực
nông thôn nhìn chung bớc đầu đã có những chuyển biến tích cực, biểu hiện cụ
thể là:
5
Số ngời hoạt động kinh tế trong 12 tháng qua (xét ở cuối năm 1997) thiếu
việc làm tính đến thời điểm điều tra ở nông thôn cả nớc đã giảm từ 27,65% năm
1996 xuống còn 25,47% năm 1997.
Trong 7 vùng lãnh thổ thì có các số liệu sau:
Đồng bằng Sông Hồng (từ 31,9% giảm còn 28,96%)
Đồng bằng Sông Cửu Long (từ 30,94% giảm còn 28,46%).
Các vùng còn lại có 3 vùng giảm 2 vùng tăng. Tuy nhiên tỷ lệ tăng giảm
này không đáng kể.
Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra lao động - việc làm năm 1997.
Hơn nữa tỉ lệ thời gian lao động đợc sử dụng ở khu vực nông thôn cuối
năm 1997 đã đợc nâng cao hơn so với năm 1996. Tính chung cả nớc đã tăng đ-
ợc từ 72,11% lên 72,90% (với dân số từ đủ 15 tuổi trở lên tới hết độ tuổi hoạt
động kinh tế). Cả trên 7 vùng lãnh thổ đều đạt tỉ lệ thời gian lao động đợc sử
dụng gần 72% trở lên. Năm 1996 chỉ có 4 vùng đạt tỉ lệ trên 72%, còn 3 vùng tỉ
lệ này từ 62% đến 71% (Nguồn: Báo cáo kết quả điều tra lao động việc làm
năm 1997).
2-/ Mặc dù có lực lợng lao động đông đảo về số lợng, song chất lợng
nguồn lao động nông thôn lại hết sức khiêm tốn, nếu không muốn nói
là còn yếu kém:
Lao động nông thôn có u thế phần đông là lao động trẻ khoẻ, song cái hạn
chế lớn nhất là trình độ chuyên môn, kỹ thuật không cao. Hơn nữa số lao động
có chuyên môn nghiệp vụ qua đào tạo tại khu vực nông thôn lại phân bố không
đều, không hợp lý theo chuyên môn của mình. Kết quả nghiên cứu của trung
tâm nghiên cứu dân số và nguồn lao động trong chơng trình KX03 do Trung
tâm khoa học xã hội nhân văn quốc gia chủ trì cho thấy: Chiều cao trung bình
của lao động nông thôn là 156 cm, trọng lợng trung bình là 48 kg, trẻ, khoẻ.
Tuy nhiên chỉ có 10% số lao động có trình độ trung học, cao đẳng và đại học
trở lên trong khu vực nông thôn là đợc đào tạo về lĩnh vực nông - lâm - ng
nghiệp. Về trình độ văn hoá, các số liệu ở chơng trình KX03 này cho thấy: Tỷ
6
lệ tốt nghiệp PTTH là 59%, tốt nghiệp PTCS là 10%, tốt nghiệp tiểu học là
10%; biết đọc, biết viết là 4,5% cha biết chữ là 1,5%.
Xã hội ngày càng phát triển với trình độ khoa học công nghệ hiện đại đòi
hỏi phải có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn hoá cao, biết phát triển và
hoàn thiện mình. Thế nhng trong các cơ sở sản xuất có tới 55% số lao động
đang làm việc cha qua đào tạo nghề, trong các hộ ngành nghề tỷ lệ là 84% riêng
lao động trẻ thì tỷ lệ này là 65,4%. Với chất lợng lao động nh vậy thì quả là một
thách thức lớn cho nớc ta nếu muốn nông nghiệp và nông thôn phát triển.
Do trong một thời gian dài chúng ta cha có một chiến lợc đào tạo nghề cho
lao động nông thôn nên phần lớn lao động nông thôn nói chung và lao động trẻ
nông thôn nói riêng hiện đang làm việc trong tình trạng không đợc đào tạo nghề
một cách hệ thống. Tình trạng này đã cho thấy một bức tranh rất đáng lo ngại ở
nông thôn là: có tới 95,6% lao động trẻ làm việc chủ yếu bằng cơ bắp, lao động
trí óc và kỹ thuật chỉ chiếm 4,4% (Nguồn: tham khảo từ bài viết: Phát triển
và dạy nghề cho thanh niên nông thôn nhằm công nghiệp hoá - hiện đại hoá
nông nghiệp nông thôn - Lê Doãn Khải - Tạp chí lao động xã hội, tháng
3/1999).
Rõ ràng, đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản của việc chậm
chuyển dịch cơ cấu lao động theo hớng CNH-HĐH trong nông nghiệp nông thôn
và đây cũng là một thách thức lớn trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nớc.
3-/ Về cơ cấu kinh tế, phân bố và sử dụng nguồn lao động:
Mặc dù trong mấy thập niên qua chúng ta đã đẩy mạnh công tác phân bố
lại lao động dân c trên phạm vi toàn quốc song sự chênh lệch mật độ dân c giữa
các vùng khá lớn, diện tích đất nông nghiệp bình quân trên một lao động chênh
lệch gấp nhau tới 3 lần. Cơ cấu lao động nông thôn còn lạc hậu kèm với nó là
quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm chạp và kém hiệu quả. Về
cơ bản ở nông thôn Việt Nam vẫn là sản xuất tự cung, tự cấp, hệ số sử dụng
ruộng đất chỉ đạt từ 1 - 2 lần. (Nguồn: số liệu tham khảo từ bài viết: Về sử
7
dụng nguồn lao động ở nôn thôn hiện nay - PTS. Trần Văn Luận - Bộ lao
động thơng bình và xã hội - Tạp chí kinh tế dự báo, 1999).
Trong nông thôn, cơ cấu lao động xã hội có sự chuyển dịch theo hớng tăng
tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp với mức
độ còn chậm.
Theo kết quả điều tra lao động việc làm toàn quốc năm 1997 (Bộ lao động
thơng binh và xã hội và Tổng cục thống kê) cho thấy tỷ lệ lao động nông nghiệp
chiếm 77,98%, công nghiệp và xây dựng chiếm 6,86% còn dịch vụ chiếm
15,06% (trong tổng số 27.857.460 lao động đang làm việc trong các ngành kinh
tế xã hội ở nông thôn). Tỉ lệ này của các vùng đợc biểu thị ở bảng sau:
8
cơ cấu phân bố lao động nông thôn theo ngành kinh tế
(năm 1997)
Đơn vị: ngời
Vùng Tổng số
Chia theo nhóm ngành kinh tế
Nông - Lâm - Ng Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ
Số lợng % Số lợng % Số lợng %
Nông thôn cả nớc 27.857.460 21.721.150 77,98 1.910.205 6,85 4.196.105 15,06
Miền núi và trung du 5.500.581 5.087.070 92,48 113.630 2,07 299.881 5,45
Đồng bằng sông Hồng 5.723.913 4.393.281 76,82 458.802 8,02 867.830 15,16
Khu bốn cũ 4.021.525 3.319.453 82,54 249.403 6,20 452.669 11,26
Duyên Hải miền trung 2.785.685 2.087.961 74,95 210.499 7,56 487.225 17,49
Tây Nguyên 1.104.727 984.637 86,33 25.630 2,32 94.760 8,55
Đông Nam Bộ 2.320.972 1.287.482 55,47 359.594 15,49 673.896 29,04
Đồng bằng sông Cửu Long 6.400.057 4.587.266 71,68 492.647 7,69 1.320.144 20,63
Nguồn: Điều tra lao động việc làm toàn quốc năm 1997 (Bộ LĐ - TB và xã hội và Tổng cục thống kê)
9
Trong thời gian qua một số địa phơng đã có nhiều mô hình chuyển dịch cơ
cấu lao động giải quyết việc làm tăng thu nhập. Ví dụ: huyện Quỳ Hợp là một
huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An. ở Quỳ Hợp diện tích đất trồng lúa
nớc rất hạn chế (chỉ chiếm 29,7% diện tích gieo trồng và 3,8% diện tích đất tự
nhiên). Huyện đã biết khai thác triệt để tiềm năng kinh tế của một huyện miền
núi, mà trớc hết là tiềm năng kinh tế rừng để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả về
tính chất và cơ cấu của nền sản xuất. Bởi vậy tỷ trọng giá trị nông - lâm nghiệp
trong GDP giảm mạnh từ 78,5% năm 1994 xuống 66,7% năm 1996. Tỷ trọng
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đã bắt đầu tăng lên từ 14,34% lên 24,3%
trong khoảng thời gian tơng ứng. Số lợng đàn gia súc, gia cầm cũng tăng lên
đáng kể trong khoảng thời gian từ năm 1991 - 1996 cụ thể: đàn trâu bò tăng từ
11.455 con lên 29.437 con, đàn lợn tăng từ 23.550 con lên 30.859 con và đàn dê
tăng từ 300 con lên 1.500 con.
Sở dĩ kinh tế huyện Quỳ Hợp có chiều hớng phát triển tích cực đó là do
huyện đã tiến hành chuyển dịch cơ cấu nền sản xuất nói chung và cơ cấu ngành
nông - công nghiệp nói riêng. Tuy nhiên sự tăng trởng và chuyển dịch kinh tế
nh trên là cha ngang tầm với tiềm năng của huyện.
4-/ Tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn đã và đang đợc
thực hiện, nhằm tiến tới một nông thôn phát triển bền vững, kinh tế
tăng trởng, công bằng xã hội đợc thực hiện. Nó không tách rời với việc
xoá đói giảm nghèo bởi ngời nghèo ở nông thôn chiếm phần lớn trong
số ngời nghèo của cả nớc.
Mặc dù nớc ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, nhng hiện tợng
hộ đói, hộ nghèo ở nông thôn vẫn còn phổ biến. Sau 10 năm đổi mới tổng sản l-
ợng lơng thực tăng gấp 2 lần, song bình quân lơng thực trên đầu ngời chỉ tăng
khoảng 60 kg và vẫn còn ở mức 300 kg/ngời/năm. Ngay ở Đồng bằng Sông Cửu
Long - vựa lúa của cả nớc mà bình quân lơng thực trên đầu ngời mới đạt mức
600 kg/ngời/năm. ở khu vực này sản lợng lơng thực tăng 4 lần từ 2,7 triệu
tấn/năm lên 11 triệu tấn/năm. Diện tích cây lơng thực bình quân đầu ngời giảm
10
từ 0,5 ha/ngời xuống còn 0,15 ha/ngời. Ngời nông dân nếu chỉ làm trồng trọt thì
cùng lắm mới đủ ăn chứ không thể trở thành giàu có đợc bởi vì làm nông
nghiệp thì hệ số sử dụng đất thấp, năng suất thấp, giá của nông sản lại không
cao.
Theo kết quả điều tra cho thấy hộ gia đình nông thôn nghèo tuyệt đối
chiếm khoảng 29,6% - 35,65% số hộ đói 5,7% - 7,9%. Các gia đình nghèo đói
thờng có nhiều ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng thờng xuyên bị mất
mùa (Nguồn: tham khảo số liệu báo cáo vấn đề xoá đói giảm nghèo - thầy
Nguyễn Hải Hữu - Bộ lao động thơng binh và xã hội).
Xoá đói giảm nghèo đang đợc coi là nhiệm vụ trọng tâm của chơng trình phát
triển hoá nông thôn đang đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm, nó không chỉ đem lại
công bằng văn minh cho xã hội mà còn có tính nhân đạo rất cao.
5-/ Luồng di dân tự do từ nông thôn ra đô thị ngày càng tăng. Trong luồng
di dân gồm có ngời di dân thông thờng và ngời di dân tạm thời:
ở những ngời di dân thông thờng: quá trình di dân của họ là để thay đổi về
không gian sinh sống và làm việc nhằm mục đích tạo ra một nơi sinh sống mới
tốt đẹp hơn. ở đây ta đặc biết chú ý tới ngời di dân tạm thời, họ là những ngời di
dân đến thành phố tìm việc trong thời gian nông nhàn, khi đến thời kỳ mùa vụ
thì họ quay trở về quê cũ để làm công việc đồng áng.
Di dân nói chung và di dân tạm thời nói riêng ảnh hởng tới chất lợng và số l-
ợng nguồn lao động nông thôn. Bên cạnh việc làm giảm đi sức ép về việc làm ở
khu vực nông thôn còn ảnh hởng tới chất lợng: Di dân tạm thời đa số là những ng-
ời trong độ tuổi lao động, trẻ, có sức khoẻ, có khả năng chấp nhận lao động nặng
nhọc làm những công việc mà ngời dân đô thị không muốn làm. Phần lớn ngời di
dân tạm thời là nam giới, hệ số giới tính là 4,57 (cứ 457 nam thì có 100 nữ) trong
khi hệ số này của di dân thông thờng là 1,03 nh vậy việc nặng nhọc ở nông thôn sẽ
không có nhiều ngời có sức lực cáng đáng. Điều này làm cho chất lợng nguồn lao
11
động ở nông thôn sẽ ngày càng suy giảm nếu không có những giải pháp xử lý hữu
hiệu (Nguồn: tham khảo từ bài viết: Những đặc trng chính của ngời di dân tạm
thời tìm việc làm ở đô thị Hà Nội - Tạp chí thông tin thị trờng lao động, năm
1998).
Hơn nữa, nếu không đợc quản lý và tổ chức thì di dân tạm thời cũng là
nguồn gốc của tệ nạn xã hội, nh ngời lao động ở chợ lao động bị các cai, trùm
bóc lột tàn nhẫn thậm chí bị đe doạ đến tính mạng và đây còn là nguồn gốc của
các tệ nạn xã hội ở thành phố.
12
chơng III
Những giải pháp chính để giải quyết vấn đề lao động -
việc làm trong khu vực nông thôn
Giải quyết vấn đề lao động - việc làm ở nông thôn phải đặt trong bối cảnh
chung của chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Coi trọng thực hiện
CNH-HĐH trong phát triển nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp - ng nghiệp - diêm
nghiệp) và xây dựng nông thôn, đa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản
xuất lớn là nhiệm vụ quan trọng cả ở trớc mắt và lâu dài.
1-/ Phát triển kinh tế xã hội nói chung, phát triển nông nghiệp và xây
dựng nông thôn nói riêng nhằm tạo mở việc làm.
Đây là nhánh hoạt động quan trọng nhất liên quan tới vấn đề giải quyết
việc làm cho ngời lao động, nó quyết định cơ bản tới việc tăng hoặc giảm chỗ
làm việc trong thị trờng lao động. Do vậy, phải thực hiện các hoạt động nhằm
giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế với giải quyết việc làm để đạt
đợc mục tiêu trong 4 năm (1997-2000) cả nớc tạo mở đợc 5 triệu chỗ làm việc
mới.
Trong giai đoạn hiện nay, việc tập trung đầu t cho các trung tâm phát triển,
các cực phát triển là rất cần thiết, song không vì thế mà chúng ta không quan
tâm tới đầu t, phát triển nông thôn; bởi lẽ nếu không làm thế sẽ nảy sinh nhiều
vấn đề xã hội nông thôn rất khó giải quyết.
Các cơ hội việc làm ở nông thôn sẽ đợc tạo ra từ:
- Phát triển và đa dạng hoá các hoạt động nông - lâm nghiệp, đồng thời phát
triển các dịch vụ cung cấp hàng hoá vật t đầu vào cho các hoạt động này.
- Phát triển các hoạt động chế biến, lu kho, vận chuyển và thị trờng trong
một dây chuyền khép kín, đồng bộ từ mặt ruộng đến thị trờng trong nớc hoặc
xuất khẩu.
13
- Phát triển các ngành nghề nông thôn và dịch vụ khác trên cơ sở đổi mới,
củng cố phát triển kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình, kinh tế trang trại nhất là
phát triển trang trại hộ gia đình ở các vùng chậm phát triển và các vùng đất
hoang hoá, đồi núi trọc. Để từ năm 1999-2000 phải khai thác thêm và sử dụng
có hiệu quả 3 triệu ha đất hoang hoá, phủ xanh 5 triệu ha đất rừng, tập trung xây
dựng các dự án lấn biển, khai thác kinh tế biển, chơng trình đánh bắt xa bờ,
tăng vòng quay sử dụng đất từ 2-2,5 lần ở các vùng sinh thái có điều kiện.
Tóm lại: vấn đề trớc mắt là tạo ra càng nhiều việc làm cho ngời lao động
nói chung và ngời lao động khu vực nông thôn nói riêng càng tốt. Phải coi giải
quyết việc làm không phải chỉ là nhiệm vụ của ngành lao động mà còn là trách
nhiệm của các cấp, các ngành, các đơn vị cơ sở cũng nh của mỗi gia đình và của
riêng cá nhân ngời lao động. Chỉ có huy động đồng bộ trong một thể thống nhất
mọi nguồn lực của xã hội mới có thể tạo đợc môi trờng và điều kiện thuận lợi về
kinh tế, xã hội và pháp lý nhằm khuyến khích duy trì chỗ làm việc và tạo mở
thêm nhiều chỗ làm việc mới nhằm phát triển việc làm thờng xuyên, ổn định và
có hiệu quả.
2-/ Giải quyết việc làm ở nông thôn phải gắn bó hữu cơ với phát triển
chất lợng lực lợng lao động:
Với mục tiêu đến năm 2000 ở khu vực nông thôn đa tỷ lệ lao động đã qua
đào tạo lên 20% chúng ta cần phải gắn bó tổ chức đào tạo nghề với sản xuất và
thị trờng sức lao động. Hình thức đào tạo nghề ngắn hạn cần phải đợc coi trọng
với phơng châm cần gì học lấy. Ngoài ra đào tạo nghề cho nông dân các vùng
ven đô để có thể cơ động chuyển sang làm ở các ngành nghề và dịch vụ khác
cũng hết sức quan trọng và cần thiết. Để giải quyết tốt vấn đề đào tạo nghề cho
lao động nông thôn chúng ta cần tập trung vào các giải pháp:
2.1. Cần u tiên đẩy mạnh quy mô và tốc độ dạy nghề cho lao động nông
thôn, mà trớc hết là cho lao động trẻ. Bên cạnh đó để nâng cao hiệu quả dạy
nghề, kế hoạch đào tạo nghề thì ta cần xuất phát từ chiến lợc ngành nghề của
địa phơng nhằm phát huy truyền thống, thế mạnh của từng vùng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét