Thứ Hai, 3 tháng 3, 2014

Tài liệu Quyết định số 792/QĐ-TTg doc

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 792/QĐ-TTg
Hà Nội, ngày 23 tháng 06 năm 2008

QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI TRUNG TÂM TRỢ
GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC VÀ CHI NHÁNH CỦA TRUNG TÂM GIAI ĐOẠN
2008 – 2010, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2015”
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Trợ giúp pháp lý ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Đề án “Quy hoạch mạng lưới Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và
Chi nhánh của Trung tâm giai đoạn 2008 – 2010, định hướng đến năm 2015” (ban hành
kèm theo Quyết định này).
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính
phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm
thi hành Quyết định này./.


Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
THỦ TƯỚNG




Nguyễn Tấn Dũng
- Kiểm toán Nhà nước;
- BQL KKTCKQT Bờ Y;
- Ngân hàng Chính sách Xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công
báo;
- Lưu: Văn thư, PL (5b).


ĐỀ ÁN
QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI TRUNG TÂM TRỢ GIÚP PHÁP LÝ NHÀ NƯỚC VÀ
CHI NHÁNH CỦA TRUNG TÂM GIAI ĐOẠN 2008 – 2010, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN
NĂM 2015
(Ban hành kèm theo Quyết định số 792/QĐ-TTg ngày 23/6/2008 của Thủ tướng Chính
phủ)
I. QUAN ĐIỂM QUY HOẠCH
1. Bảo đảm trợ giúp pháp lý là chính sách xã hội, không vì mục đích lợi nhuận thể hiện
trách nhiệm và bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo đảm thực thi quyền con
người, quyền công dân để trợ giúp pháp lý thật sự có chất lượng, hiệu quả, bảo vệ tốt nhất
các quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý, góp phần tăng cường
quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và văn minh;
2. Đưa trợ giúp pháp lý hướng về cơ sở, đặc biệt là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phù hợp với tiến trình cải
cách tư pháp, từng bước xã hội hóa trợ giúp pháp lý bằng việc mở rộng và phát triển
mạng lưới cộng tác viên, khuyến khích, thu hút và huy động tổ chức hành nghề luật sư, tư
vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý;
3. Bảo đảm tính khoa học, đồng bộ, toàn diện, khả thi, kế thừa và phát huy tối đa nguồn
lực hiện có, bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững; có trọng tâm, trọng điểm và phù
hợp với điều kiện thực tế của địa phương; tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững trên
cơ sở dự báo được nhu cầu ợ giúp pháp lý ngày càng cao của nhân dân.
tr
II. MỤC TIÊU QUY HOẠCH
1. Mục tiêu tổng quát
a) Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền được trợ giúp pháp lý của người nghèo, người có
công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật; khắc phục các
bất cập, hạn chế hiện có trong tổ chức bộ máy, cán bộ của Trung tâm trợ giúp pháp lý
Nhà nước (sau đây gọi là Trung tâm) và Chi nhánh của Trung tâm (sau đây gọi là Chi
nhánh), huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý, tăng cường điều kiện
về nguồn lực và cơ sở vật chất để đáp ứng kịp thời nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhân
dân;
b) Kiện toàn Trung tâm và hình thành mạng lưới Chi nhánh, đáp ứng có hiệu quả yêu cầu
nhiệm vụ, bảo đảm trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước giữ vai trò
nòng cốt trong việc thực hiện, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý để hoạt động trợ giúp
pháp lý thật sự gần dân, thân dân, sát cơ sở, giải quyết vụ việc ngay tại địa bàn, gắn với
truyền thông, giải đáp pháp luật, giảm bớt tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp
và không đúng pháp luật;
c) Xác định hợp lý về cơ cấu tổ chức bộ máy, số lượng viên chức của Trung tâm và Chi
nhánh bảo đảm tính chuyên môn hóa, tách bạch các hoạt động mang tính hành chính
quản lý với các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý cũng như định hướng
phát triển mạng lưới cộng tác viên trên cơ sở dự báo đầy đủ nhu cầu trợ giúp pháp lý để
thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cho phù hợp, nâng cao năng lực
cán bộ nghiệp vụ, bảo đảm tính chuyên sâu, chuẩn hóa đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý
theo hướng chuyên môn hóa, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2. Mục tiêu cụ thể:
a) Giai đoạn từ 2008 đến 2010:
Tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy của Trung tâm, chú trọng thành lập Chi
nhánh ở vùng xa trung tâm, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các địa bàn được coi là điểm nóng về giải quyết
khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong cộng đồng dân cư, bảo đảm đáp ứng từ 95% đến 98%
nhu cầu trợ giúp pháp lý của người được trợ giúp pháp lý.
- Trong năm 2008, hoàn thành việc kiện toàn tổ chức, bộ máy Trung tâm. Trung tâm có
Giám đốc, Phó Giám đốc và các Phòng chuyên môn nghiệp vụ phù hợp với đặc điểm,
nhu cầu địa phương, bảo đảm tính chuyên môn hóa. Đến năm 2010 mỗi lĩnh vực trợ giúp
pháp lý, Trung tâm có ít nhất 01 Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách. Đối với địa phương
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi, nơi có ít luật sư, tư vấn viên pháp luật, cần bố trí hợp lý số lượng Trợ giúp viên pháp
lý và viên chức có trình độ Cử nhân luật làm việc tại Trung tâm và Chi nhánh một cách
hợp lý để khắc phục tình trạng không có luật sư, thiếu luật sư hoặc không có người đủ
điều kiện tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý; có kế
hoạch tìm kiếm nguồn cán bộ, viên chức cho Trung tâm và Chi nhánh làm cơ sở để thực
hiện việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, tạo nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý, chú
trọng cán bộ là nữ, người dân tộc thiểu số. Định mức số lượng cán bộ, viên chức cụ thể
của Trung tâm và Chi nhánh do liên Bộ: Tư pháp, Nội vụ quy định cụ thể, nhưng phải
bảo đảm đủ nguồn lực đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhân dân ở địa phương;
- Trong năm 2008, tiến hành rà soát lại mạng lưới Tổ, Điểm trợ giúp pháp lý hiện có và
tiến hành thành lập Chi nhánh theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý tại các huyện xa
trung tâm (từ trên 25 km đối với địa bàn đồng bằng đông dân cư và trên 35 km đối với
địa bàn vùng trung du và miền núi), những địa phương được coi là điểm nóng về giải
quyết khiếu nại, tố cáo và mâu thuẫn, tranh chấp trong cộng đồng dân cư. Chi nhánh có
Trưởng Chi nhánh, ít nhất 01 Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách. Phấn đấu đến năm
2010, tổng số Chi nhánh của mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chiếm khoảng
1/3 tổng số các đơn vị hành chính cấp huyện (căn cứ dự báo địa điểm có Tòa án khu
vực);
- Trong năm 2008, tiến hành rà soát, củng cố mạng lưới Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý,
thành lập mới và duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ tại tất cả các xã thuộc Chương trình mục
tiêu quốc gia giảm nghèo và Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó
khăn và miền núi để Câu lạc bộ thật sự là hình thức trợ giúp pháp lý cộng đồng, có thể
thu hút, huy động mọi khả năng và nguồn lực của địa phương tham gia trợ giúp pháp lý
nhằm hỗ trợ, cung cấp kiến thức pháp luật, giải tỏa kịp thời các vướng mắc pháp luật của
nhân dân ngay tại địa bàn dân cư;
- Củng cố và phát triển mạng lưới cộng tác viên trợ giúp pháp lý để có thể thu hút những
người là cán bộ, công chức trong ngành Tư pháp đã nghỉ hưu; cán bộ, công chức làm việc
trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, các giảng viên luật, luật sư, luật gia tham gia trợ giúp
pháp lý, chú trọng cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ. Đến năm 2010, mỗi Trung
tâm có từ 150 cộng tác viên trở lên, bảo đảm mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý có từ 10 cộng
tác viên chuyên sâu trở lên, trong đó 70% số cộng tác viên có trình độ từ đại học trở lên;
- Hoàn thành việc đánh giá thực trạng mạng lưới tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp
luật, khuyến khích và thu hút các tổ chức này đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý bằng cơ
chế hỗ trợ bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng trợ giúp pháp lý và tài
liệu pháp luật, phấn đấu đến năm 2010 có thể thu hút từ 30% - 40% tổng số tổ chức hành
nghề luật sư, tư vấn pháp luật (khoảng 1.500 đến 2.000 người) đăng ký tham gia trợ giúp
pháp lý;
- Tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho viên chức là nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên
pháp lý; thực hiện việc bồi dưỡng nghiệp vụ thường xuyên, bảo đảm mỗi năm có từ 60%
- 80% tổng số người thực hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương được bồi dưỡng, tập huấn
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng trợ giúp pháp lý và cập nhật kiến thức
pháp luật mới;
- Nâng cao trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc bảo đảm nguồn lực cán
bộ, cơ sở vật chất, kinh phí bảo đảm cho công tác trợ giúp pháp lý ở địa phương. Phấn
đấu đến năm 2010, tất cả các Trung tâm đều được tạo điều kiện bố trí, sắp xếp trụ sở làm
việc độc lập, thuận tiện cho người được trợ giúp pháp lý tiếp cận trên tinh thần sử dụng
các cơ sở vật chất hiện có, chỉ xây dựng trụ sở mới sau khi đã được sắp xếp nhưng không
đáp ứng được để tránh lãng phí và không cần thiết. Trung tâm và Chi nhánh có đủ kinh
phí cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc,
phương tiện đi lại phục vụ hoạt động chuyên môn như xác minh vụ việc, trợ giúp lưu
động, sinh hoạt Câu lạc bộ, chuyên đề pháp luật theo định mức, tiêu chuẩn do Thủ tướng
Chính phủ ban hành;
- Dự liệu nguồn kinh phí cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của Trung tâm và Chi
nhánh tăng dần hàng năm từ nguồn ngân sách của địa phương trong điều kiện dự án hỗ
trợ của nước ngoài cho công tác trợ giúp pháp lý giảm dần. Ngân sách trung ương thực
hiện việc hỗ trợ đối với một số hoạt động của Trung tâm thông qua Quỹ Trợ giúp pháp lý
Việt Nam, qua các Chương trình mục tiêu quốc gia. Ngân sách của địa phương bảo đảm
kinh phí hoạt động thường xuyên, kinh phí chi không thường xuyên và kinh phí nghiệp
vụ trợ giúp pháp lý; mỗi năm trong toàn quốc kinh phí cấp cho hoạt động nghiệp vụ trợ
giúp pháp lý tăng khoảng từ 30 tỷ đồng đến 40 tỷ đồng và khoảng 20 tỷ đồng cho mua
sắm, sửa chữa, bảo trì trang thiết bị, phương tiện làm việc phục vụ trực tiếp cho công tác
trợ giúp pháp lý. Kinh phí xây dựng trụ sở mới được bố trí bằng vốn đầu tư xây dựng cơ
bản theo kế hoạch hàng năm do ngân sách địa phương tự cân đối;
- Có chính sách khuyến khích, động viên để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tích cực tham
gia, đóng góp, hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý cũng như đóng góp tài chính hỗ trợ hoạt
động trợ giúp pháp lý thông qua Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam, phấn đấu để có thể huy
động được các nguồn lực hỗ trợ từ xã hội cho hoạt động trợ giúp pháp lý (chiếm từ 20% -
40% tổng số kinh phí bảo đảm cho hoạt động trợ giúp pháp lý).
b) Giai đoạn 2011 – 2015:
Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cho Trung tâm đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ; thành lập Chi nhánh tại các địa bàn nơi đặt Tòa án khu vực theo lộ
trình của cải cách tư pháp để đáp ứng từ 98% đến 100% nhu cầu trợ giúp pháp lý bằng
hình thức tham gia tố tụng của người được trợ giúp pháp lý.
- Đến năm 2015, mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý quy định tại Điều 34 Nghị định số
07/2007/NĐ-CP đều có ít nhất từ 02 – 03 Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách, trong đó có
ít nhất 10 Trợ giúp viên pháp lý giỏi, có khả năng thực hiện ít nhất từ 02 – 03 lĩnh vực trợ
giúp pháp lý trở lên và có khả năng tham gia tố tụng thành thạo, tương ứng với chất
lượng dịch vụ pháp lý do luật sư cung cấp ngoài thị trường tự do. Dự liệu đủ nguồn lực
cán bộ, viên chức cho Trung tâm và Chi nhánh tạo nguồn bổ sung đội ngũ Trợ giúp viên
pháp lý để khắc phục tình trạng điều động, luân chuyển cán bộ của Trung tâm, bảo đảm
Trung tâm có ổn định số lượng Trợ giúp viên pháp lý để thực hiện tốt nhiệm vụ được
giao;
- Củng cố, kiện toàn bộ máy các Chi nhánh đã thành lập; tiếp tục thành lập mới Chi
nhánh tại các địa bàn nơi đặt Tòa án khu vực, bảo đảm 100% địa bàn có Tòa án khu vực
theo lộ trình của cải cách tư pháp đều thành lập Chi nhánh và ở địa bàn có nhiều người
thuộc diện được trợ giúp pháp lý, giao thông đi lại khó khăn. Về cơ cấu, Chi nhánh có
Trưởng Chi nhánh và các Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách, bảo đảm có thể đáp ứng
yêu cầu chuyên môn hóa các lĩnh vực trợ giúp pháp lý theo quy định tại Điều 34 của
Nghị định số 07/2007/NĐ-CP;
- Nâng cao năng lực của Trung tâm để có đủ khả năng tổ chức, huy động các tổ chức
hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Dự liệu đủ
nguồn lực người thực hiện trợ giúp pháp lý (Trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên và luật
sư, luật gia…) để đáp ứng 100% nhu cầu trợ giúp pháp lý của người được trợ giúp pháp
lý, bảo đảm đến năm 2015, thực hiện trong thực tế quyền được lựa chọn người thực hiện
trợ giúp pháp lý, chú trọng phát triển nguồn lực là nữ và người dân tộc thiểu số;
- Phát triển mạng lưới cộng tác viên, đến năm 2015, mỗi Trung tâm có từ 200 cộng tác
viên trở lên, trong đó mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý có từ 07 cộng tác viên chuyên sâu trở
lên. Ở cấp xã nơi đặt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, phấn đấu có từ 02 cộng tác viên để có
thể tham gia sinh hoạt Câu lạc bộ, hỗ trợ Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm tổ chức
trợ giúp pháp lý lưu động;
- Bồi dưỡng bổ sung kiến thức pháp luật mới và kỹ năng trợ giúp pháp lý cho Trợ giúp
viên pháp lý và cộng tác viên, nâng cao năng lực đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp
lý và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu hoạt động; bảo đảm hàng năm 100% tổng số người
thực hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương đều được bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn về kỹ
năng trợ giúp pháp lý ở các phạm vi phù hợp;
- Dự liệu đủ nguồn kinh phí bảo đảm cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ; kinh phí đầu
tư hỗ trợ xây dựng, cải tạo và nâng cấp trụ sở làm việc và cơ sở vật chất, trang thiết bị
cho Trung tâm và các Chi nhánh đã được thành lập. Mỗi năm từ ngân sách Trung ương
hỗ trợ cho hoạt động trợ giúp pháp lý ở những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thông qua Quỹ Trợ giúp pháp
lý Việt Nam, các Chương trình, dự án khoảng 30%. Số còn lại do ngân sách địa phương
chịu trách nhiệm, bảo đảm tăng trung bình từ 40 tỷ đồng đến 70 tỷ đồng cho các Trung
tâm và Chi nhánh trong toàn quốc (bao gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy phô tô,
máy vi tính và kinh phí cho hoạt động chuyên môn nghiệp vụ…). Đối với việc trang bị
phương tiện đi lại (ô tô, xe máy…) được thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính
phủ; huy động sự tham gia, hỗ trợ tích cực cho hoạt động trợ giúp pháp lý của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân, nhất là việc đóng góp, hỗ trợ tài chính cho trợ giúp pháp lý.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA ĐỀ ÁN
1. Giai đoạn 2008 - 2010
Hoạt động 1. Khảo sát, đánh giá dự báo nhu cầu trợ giúp pháp lý và khả năng nguồn
cung đáp ứng nhu cầu trợ giúp pháp lý theo định kỳ hàng năm cả trước mắt và lâu dài,
bảo đảm có đủ cơ sở thực tiễn để triển khai thực hiện quy hoạch trong cả nước và của
từng địa phương:
- Khảo sát, dự báo nhu cầu trợ giúp pháp lý, bao gồm tổng số người thuộc diện được trợ
giúp pháp lý (người nghèo, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ
em, người tàn tật, người già cô đơn, người bị nhiễm chất độc da cam, người bị nhiễm
HIV…) và diễn biến trong từng năm và đến năm 2010, định hướng 2015 để đánh giá
đúng đắn thực trạng nhu cầu trợ giúp pháp lý làm cơ sở cho các địa phương dự liệu
nguồn lực cán bộ, viên chức cho Trung tâm và Chi nhánh cũng như cơ sở vật chất, kinh
phí bảo đảm hoạt động; đánh giá thực trạng và kịp thời dự báo tình hình giải quyết khiếu
nại, tố cáo, số vụ việc tồn đọng và việc giải quyết các vụ, việc, các loại án của cơ quan
tiến hành tố tụng cũng như nhu cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân trong điều kiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (tập trung trợ giúp pháp lý giải quyết khiếu kiện về đền bù, giải
phóng mặt bằng, đình công, bảo vệ quyền lợi của người lao động, chế độ chính sách cho
phụ nữ, người có công, người dân tộc thiểu số…). Từ đó, có dự báo chính xác nhu cầu trợ
giúp pháp lý, các lĩnh vực trợ giúp pháp lý, từng hình thức trợ giúp pháp lý, các loại vấn
đề khác có liên quan cho từng năm và trong từng giai đoạn;
- Khảo sát thực trạng và dự kiến xu hướng phát triển của thị trường dịch vụ pháp lý, bao
gồm sự phân bố và phát triển của mạng lưới tổ chức hành nghề luật sư (Văn phòng luật
sư, Công ty luật, số lượng và chất lượng đội ngũ luật sư), tư vấn pháp luật (khả năng các
tổ chức đoàn thể xã hội thành lập các tổ chức tư vấn pháp luật trực thuộc) và khả năng
đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý của các tổ chức này;
- Khảo sát, đánh giá thực trạng nguồn Cử nhân luật được bổ sung cho thị trường lao động
(trong toàn quốc và của từng địa phương) từ các cơ sở đào tạo luật từ nay đến năm 2010,
định hướng đến năm 2015 để có chính sách thu hút, đưa về làm việc tại Trung tâm và Chi
nhánh, đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền tăng chỉ tiêu tạo nguồn để cử đi đào tạo,
bồi dưỡng nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý. Nghiên cứu, hình thành cơ chế để có
thể thu hút các luật sư hành nghề tại các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật vào
làm việc tại Trung tâm và Chi nhánh tạo nguồn cán bộ, viên chức, đáp ứng yêu cầu xã
hội;
- Khảo sát thực trạng và dự kiến số lượng cộng tác viên phát triển trong từng năm và từng
giai đoạn trên cơ sở dự báo nguồn cán bộ tư pháp nghỉ hưu và cán bộ các cơ sở nghiên
cứu đào tạo luật, cơ sở báo chí…; nguồn cán bộ, công chức đang làm công tác pháp luật
và người có kiến thức pháp luật chuyên sâu hiện có tại địa phương để khuyến khích lực
lượng là phụ nữ, người dân tộc thiểu số, mời tham gia làm cộng tác viên; bảo đảm cộng
tác viên có đủ tiêu chuẩn, tích cực và chủ động tham gia trợ giúp pháp lý, từng bước nâng
cao chất lượng, hạn chế tình trạng trợ giúp pháp lý sai gây thiệt hại cho người được trợ
giúp pháp lý, khắc phục tình trạng thiếu biên chế, cán bộ của Trung tâm và Chi nhánh;
- Rà soát mạng lưới tổ chức trợ giúp pháp lý ở cơ sở (Tổ, Điểm, Câu lạc bộ trợ giúp pháp
lý), củng cố, kiện toàn và nâng cấp thành Chi nhánh ở những nơi có nhiều nhu cầu; tiếp
tục củng cố, kiện toàn và phát triển mạng lưới Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý đang hoạt động
có hiệu quả, thành lập mới ở địa bàn cấp xã.
Hoạt động 2. Củng cố, kiện toàn Trung tâm để phù hợp với quy định của Luật Trợ giúp
pháp lý theo hướng chuyên môn hóa:
Hoàn thành việc đổi tên, xác định nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức:
- Đổi tên: tiến hành đổi tên Trung tâm trợ giúp pháp lý của Nhà nước thành Trung tâm
trợ giúp pháp lý nhà nước và tiến hành khắc con dấu mới. Việc đổi tên, khắc con dấu mới
được thực hiện chậm nhất là ngày 15 tháng 7 năm 2008;
- Về vị trí pháp lý: Trung tâm là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Tư pháp, có tư cách pháp
nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng. Trung tâm chịu sự quản lý nhà nước của Sở
Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, sự quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên
môn, nghiệp vụ của Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp.
- Về chức năng: Trung tâm có chức năng cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người
được trợ giúp pháp lý, giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu
biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo
dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh
chấp và vi phạm pháp luật.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Trung tâm có các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều
15 Luật Trợ giúp pháp lý, các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 8 Nghị định số
07/2007/NĐ-CP và các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc
Giám đốc Sở Tư pháp giao phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Trung tâm.
- Về cơ cấu tổ chức: Trung tâm có Giám đốc, Phó Giám đốc, các phòng chuyên môn và
Chi nhánh trực thuộc. Trung tâm có các Trợ giúp viên pháp lý, các viên chức và người
lao động khác. Trung tâm được sử dụng cộng tác viên.
Trong năm 2008 hoàn thành việc củng cố, kiện toàn bộ máy lãnh đạo Trung tâm. Việc
thành lập và số lượng các phòng chuyên môn nghiệp vụ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
quyết định theo Đề án kiện toàn tổ chức, bộ máy của Trung tâm đã được phê duyệt, bảo
đảm có các phòng chuyên môn gắn với nhóm lĩnh vực trợ giúp pháp lý quy định tại Điều
34 của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP.
Đối với Trung tâm trong năm 2008 chưa có đủ nguồn lực cán bộ, chưa thành lập các
phòng thì bố trí các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ. Mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý quy
định tại Điều 34 của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP phải có ít nhất 01 Trợ giúp viên pháp
lý chuyên trách và 01 – 02 cán bộ nguồn bồi dưỡng để bổ nhiệm và cấp thẻ Trợ giúp viên
pháp lý. Các năm tiếp theo, căn cứ vào nhiệm vụ được giao và nhu cầu trợ giúp pháp lý
của nhân dân, có thể bổ sung thêm cho Trung tâm và Chi nhánh đủ số lượng cán bộ, viên
chức cần thiết để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trong đó đặc biệt chú ý đến việc bố trí
nguồn lực Trợ giúp viên pháp lý cho các Trung tâm, Chi nhánh tại các địa phương có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi,
vùng có ít tổ chức hành nghề luật sư và tư vấn pháp luật.
Về cơ cấu mạng lưới cộng tác viên, trong năm 2008, hoàn thành việc rà soát lại toàn bộ
đội ngũ cộng tác viên hiện có và lựa chọn những người đủ tiêu chuẩn theo quy định của
Luật Trợ giúp pháp lý để bổ sung cho đội ngũ cộng tác viên của Trung tâm. Chấm dứt
cộng tác đối với những người không còn đủ tiêu chuẩn hoặc không tham gia trợ giúp
pháp lý. Phấn đấu đến năm 2010, mỗi Trung tâm có từ 120 cộng tác viên trở lên (trong đó
có từ 6 cộng tác viên là luật sư trở lên), phấn đấu khoảng 1/2 là nữ và có 3/4 số lượng
cộng tác viên làm việc tại cấp huyện, xã; ở địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu
số, mỗi dân tộc có ít nhất 01 đến 02 Trợ giúp viên pháp lý và từ 02 đến 05 cộng tác viên;
phấn đấu huy động ít nhất 30% - 40% số lượng luật sư, tư vấn viên pháp luật hoạt động
tại các địa bàn cơ sở tham gia làm cộng tác viên trợ giúp pháp lý.
Hoạt động 3. Thành lập các Chi nhánh của Trung tâm:
Việc thành lập Chi nhánh của Trung tâm cần xuất phát từ nhu cầu trợ giúp pháp lý cụ thể
của từng địa bàn, trong đó đặc biệt tập trung vào các địa bàn xa trung tâm (từ trên 25 km
đối với địa bàn đồng bằng đông dân cư và trên 35 km đối với địa bàn vùng trung du và
miền núi), trong đó đặc biệt chú trọng thành lập Chi nhánh tại các huyện vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi chưa có tổ chức hành nghề luật sư, tư
vấn pháp luật.
- Về vị trí pháp lý: Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm đặt tại cấp huyện, thực
hiện trợ giúp pháp lý trong phạm vi từ 01 đến 03 huyện trở lên và chịu sự quản lý của
Trung tâm. Trung tâm chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện trợ giúp pháp lý bằng các
hình thức trợ giúp pháp lý quy định tại Điều 27 Luật Trợ giúp pháp lý, quy định của Nghị
định số 07/2007/NĐ-CP và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo Quy chế tổ chức và hoạt
động của Trung tâm do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành và theo phân công của Giám
đốc Trung tâm.
- Về cơ cấu tổ chức: Chi nhánh có Trưởng Chi nhánh, Trợ giúp viên pháp lý chuyên
trách và cán bộ, viên chức nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý. Trưởng Chi nhánh
phải là Trợ giúp viên pháp lý.
Trong năm 2008, căn cứ vào điều kiện cụ thể, các địa phương triển khai thành lập các Chi
nhánh, bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm làm Trưởng Chi nhánh, đồng thời
lựa chọn cán bộ, viên chức cử đi bồi dưỡng nghiệp vụ tạo nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên
pháp lý.
Trên cơ sở đánh giá kết quả hoạt động của Chi nhánh đã được thành lập, các năm tiếp
theo, thành lập Chi nhánh tại một số huyện còn lại. Chi nhánh có Trưởng Chi nhánh và ít
nhất 01 Trợ giúp viên pháp lý. Số lượng cán bộ, viên chức được bổ sung hàng năm cho
Chi nhánh trên cơ sở nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhân dân và thực trạng phát triển mạng
lưới cộng tác viên ở cơ sở;
Việc kiện toàn Chi nhánh phải bảo đảm đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý của nhân
dân ngay tại cơ sở, huy động được các nguồn lực của địa phương tham gia thực hiện, hỗ
trợ công tác trợ giúp pháp lý, đồng thời bảo đảm việc hướng dẫn, triển khai sinh hoạt đối
với các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động. Giám đốc Trung
tâm ủy quyền cho Trưởng Chi nhánh trong việc bố trí, quản lý và sử dụng các cộng tác
viên trợ giúp pháp lý trong phạm vi địa phương Chi nhánh hoạt động, bảo đảm mỗi Chi
nhánh có ít nhất từ 10 đến 15 cộng tác viên trở lên.
Hoạt động 4. Phát triển mạng lưới trợ giúp pháp lý ở cơ sở để hỗ trợ hoạt động cho
Trung tâm và Chi nhánh:
- Đối với các huyện chưa thể thành lập Chi nhánh thì củng cố, phát triển mạng lưới cộng
tác viên, cứ đủ 03 cộng tác viên trở lên thì thành lập 01 Tổ cộng tác viên để hỗ trợ triển
khai thực hiện trợ giúp pháp lý trên địa bàn cấp huyện.
- Xây dựng mạng lưới Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý. Trong năm 2008, thành lập Câu lạc bộ
tại tất cả các xã nghèo thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo và Chương
trình phát triển kinh tế - xã hội các xã vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi. Các năm tiếp theo, tiếp tục củng cố các Câu lạc bộ đã được thành
lập, thành lập ở các địa bàn khác để đây thật sự là hình thức trợ giúp pháp lý cộng đồng,
thu hút người được trợ giúp pháp lý và những người thuộc diện cận nghèo, phụ nữ, người
dân tộc thiểu số tham gia và điều hành Câu lạc bộ.
Hoạt động 5. Chuẩn bị tốt nguồn lực bảo đảm triển khai thực hiện nhiệm vụ:
- Dự kiến nguồn Cử nhân luật và có chính sách khuyến khích, động viên các luật sư vào
làm việc tại Trung tâm và Chi nhánh tạo nguồn cử đi đào tạo nghề luật sư, bồi dưỡng về
nghiệp vụ trợ giúp pháp lý. Khuyến khích và có chính sách đối với những cán bộ, viên
chức trẻ tích cực đến làm việc tại các Chi nhánh, đặc biệt là các Chi nhánh đặt tại vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng biên giới và hải đảo; chú
trọng việc quy hoạch bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ trợ giúp pháp lý với nghiệp vụ và
kỹ năng quản lý cho đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý dự kiến làm công tác quản lý; kịp thời
bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý đối với những người đã được cấp Chứng chỉ bồi dưỡng
nghiệp vụ, hạn chế tối đa việc luân chuyển Trợ giúp viên pháp lý đã có kinh nghiệm và
kỹ năng trợ giúp pháp lý. Có chính sách thu hút, động viên, khuyến khích các tổ chức
hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật, các cá nhân có đủ điều kiện tham gia trợ giúp pháp
lý.
- Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, bảo đảm trụ sở làm việc của Trung tâm thuận tiện
cho người được trợ giúp pháp lý trong việc tiếp cận theo quy định tại Điều 32 Luật Trợ
giúp pháp lý; bố trí địa điểm làm việc của Chi nhánh. Trước mắt, khi mới thành lập, Ủy
ban nhân dân cấp huyện bố trí 01 phòng làm việc cho Chi nhánh gắn với Phòng Tư pháp.
Về lâu dài, Nhà nước có chính sách để đầu tư, bố trí, sắp xếp hoặc xây dựng trụ sở riêng
cho các Chi nhánh tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc tận
dụng địa điểm làm việc của các Tòa án cấp huyện chưa bố trí sử dụng theo tiến trình cải
cách tư pháp, ưu tiên đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
miền núi.
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc đặc biệt là tủ sách pháp luật với đầy đủ đầu
sách mới; trang bị máy tính để từng bước thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin
vào công tác trợ giúp pháp lý, xử lý, quản lý và cung cấp thông tin, số liệu, biên soạn các
vụ việc trợ giúp pháp lý điển hình và các sổ tay nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, tạo sự liên
thông trong việc thực hiện các vụ việc giữa các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý.
- Tăng cường đầu tư kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước và từ các Chương trình mục
tiêu quốc gia, từ các nguồn hỗ trợ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các Trung tâm và Chi
nhánh; tiếp tục huy động các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tham
gia, đóng góp, hỗ trợ hoạt động trợ giúp pháp lý, phát triển Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt
Nam.
2. Định hướng đến năm 2015
Tiếp tục củng cố, kiện toàn Trung tâm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Kiện toàn các
phòng chuyên môn, bảo đảm 100% Trung tâm đều thành lập các phòng theo hướng
chuyên môn hóa theo lĩnh vực trợ giúp pháp lý. Phòng có Trưởng phòng, Phó Trưởng
phòng các Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách. Tiếp tục củng cố, kiện toàn đội ngũ người
thực hiện trợ giúp pháp lý, để đến năm 2015, mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý quy định tại
Điều 34 Nghị định số 07/2007/NĐ-CP, Trung tâm có từ 02 Trợ giúp viên pháp lý chuyên
trách trở lên và có đủ nguồn Cử nhân luật làm việc tại Trung tâm để bổ sung nguồn Trợ
giúp viên pháp lý trong trường hợp có việc điều động, luân chuyển cán bộ, viên chức là
Trợ giúp viên pháp lý; tiếp tục phát triển mạng lưới cộng tác viên. Mỗi Trung tâm có
trung bình từ 200 cộng tác viên trở lên, trong đó khoảng 1/2 là nữ và tỷ lệ người dân tộc
thiểu số thích ứng theo địa bàn. Bảo đảm mỗi lĩnh vực trợ giúp pháp lý có từ 05 cộng tác
viên chuyên trách trở lên, ở cấp xã có ít nhất từ 01 – 02 cộng tác viên để hỗ trợ sinh hoạt
Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý. Huy động các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật ở
địa phương phối hợp với Trung tâm trong việc triển khai thực hiện trợ giúp pháp lý, phấn
đấu có từ 50% - 60% tổng số tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật của tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý.
Củng cố, kiện toàn các Chi nhánh, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn 2011 –
2015, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của các Chi nhánh đã được thành lập. Bố
trí đủ nguồn lực cán bộ, kinh phí, cơ sở vật chất để các Chi nhánh hoạt động có chất
lượng, hiệu quả, bảo đảm Chi nhánh đã được thành lập hoạt động ổn định, mỗi lĩnh vực
trợ giúp pháp lý có ít nhất 01 Trợ giúp viên pháp lý chuyên trách và có đủ nguồn Cử nhận
luật tạo nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp có sự điều động, luân
chuyển Trợ giúp viên pháp lý làm việc tại Chi nhánh; thành lập Chi nhánh ở những địa
bàn còn lại theo định hướng chiến lược cải cách tư pháp, bảo đảm thành lập tất cả các Chi
nhánh tại nơi có Tòa án khu vực để tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho người được trợ giúp pháp lý.
Xây dựng, kiện toàn mạng lưới trợ giúp pháp lý ở cơ sở, củng cố, phát triển mạng lưới Tổ
cộng tác viên hiện có. Chú trọng việc thành lập Tổ tại các nơi không đặt Chi nhánh. Nâng
cao chất lượng, tăng cường hoạt động quản lý, hướng dẫn về nghiệp vụ của Trung tâm
cho Tổ cộng tác viên; tiếp tục củng cố, kiện toàn và phát triển mạng lưới Câu lạc bộ trợ
giúp pháp lý đã được thành lập để Câu lạc bộ có thể chủ động thực hiện sinh hoạt và triển
khai thực hiện trợ giúp pháp lý ở cơ sở.
Dự liệu các biện pháp bảo đảm cho hoạt động trợ giúp pháp lý, bao gồm nguồn Cử nhân
luật để thực hiện việc tuyển dụng hoặc điều động về làm việc tại Trung tâm và Chi nhánh
để tiếp tục cử đi đào tạo, bồi dưỡng tạo nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý, chú trọng
lực lượng nữ và người dân tộc thiểu số; gắn kết đào tạo, bồi dưỡng liên thông giữa hoạt
động nghề nghiệp trợ giúp pháp lý với các hoạt động của các chức danh tư pháp. Có
chính sách thu hút các luật sư, người có kiến thức pháp luật về làm việc tại Trung tâm và
Chi nhánh, thực hiện việc gắn kết hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư với hoạt động
trợ giúp pháp lý của các Trung tâm và Chi nhánh. Cải tạo, nâng cấp trụ sở làm việc của
Trung tâm và các Chi nhánh của Trung tâm theo đúng tiêu chuẩn định mức, có tính đến
sự phát triển của mạng lưới người thực hiện trợ giúp pháp lý trong những năm tiếp theo.
IV. CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Dự toán tài chính cho hoạt động và dự toán nguồn tài chính bảo đảm thực hiện
Quy hoạch
a) Kinh phí để thực hiện Quy hoạch từ nay đến 2010, dự kiến khoảng 450 tỷ đồng (trong
đó kinh phí từ các Chương trình mục tiêu quốc gia khoảng 60 tỷ đồng, kinh phí hỗ trợ từ
các dự án hợp tác quốc tế khoảng 100 tỷ đồng, Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam khoảng
20 tỷ đồng, còn lại do ngân sách địa phương bảo đảm);
b) Ngân sách địa phương bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động, trang thiết bị,
phương tiện làm việc của Trung tâm và Chi nhánh ở địa phương (bao gồm kinh phí bảo
đảm hoạt động thường xuyên, kinh phí chi không thường xuyên và dự trù kinh phí nghiệp
vụ trợ giúp pháp lý) theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Ngân sách trung ương
hỗ trợ đối với một số hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, hỗ trợ cho địa phương có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia, Quỹ
Trợ giúp pháp lý Việt Nam và dự án hợp tác quốc tế;
c) Ngoài nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp hàng năm, cấp từ các Chương trình
mục tiêu quốc gia, Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam và dự án hợp tác quốc tế, cần huy
động thêm các nguồn nhân lực và kinh phí hỗ trợ từ phía các cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong nước và ngoài nước để thực hiện đầu tư có hiệu quả cho việc phát triển mạng lưới
Trung tâm và Chi nhánh.
2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện về chính sách, pháp luật
a) Ban hành kịp thời các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Trợ giúp pháp lý, để đến hết
năm 2008, về cơ bản có đủ thể chế pháp lý điều chỉnh hoạt động trợ giúp pháp lý;
b) Xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế làm việc của Trung tâm theo hướng
phân cấp, tạo sự chủ động và quy định rõ quyền hạn, nâng cao trách nhiệm, thực hiện
quản lý theo khối lượng và chất lượng công việc của từng vị trí công tác;
c) Rà soát các chính sách khuyến khích, ưu đãi và chế độ đãi ngộ đối với người làm công
tác trợ giúp pháp lý để hoàn thiện chính sách và xác lập quy trình quản lý theo hướng
chuyên nghiệp, nâng cao tính chuyên môn hóa.
3. Các giải pháp kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ
a) Xây dựng và triển khai thực hiện tốt Đề án kiện toàn Trung tâm và Chi nhánh tại địa
phương theo lộ trình sau khi đã được phê duyệt;
b) Rà soát mạng lưới người thực hiện trợ giúp pháp lý, sắp xếp, củng cố và phát triển
mạng lưới cộng tác viên để hình thành đội ngũ chuyên gia làm việc theo hợp đồng cộng
tác thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm, Chi nhánh theo hướng đa lĩnh vực, có trình
độ chuyên môn cao;
c) Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, bảo đảm hoạt động của Trợ giúp viên pháp lý
mang tính chuyên nghiệp tương ứng với trình độ và chất lượng của luật sư của thị trường
tự do cũng như của các chức danh tư pháp khác; duy trì ổn định, tránh luân chuyển để
bảo đảm đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý thạo nghề và đáp ứng yêu cầu tranh tụng trong
điều kiện mới;
d) Dự liệu nguồn Cử nhân luật để bổ nhiệm Trợ giúp viên pháp lý, quy hoạch bố trí đủ tại
Trung tâm và Chi nhánh, nhất là các địa bàn có nhiều nhu cầu, có chính sách khuyến
khích các luật sư vào làm việc tại Trung tâm và Chi nhánh; bồi dưỡng nguồn lãnh đạo
Trung tâm và Trưởng các phòng chuyên môn nghiệp vụ, Trưởng Chi nhánh giỏi về
chuyên môn, thành thạo kỹ năng và có đạo đức nghề nghiệp; có chính sách khuyến khích
đối với viên chức trẻ, là lao động nữ, người dân tộc thiểu số tích cực đến làm việc tại Chi
nhánh đặt tại vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
đ) Đổi mới cơ chế đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ là nguồn bổ nhiệm Trợ giúp viên
pháp lý; nghiên cứu, xây dựng Đề án bồi dưỡng dài hạn và bồi dưỡng nghiệp vụ thường
xuyên hàng năm đối với đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý; hoàn thiện chương
trình, giáo trình phục vụ các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ; có chính sách ưu đãi, hỗ trợ từ
Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam trong việc bồi dưỡng nguồn cán bộ đối với các địa
phương có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
và miền núi;
e) Huy động, khuyến khích các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật và cá nhân có
đủ tiêu chuẩn tham gia thực hiện, hỗ trợ hoặc đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý.
Có chính sách, kế hoạch cụ thể để bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng trợ giúp pháp lý và hỗ
trợ cho lực lượng xã hội này.
4. Các giải pháp về tăng cường mối quan hệ phối hợp
a) Tăng cường mối quan hệ giữa Trung tâm với các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý và
giữa các Chi nhánh trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ;
b) Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức (nhất là cơ quan tiến
hành tố tụng, cơ quan thông tin đại chúng, tổ chức đoàn thể xã hội), chính quyền các cấp
với Trung tâm và Chi nhánh trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý, phối hợp cung cấp
thông tin, tài liệu, cử người làm cộng tác viên và trả lời kiến nghị trợ giúp pháp lý.
5. Các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước
a) Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản
hướng dẫn thi hành, kịp thời phát hiện những sai sót, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn
để hướng dẫn thông qua thể chế cho phù hợp;
b) Hình thành tổ chức chuyên trách thực hiện kiểm tra, đánh giá chất lượng vụ việc trợ
giúp pháp lý ở trung ương và tăng cường kiểm tra, tự đánh giá chất lượng trợ giúp pháp
lý của Trung tâm, kiểm tra việc bố trí nguồn lực và các điều kiện bảo đảm hoạt động trợ
giúp pháp lý có chất lượng theo quy định của Luật;
c) Tăng cường giám sát của các cơ quan, tổ chức để kịp thời biểu dương các gương điển
hình tích cực, xử lý đối với những hành vi vi phạm trong hoạt động trợ giúp pháp lý.
6. Các giải pháp về kinh phí, cơ sở vật chất và điều kiện bảo đảm hoạt động
a) Sử dụng có hiệu quả nguồn lực hiện có, từng bước tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước
cho hoạt động trợ giúp pháp lý, phù hợp với nhu cầu trợ giúp pháp lý ngày càng cao của
nhân dân. Huy động các nguồn lực tài chính theo hướng chủ động, sáng tạo của các địa
phương, xác định rõ trách nhiệm của Trung ương và của địa phương. Nghiên cứu đổi mới
cơ chế xây dựng, quản lý và sử dụng Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam để huy động nguồn
hỗ trợ, tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho hoạt động trợ
giúp pháp lý;
b) Dự trù kinh phí đầu tư hàng năm xây dựng, sửa chữa, nâng cấp trụ sở làm việc,
phương tiện đi lại, trang thiết bị phục vụ hoạt động trợ giúp pháp lý:
- Bố trí địa điểm làm việc hoặc xây dựng trụ sở mới cho các Trung tâm có địa điểm làm
việc chật hẹp hoặc chưa có trụ sở riêng; tu sửa, nâng cấp trụ sở các Trung tâm đã được
xây dựng; đầu tư trang thiết bị, phương tiện làm việc theo tiêu chuẩn, định mức và phù
hợp với quy hoạch về tổ chức bộ máy, biên chế của Trung tâm đến năm 2010, có định
hướng đến năm 2015;
- Bố trí địa điểm làm việc thuận lợi cho các Chi nhánh để người được trợ giúp pháp lý dễ
dàng tiếp cận phù hợp với tính chất hoạt động trợ giúp pháp lý;
- Tăng cường khả năng ứng dụng rộng rãi công nghệ thông tin cho Trung tâm và Chi
nhánh, đặc biệt quan tâm đến các thiết bị phục vụ trực tiếp cho hoạt động trợ giúp pháp
lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tại chỗ để người thực hiện trợ giúp pháp lý có thể
được khai thác dễ dàng tư liệu pháp luật, các tài liệu, giáo trình, sách hướng dẫn nghiệp
vụ và kỹ năng trợ giúp pháp lý;
- Nâng cấp hệ cơ sở dữ liệu vụ việc trợ giúp pháp lý để các tổ chức thực hiện trợ giúp
pháp lý trong toàn quốc có thể bảo quản, tiếp cận, khai thác và sử dụng.
c) Tăng cường hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế về trợ giúp pháp lý trên thế giới
và ở khu vực; mở rộng việc áp dụng các thông lệ và chuẩn mực quốc tế phù hợp với điều

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét