Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Công ty
Công ty đã tạo được công ăn việc làm cho người lao động đặc biệt đã
thay đổi được cơ cấu bộ máy tổ chức phong cách quản lý và hứa hẹn những
bước phát triển mới
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
P. Tổ chức P. Kế hoạch
thị trường
P. Kế toán
tài vụ
Ban Xử lý
CTXD
P. Chuyên
doanh 1
P. Chuyên
doanh 2
P. Hành
chính QT
Chi nhánh
TP HCM
Chi nhánh
Hải Phòng
Chi nhánh
Đà Nẵng
XN sản xuất giầy
Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
II. Phạm vi hoạt động và cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty.
1. Phạm vi hoạt động của Công ty
Bao gồm các lĩnh vực sau:
Xuất khẩu các mặt hàng mây tre, thủ công mỹ nghệ, hàng nông lâm
sản nguyên liệu phục vụ công nghiệp và mặt hàng khác.
- Nhập khẩu các loại vật tư máy móc, tư liệu sản xuất, phương tiện vận tải.
- Nhận uỷ thác xuất khẩu thực hiện các dịch vụ liên quan đến hoạt
động kinh doanh.
- Tổ chức sản xuất, liên kết với các tổ chức trực thuộc các TPKT,
trong nước và nước ngoài để đẩy mạnh xuất nhập khẩu.
2 Trang thiết bị và cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty
- Trang thiết bị và cơ sở vật chất là một trong những nhân tố quan
trọng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là yếu tố đánh giá
mức độ hiện đại của công ty nhất là khoa học công nghệ ngày càng tác
động mạnh do vậy muốn sản phẩm đứng vững trên thị trường phải đổi mới
đầu tư máy móc trang thiết bị, dây chuyền công nghệ, cơ sở vật chất của
công ty được thể hiện ở bảng dưới đây.
Tổng TSCĐ đầu kỳ là 47.430.827 nghìn, trong đó máy móc, thiết bị,
phương tiện vận tải là 20.263.736 nghìn tương ứng với 57,28% với kết cấu
tài sản như vậy là phù hợp.
Năm 2007 TSCĐ tăng 2.027.599 nghìn đồng số tăng tương đối chủ
yếu do mua sắm phương tiện vận tải là 1.258.923 nghìn chiếm 62,08%.
Như vậy, tình hình tăng giảm TSCĐ trong kỳ ta xác định tổng nguyên
giá là 47.403.827 nghìn đồng. Trong đó nhà xưởng vật kiến trúc giữ tỷ
trọng cao. Hầu hết TSCĐ của công ty còn mới, đây là dấu hiệu tốt về tình
hình cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty - cụ thể là tổng giá trị còn lại của
TSCĐ cuối kỳ là 28.230.709. Trong đó giá trị còn lại của máy móc,
phương tiện vận tải là 12.387.687 nghìn đồng, chiếm 43,8%, nhà cửa kiến
trúc chiếm 46,2%.
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
Bảng 1: Tình hình tăng, giảm tài sản cố định năm 2007 của Công ty
Đơn vị: Nghìn đồng
Chỉ tiêu
Nhà cửa vật
kiến trúc
Máy móc,
phương tiện
vận tải
Tổng
I. Nguyên giá TSCĐ
1. Số dư đầu kỳ
2. Số tăng trong kỳ
Trong đó:
- Mua sắm mới
- Xây dựng mới
3. Số giảm trong kỳ
- Thanh lý
- Nhượng bán
4. Số dư cuối kỳ
27.167.091
722.352
722.352
735.099
735.099
27.154.354
20.263.736
1.305.247
1.462.307
435.536
433.536
20.222.306
47.430.827
2.027.600
2.184.659
1.167.626
589.713
47.376.659
II. Giá trị hao mòn
1. Số dư đầu kỳ
2. Số tăng trong kỳ
3. Số giảm trong kỳ
4. Số dư cuối kỳ
9.436.029
1.023.926
148.623
10.3110.332
8.331.460
1.984.475
1.481.317
8.834.618
17.767.489
3.008.401
1.629.940
19.145.950
III. Giá trị còn lại
1. Đầy kỳ
2. Cuối kỳ
17.731.062
16.843.022
11.932.276
11.387.687
29.663.338
28.230.709
Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2007 của Công ty
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
Như vậy: Qua phân tích về TSCĐ năm 2007 TSCĐ của công ty còn
rất mới hiện nay Công ty đang từng bước thay thế những TSCĐ không còn
phù hợp bằng những TSCD mới hiện đại hơn.
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU MÂY TRE ĐAN CỦA
CÔNG TY CỔ PHẤN XNK VIỆT NAM (BAROTEX VIỆT NAM)
I. Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty trong những năm
gần đây
1. Một số đặc điểm về sản xuất mặt hàng mây tre và hiệu quả của
hoạt động xuất khẩu hàng mây tre
1.1 Một số đặc điểm về sản xuất hàng mây tre
Mây tre là mặt hàng mà việc tạo ra nó từ khâu mua, khâu chế biến tạo
thành phẩm dựa vào kỹ thuật thủ công, để đánh giá được tiêu chuẩn chất
lượng thường không thống nhất mà dựa vào kỹ thuật của nhiều người, ngay
1 số sản phẩm cùng một người làm giữa trước và sau đã có sự khác nhau về
kích thước hình dáng mầu sắc cùng việc hun nan mỗi vùng nghề có một
cách hun riêng, một yêu cầu riêng về chất lượng có thể nói rằng có bao
nhiêu vùng làm nghề, có bao nhiêu thợ thì có bấy nhiêu cách hiểu và tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng nan đan.
Việc sản xuất mặt hàng mây tre đan yêu cầu số lượng nhân công lớn
với trình độ học vấn trung bình, vốn đầu tư lại ít, sử dụng phần lớn nguyên
liệu sẵn có. Mặt hàng mây tre đan sản xuất từ nhiều nguyên liệu khác nhay
và tạo nên hàng hoá đa dạng và phong phú và tính thẩm mỹ cao. Để tạo ra
được các sản phẩm đẹp, bền đảm bảo tốt tính vệ sinh công nghiệp của sản
phẩm thuận lợi cho việc đóng gói bao bì và vận chuyển, đáp ứng được nhu
cầu thưởng thức cái đẹp và thực dụng của sản phẩm, giá thành phải hợp lý.
Ngoài ra mây tre đan không đòi hỏi hàm lượng khoa học kỹ thuật cao mà
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
tính thẩm mỹ được quan tâm nhiều hơn bởi sự khéo léo và kinh nghiệp lâu
đời.
Tuy nhiên sản phẩm hàng mây tre có điểm hạn chế là luôn bị ảnh
hướng của các yếu tố như: Khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, mọt, nhậy, nấm,
mốc… luôn trình rập tấn công làm giảm chất lượng hàng hoá khi có điều
kiện.
1.2. Hiệu quả của hoạt động xuất khẩu
1.2.1. Hiệu quả xã hội
Xét về mặt xã hội, phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng mây tre đã
khai thác những tiềm năng to lớn. Trước hết đó là việc khai thác nguồn lao
động dồi dào, thiếu việc làm ở nước ta đặc biệt là khu vực nông thôn hơn
nữa yêu cầu tay nghề và kỹ thuật của sản phẩm mây tre không quá phức tạp
nên có thể nhanh chóng đào tạo lao động phục vụ sản xuất việc phát triển
sản xuất đã tạo cho người lao động có việc làm, có thu nhập ổn định và
nâng cao đời sống cho hàng trăm người.
Ngoài việc khai thác tiềm năng lao động, phát triển kinh doanh hàng
mây tre còn có tác dụng khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có ở tất cả các
miền ở nước ta, hơn nữa nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hàng mây
tre chủ yếu là lâm sản phụ nên việc khai thác không ảnh hưởng đến việc
bảo vệ rừng và các nguồn tài nguyên khác.
Việc kết hợp cả 2 mặt khai thác tiềm năng về lao động và tiềm năng về
nguyên liệu đã mang lại hiệu quả to lớn, phát triển sản xuất và xuất khẩu
hàng mây tre chính là khai thác điểm mạnh của nước ta trong cạnh tranh
trên thị trường quốc tế. Việc đào tạo được việc làm cho người lao động
ngành mây tre đã tạo thu nhập cho họ, lấp dần khoảng cách đời sống giữa
các khu vực và ngành nghề.
1.2.2.Hiệu quả kinh tế
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
Ngoại tệ của nước ta thu được chủ yếu là từ hoạt động xuất khẩu, khi
có nguồn thu ngoại tệ thì ta mới thực hiện việc nhập khẩu nguyên liệu và
hàng tiêu dùng cần thiết, phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng mây tre
cũng đóng góp một phần nhỏ và việc tạo nguồn hàng và phục vụ cho lợi ích
quốc gia, sang thời kỳ mới doanh nghiệp được sử dụng nguồn ngoại tệ thu
được của mình phục vụ cho mục đích kinh doanh.
Từ kết quả kinh doanh của Công ty trong nhiều năm và thực tiễn hoạt
động xuất khẩu hàng mây tre, giá trị hàng mây tre được phân bổ như sau:
- Người khai thác nguyên liệu: 25% trị giá xuất khẩu
- Người sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm: 32% trị giá xuất khẩu
- Nguyên liệu nhập khẩu (hoá chất, bột màu): 3% trị giá xuất khẩu
- Thuế nhà nước thu từ khai thác nguyên liệu, thuế, doanh thu:15% trị
giá xuất khẩu
- Phí kinh doanh: 5% trị giá xuất khẩu.
Cụ thể kim ngạch xuất khẩu hàng mây tre được phân bổ như sau:
- Khu vực khai thác nguyên liệu: 10.575.000 USD
- Khu vực sản xuất trực tiếp: 13.536.000 USD
- Trị giá nguyên liệu nhập khẩu: 1.296.000 USD
- Phí cơ sở, địa phương: 8.460.000 USD
- Thuế nhà nước thu từ khai thác nguyên liệu, doanh thu, lợi tức:
6.345.000 USD
- Phí kinh doanh: 2.115.000 USD
Từ các số liệu trên, ta có thể thấy người khai thác nguyên liệu,
người sản xuất và công ty đều thu được lợi ích kinh tế từ xuất khẩu
mây tre với nguồn thu từ việc sản xuất hàng mây tre, nhiều địa phương
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
đã tích luỹ và tạo dựng được những cơ sở vật chất phục vụ cho mở
rộng sản xuất và nâng cao đời sống người lao động.
Quy mô ngành mây tre so với các ngành khác có tham gia hoạt
động xuất khẩu thì kim ngạch của mây tre là bé. Song do nhu cầu của
thị trường việc củng cố ổn định và phát triển hàng mây tre là cần thiết.
2. Tình hình hoạt động xuất khẩu mây tre đan của Công ty
trong thời gian gần đây.
2.1 Cơ cấu mặt hàng mây tre đan xuất khẩu của Công ty
Barotex.
Mây tre đan là mặt hàng truyền thống của công ty, chiếm tỷ trọng
lớn trong kim ngạch.
Có thể thấy mặt hàng mây tre đan đóng vai trò chủ lực, trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của Công ty.Mặc dù tỷ trọng xuất khẩu mây tre
trong tổng kim ngạch xuất khẩu có giảm nhẹ những giá trị tuyệt đối
không hề giảm, thực tế lợi nhuận vẫn tăng.
Bảng 2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Công ty
Mặt hàng
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Trị giá
(USD)
Tỷ lệ
(%)
Trị giá
(USD)
Tỷ lệ
(%)
Trị giá
(USD)
Tỷ lệ
(%)
Mây tre đan 7.034.357 57,15 6.232.505 52,99 6.477.002 49,75
Giầy thể thao 3.969.997 32,26 4.584.238 38,97 5.439.361 47,70
Hàng khác 4.309.172 10,59 946.324 8,05 252.766 2,55
Cộng 12.306.727 100 11.763.067 100 13.019.129 100
Nguồn: Báo cáo thực hiện xuất khẩu của Công ty
qua năm 2005, 2006, 2007.
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
Cơ cấu mặt hàng mây tre đan có thể chia làm 3 nhóm:
Nhóm 1: Bao gồm mặt hàng đan nát, mỹ nghệ, hàng gia dụng
đáp ứng nhu cầu đa dạng trong đời sống sinh hoạt hằng ngày. Nhóm
này phong phú về chủng loại, đa dạng về kích cỡ, mầu sắc. Hàng làm
từ nhiều chất liệu khác nhau, đan kết hợp tạo nên vô vàn sản phẩm có
cấu trúc màu sắc khác nhau.
Nhóm 2: Mành các loại, được làm từ chất liệu nứa, giang cọ trúc,
buông theo mẫu mã, đề tài khác nhau để mộc tự nhiên hoặc hun khói,
kết tranh có mầu, kích thước khác nhau.
Nhóm 3: Bàn ghế các loại được làm từ song, chẻ, mây… như bàn
ghế, nội thất hàng được làm từ song mây kết với gỗ có nhiều kích
thước khác nhau.
Một vài năm gần đây có sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu
mặt hàng mây tre đan xuất khẩu.
Bảng 3: Kết quả kinh doanh xuất khẩu theo mặt hàng
Mặt hàng
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số tiền TT (%) Số tiền TT (%) Số tiền TT (%)
Tổng KNXK
mây tre
10.089 100 10.291 100 11,078 100
Nhóm 1 7.354 72,89 8.224 79,91 9,110 82,23
Nhóm 2 1.726 17,11 1.016 9,81 843 7,61,
Nhóm 3 1.009 10 1.051 10,22 1.125 10,16
Nguồn: Báo cáo thực hiện xuất khẩu của Công ty
qua các năm 2005, 2006, 2007
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
Thu hoạch Thực tập tốt nghiệp
Nhóm 1: Luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng KNXK mây tre năm
2005 KNXK 7354 nghìn USD, chiếm 72,89%. TỔng KNXK mây tre 2006
là 8.224 nghìn USD, năm 2007 là 9,110 nghìn USD, KNXK nhóm này tăng
ổn định luôn chiếm tỷ trọng 70%. Đây là nhóm phong phú và đa dạng được
sử dụng rộng rãi hàng ngày.
Nhóm 2: Trong những năm gần đây việc buôn bán bị gián đoạn buôn
bán theo nghị định thư không còn, hàng trả nợ Chính phủ giảm làm thị
phẩn của nhóm giảm hiện chiếm khoảng không đầy chục phần trăm năm
2005 là 1.726 nghìn USD, năm 2006 là 1.016 nghìn USD, năm 2007 giảm
xuống còn 843 nghìn USD.
Nhóm 3: Là nhóm yêu cầu kỹ thuật cao, chu trình sản xuất khép kín,
đòi hỏi sự trợ giúp máy móc và thiết bị đây là nhóm hàng mang lại giá trị
cao KNXK tăng lên qua các năm, giá của mặt hàng này cao, chi phí vận
chuyển lớn giao dịch về mặt hàng này ít đi khi đến ký kết hợp đồng.
2.2. Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Công ty Barotex
2.2.1. Đặc điểm thị trường xuất khẩu chính
Mặt hàng mây tre ngày càng nhộn nhịp, trên thế giới có 3 trung tâm
sản xuất hàng mây tre là các khu vực Đông Nam Á và Nam Á, khu vực Mỹ
La Tinh và các nước Châu Phi.
Trong đó khu vực Đông Nam Á có Kim Nghạch Xuất Khẩu lớn là:
Inđônêxia, philippin, Thái Lan, Mailayxia, Trung Quốc. Việt Nam là nước
xuất khẩu mây tre đan nhưng KN còn nhỏ đạt 0,15% nước ta tuy có chính
sách giảm thuế nhưng lại chưa tạo điều kiện thuận lợi đầu tư để sản xuất
mặt hàng này các nước nhập khẩu lớn: Châu Á
Phạm Thị Thanh Tuyến Lớp: K23C
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét