Vì vậy không có kinh tế thị trờng chung chung, thuần túy, trừu tợng
tách khỏi các hình thái kinh tế xã hội, tách rời chế độ xã hội. Trong các
chế độ xã hội khác nhau, kinh tế thị trờng mang tính chất xã hội khác nhau,
có những hậu quả xã hội khác nhau. Tác động tích cực hay tiêu cực của kinh
tế thị trờng đến đâu còn phụ thuộc vào chế độ xã hội, vai trò Nhà nớc, vào
chính sách và pháp luật của Nhà nớc.
2.2. Định hớng XHCN.
Thuật ngữ định hớng XHCN ở Việt Nam lần đầu tiên đợc Đảng
chính thức nêu ra tại Đại hội Đảng lần thứ VII. Đại hội này đã sử dụng tập
hợp từ vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hớng
XHCN và vấn đề giữ vững định hớng XHCN trong quá trình đổi mới đợc
xem là bài học kinh nghiệm đầu tiên trong 5 bài học kinh nghiệm đợc rút ra
sau 5 năm đổi mới. Từ đây, thuật ngữ định hớng XHCN đợc sử dụng rộng
rãi trong các văn kiện của Đảng, Nhà nớc và các tổ chức chính trị xã hội,
trong các công trình khoa học ở nớc ta.
Cho đến nay, về cơ bản, nội dung của định hớng XHCN đợc hiểu là
quá trình phấn đấu thực hiện hóa 6 đặc trng của CNXH mà Đại hội VII đã
thông qua bằng 7 phơng hớng cơ bản. Định hớng XHCN là khái niệm dùng
để chỉ vai trò nhân tố chủ quan trong việc lựa chọn con đờng XHCN, xác
định phơng hớng cơ bản để từng bớc hiện thực hóa con đờng đó và nhằm
khẳng định mặt tích cực của nhân tố chủ quan trong việc xác định nấc thang,
trình độ phát triển của xã hội ta trong giai đoạn hiện nay.
2.3. Đặc trng cơ bản của nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta.
Thứ nhất, về chế độ sở hữu: Nền KTTT định hớng XHCN dựa trên
nhiều hình thức sở hữu nh: sở hữu toàn dân và Nhà nớc, sở hữu tập thể, sở
hữu tập thể, sở hữu t nhân và sở hữu hỗn hợp, song chế độ sở hữu công cộng
(công hữu) về t liệu sản xuất chủ yếu đóng vai trò nền tảng của nền kinh tế
quốc dân. Từ các hình thức sở hữu cơ bản hình thành nhiều thành phần kinh
tế với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp.
Tính định hớng XHCN đòi hỏi trong quá trình phát triển KTTT ở nớc ta phải
5
củng cố và phát triển kinh tế Nhà nớc và kinh tế hợp tác để trở thành nền tảng
của nền kinh tế; có khả năng hớng dẫn các thành phần kinh tế khác phát triển
theo định hớng XHCN. Kinh tế Nhà nớc phải đợc củng cố và phát triển ở các
vị trí then chốt của nền kinh tế, các lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiết cũng nh
an ninh quốc phòng, mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện
hoặc không muốn đầu t vì không có lãi hoặc ít lãi.
Thứ hai, về cơ chế quản lý và vận hành nền KTTT định hớng XHCN.
Cơ chế vận hành KTTT định hớng XHCN là cơ chế thị trờng có sự
quản lý của Nhà nớc dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cơ chế
đó đảm bảo tính hớng dẫn, điều khiển hớng tới đích XHCN của nền kinh tế
theo phơng châm: Nhà nớc điều tiết vĩ mô, thị trờng hớng dẫn doanh nghiệp.
Cơ chế vận hành nền KTTT định hớng XHCN nêu thể hiện rõ các mặt
cơ bản:
Một là, Nhà nớc XHCN Nhà nớc của dân, do dân và vì dân là
nhân tố đóng vai trò nhân vật trung tâm và điều tiết nền kinh tế vĩ mô
nhằm tạo dựng và đảm bảo môi trờng pháp lý, kinh tế, xã hội thuận lợi cho
các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trờng; thực hiện chính sách xã
hội, đảm bảo công bằng xã hội; can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh tế
để đạt đợc các mục tiêu đặt ra.
Hai là, cơ chế thị trờng là nhân tố trung tâm của nền kinh tế, đóng
vai trò trung gian giữa Nhà nớc và doanh nghiệp. Nhà nớc ta quản lý nền
kinh tế và xã hội theo nguyên tắc kết hợp thị trờng với kế hoạch, phát huy
mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trờng, bảo vệ
lợi ích của ngời lao động và của toàn thể nhân dân.
Thứ ba, về các hình thức phân phối.
Trong nền KTTT ở nớc ta tồn tại các hình thức phân phối thu nhập:
phân phối theo lao động, phân phối theo vốn hay tài sản đóng góp, phân phối
theo giá trị sức lao động (nó đợc thực hiện trong các doanh nghiệp t bản t
nhân và các doanh nghiệp mà vốn đầu t là của nớc ngoài), phân phối thông
qua các qũy phúc lợi tập thể và xã hội.
6
Nớc ta xây dựng và phát triển KTTT định hỡng XHCN chứ không phải
là KTTT t bản chủ nghĩa. Chúng ta lấy phát triển KTTT là phơng tiện để đạt
đợc mục tiêu cơ bản xây dựng XHCN, thực hiện dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, mỗi bớc tăng trởng kinh tế ở nớc ta
phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng xã
hội. Việc phân phối thông qua các phúc lợi xã hội và tập thể có ý nghĩa quan
trọng để thực hiện mục tiêu đó.
Thứ t, nền KTTT định hớng XHCN cũng là nền kinh tế mở, hội nhập.
Đặc điểm này phản ánh sự khác biệt giữa nền KTTT định hớng XHCN
mà chúng ta đang xây dựng với nền kinh tế đóng, khép kín trớc đổi mới,
đồng thời phản ánh xu hớng hội nhập của nền kinh tế nớc ta trong điều kiện
toàn cầu hóa kinh tế.
Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn
ra quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự phát triển của mỗi quốc gia
trong sự phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế
khu vực và thế giới là tất yếu đối với nớc ta. Chỉ có nh vậy mới thu hút đợc
vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nớc
để khai thác tiềm năng và thế mạnh nớc ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh
thủ ngoại lực để xây dựng và phát triển KTTT hiện đại theo kiểu rút ngắn.
Thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hớng đa phơng hóa
và đa dạng hóa các hình thức đối ngoại, gắn thị trờng trong nớc với thị trờng
khu vực và thế giới, thực hiện những thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế,
nhng vẫn giữ vững độc lập chủ quyền và bảo vệ đợc lợi ích quốc gia, dân tộc
trong quan hệ kinh tế đối ngoại.
7
CHƯƠNG II. Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà n-
ớc đối với nền KTTT định hớng XHCN
ở Việt Nam hiện nay
2.1. Các quan niệm cơ bản về vai trò của Nhà nớc đối với nền kinh tế thị
trờng.
Trong lịch sử phát triển các học thuyết kinh tế của nhân loại tồn tại
nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của Nhà nớc đối với nền kinh tế, đó là:
thuyết bàn tay vô hình của A.Smith - nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh, lí
thuyết cân bằng tổng quát của Leon Wallras nhà kinh tế học ngời Pháp,
lí thuyết bàn tay Nhà nớc của Keynes, lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp của
P.A.Samuelson nhà kinh tế học Mỹ Và ta đề cập đến ba lý thuyết tiêu
8
biểu trong số các lý thuyết trên phản ánh rõ vai trò của Nhà nớc đối với nền
kinh tế:
Một là, thuyết bàn tay vô hình. A.Smith, tác giả cuốn Của cải của
các dân tộc (1776) là cuốn sách đầu phôi thai của kinh tế học hiện đại đã
xúc động khi phát hiện ra một trật tự trong hệ thống kinh tế. A.Smith đã
tuyên bố nguyên lý bàn tay vô hình, theo nguyên lý này, mỗi lợi ích của
riêng mình nh là đã đợc một bàn tay vô hình dẫn dắt đến chỗ đạt đợc lợi
ích tốt đẹp nhất cho mọi ngời. Trong thế giới tốt đẹp hơn tất cả này, bất kỳ sự
can thiệp nàp của chính phủ vào sự canh tranh tự do gần nh chắc chắn có hại.
Nh vậy, A.Smith cho rằng cần phải tôn trọng bàn tay vô hình, tức hoạt
động sản xuất và lu thông hàng hóa đợc phát triển theo sự điều tiết của bàn
tay vô hình. Nhà nớc không nên can thiệp vào kinh tế, hoạt động kinh tế vốn
có cuộc sống riêng của nó. Và Nhà nớc chỉ có chức năng bảo vệ quyền sở
hữu của các nhà t bản, đấu tranh chống thù trong giặc ngoài, và trừng phạt
những kẻ phạm pháp. Vai trò kinh tế của Nhà nớc đợc thể hiện khi những
nhiệm vụ kinh tế vợt quá sức của các doanh nghiệp nh nhiệm vụ xây dựng
những công trình kinh tế lớn
Học thuyết bàn tay vô hình là một khái niệm để giải thích tại sao kết
quả của một cơ chế thị trờng lại có vẻ trật tự nh thế. Sự thấu hiểu của A.Smith
về chức năng chỉ đạo của chức năng thị trờng đã cổ vũ các nhà kinh tế học
hiện đại cả những ngời thán phục và phê phán chủ nghĩa t bản.
Tuy vậy, cùng với tiến trình phát triển cuả nền kinh tế thì học thuyết
đã tồn tại những hạn chế thực tế. Bởi chúng ta hiểu rằng đôi khi thị trờng
cũng phản lại chúng ta, rằng có những thất bại thị trờng nh độc quyền và
tác động bên ngoài. Chính những thất bại của thị trờng là minh chứng cụ thể
cho thấy rõ sự hạn chế của thuyết bàn tay vô hình của A.Smith cũng nh các
học thuyết của các nhà kinh tế học khác khi quá say mê vẻ đẹp của cơ chế
thị trờng, coi đó là hiện thân của sự hiện thân, của sự hoàn hảo, là tinh túy
của sự hài hòa, của đấng cao siêu, là ngoài tầm tay của con ngời.
Hai là, lý thuyết Nhà nớc điều tiết kinh tế thị trờng.
9
Theo thuyết của trờng phái Keynes, Nhà nớc can thiệp vào kinh tế ở cả tầm vĩ
mô và vi mô. ở tầm vĩ mô, Nhà nớc sử dụng các công cụ nh lãi suất, chính
sách tín dụng, điều tiết lu thông tiền tệ, lạm phát, thuế, bảo hiểm, trợ cấp, đầu
t phát triển ở tầm vi mô, Nhà nớc trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh và dịch vụ công cộng. Keynes và những ngời theo ông tin t-
ởng rằng, sự can thiệp của Nhà nớc vào nền kinh tế sẽ khắc phục đợc khủng
hoảng, thất nghiệp, tạo ra sự ổn định cho phát triển kinh tế xã hội. Song
những chấn động lớn trong nền kinh tế vẫn diễn ra. Hơn nữa, thêm vào đó là
tình trạng khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát vẫn xảy ra ngày càng trầm
trọng. Điều này đã làm tăng làn sóng phê phán lý thuyết của Keynes và làm
xuất hiện t tởng phối hợp bàn tay vô hình với Nhà nớc để điều chỉnh nền
KTTT.
Ba là, lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp.
Lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp là lý thuyết trung tâm của trờng phái
chính hiện đại, lý thuyết này bắt nguồn từ những đòi hỏi thực tiễn của nền
kinh tế t bản. Samuelson cho rằng, điều hành một nền kinh tế không có cả
chính phủ lẫn thị trờng cũng giống nh ngời ta muốn vỗ tay mà chỉ có một bàn
tay.
Theo Samuelson, cơ chế thị trờng là hình thức tổ chức kinh tế trong đó
doanh nhân với ngời tiêu dùng tác động qua lại lẫn nhau thông qua thị trờng
để giải quyết ba vấn đề trung tâm của xã hội cũng nh của nền kinh tế: sản
xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất nh thế nào?. Đồng thời cơ chế thị trờng
là một trật tự kinh tế, là một cơ chế tinh vi phối hợp một cách không tự giác
giữa doanh nhân với nhân dân hay doanh nhân với doanh nghiệp thông qua
hệ thống giá cả trên thị trờng. Nó là một phơng tiện giao tiếp để tập hợp tri
thức của hàng triệu cá nhân khác nhau, không có bộ não trung tâm nhng vẫn
giải quyết đợc bài toán mà máy tính lớn nhất ngày nay không giải nổi.
Từ những nghiên cứu về cơ chế thị trờng, Samuelson đã chỉ ra những
đặc điểm của cơ chế thị trờng.
10
Thứ nhất, cơ chế thị trờng là một cơ chế tự phát, điều tiết quan hệ cung
cầu, hàng hóa tiền tệ. Cụ thể nếu cầu của một loại hàng hóa nào đó
tăng lên thì ngời bán tăng giá để điều tiết, phân phối một lợng cung hạn chế;
khi giá lên cao thúc đẩy ngời sản xuất mở rộng sản xuất; khi có quá nhiều
hàng hóa tức cung vợt cầu thì ngời bán muốn bán hết hàng hóa phải giảm giá
và ngời mua sẽ mua hàng hóa nhiều hơn.
Thứ hai, trong nền KTTT có hai ông vua thống trị thị trờng.
Ông vua thứ nhất là khách hàng (ngời tiêu dùng) vì chính họ là ngòi bỏ
phiếu bằng đô la để bù đắp những chi phí và trả lãi cho doanh nghiệp và họ
chọn điểm nằm trên ranh giới khả năng sản xuất. Ông vua thứ hai là kĩ thuật
vì chính nó quyết định chi phí sản xuất trong hoạt động của các doanh
nghiệp, tổ chức
Thứ ba, trong nền KTTT lợi nhuận vừa là mục đích, vừa là động lực
của ngời kinh doanh. Hay cơ chế thị trờng dùng lãi lỗ để giải quyết ba vấn
đề: sản xuất cái gì, cho ai và nh thế nào.
Thứ t, KTTT phải đợc hoạt động trong môi trờng cạnh tranh do các
quy luật kinh tế khách quan chi phối.
Nghiên cứu sự hoạt động của cơ chế thị trờng Samuelson cũng chỉ rõ:
Bàn tay vô hình đôi khi cũng đa nền kinh tế tới những sai lầm. Đó chính là
những khuyết tật của hệ thống KTTT. Những khuyết tật này có thể là do tác
động bên ngoài gây nên, nh ô nhiễm môi trờng; hoặc là những thất bại thị tr-
ờng do tình trạng độc quyền phá hoại cơ chế tự do cạnh tranh; hoặclà các tệ
nạn nh khủng hoảng, thất nghiệp Để đối phó với những khuyết tật của cơ
chế thị trờng, các nền kinh tế hiện đại phối hợp giữa bàn tay vô hình với
bàn tay hữu hình nh thuế khóa, chi tiêu và luật lệ của chính phủ.
Vai trò của Nhà nớc đã đợc Samuelson nhìn nhận một cách khách
quan, đó là bốn chức năng chính của Nhà nớc.
Một là, chức năng thiết lập khuôn khổ pháp luật.
11
ở đây, chính phủ đề ra các quy tắc trò chơI kinh tế mà các doanh nghiệp, ng-
òi tiêu dùng và cả bản thân chính phủ cũng phải tuân thủ; nhằm mục đích tạo
ra môI trờng tự do cạnh tranh để cơ chế thị trờng hoạt động có hiệu quả.
Hai là, chức năng ổn định kinh tế vĩ mô để đảm bảo nền kinh tế ổn
định; nhằm chống lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng
Ba là, chức năng hiệu quả. Chính phủ đa ra các luật lệ chống độc
quyền, đảm bảo cung ứng các hàng hóa cộng cộng hay thông qua hệ thống
hoanh nghiệp Nhà nớc, hay chính phủ có thể đảm bảo về tài chính để các
công ty, t nhân cung cấp hàng hóa công cộng
Bốn là, chức năng công bằng. Chính phủ dành một phần từ thu nhập
quốc dân để phân phối lại cho những ngời già, ngời khuyết tật để đảm bảo
cho họ mức sống tối thiểu về y tế, dinh dỡng
Tuy nhiên, chính phủ có thể đa ra những quyết định sai lầm, phản ánh
không đúng hiện thực khách quan nhất là khi chính phủ rơi vào tay một
nhóm thiểu số nào đó. Nh vậy, để đảm bảo cơ chế thị trờng và bàn tay Nhà n-
ớc hoạt động có hiệu quả, đồng thời để khắc phục hạn chế, khuyết tật của hai
bàn tay thì cần phối hợp hai bàn tay một cách nhịp nhàng và có hiệu quả.
Nói tóm lại, lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp của Samuelson đã phản
ánh đúng hiện thực khách quan về sự cần thiết vai trò kinh tế của Nhà nớc
trong nền KTTT hiện đại nhằm khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị tr-
ờng và sự cần thiết phối hợp giữa bàn tay hữu hình bàn tay vô hình.
2.2. Vai trò của Nhà nớc trong nền KTTT định hớng XHCN ở nớc ta
hiện nay
2.2.1. Tính tất yếu khách quan vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nớc đối với
nền KTTT
Nhà nớc là hiện tợng trong lịch sử, ngay từ khi ra đời nó đã có vai trò
to lớn trong xã hội có giai cấp và trong quá trình phát triển của lịch sử nhân
loại. Nhà nớc một mặt nó là tổ chức công quyền, thực hiện công quản, quản
lý mọi mặt đời sống xã hội; mặt khác chính thông qua quản lý xã hội có hiệu
quả mà nó thực hiện đợc sự thống trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã
12
hội. Bất cứ nhà nớc nào cũng đều thực hiện chức năng hai mặt đó. Mặc dù,
nhà nớc có định hớng cho sự phát triển của xã hội nhng bản thân xã hội lại
vận động theo những quy luật khách quan của nó, quy luật vận động đời sống
sản xuất vật chất và tinh thần, tạo ra cơ sở mới, điều kiện mới, do đó, đòi hỏi
có sự thay đổi tơng ứng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nớc thì
quản lý nhà nớc mới có hiệu quả, nhà nớc mới có khả năng thúc đẩy sự phát
triển kinh tế xã hội.
Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) Việt Nam đã chuyển sang phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của Nhà nớc; thực hiện dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội; hòa nhập
khu vực và quốc tế. Nh vậy, sự hiện diện của nhà nớc XHCN trong nền
KTTT định hớng XHCN vừa với t cách là bộ phận cấu thành trọng yếu
(kinh tế nhà nớc), vừa với t cách là chủ thể tổ chức, xây dựng quan hệ quản lý
vĩ mô nền KTTT.
Quản lý nhà nớc đối với nền KTTT là thực hiện chức năng quản lý nhà
nớc về kinh tế, một đặc trng của KTTT hiện đại. Đối với KTTT định hớng
XHCN, chức năng đó đợc thực hiện bởi nhà nớc của dân, do dân và vì dân d-
ới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Sự điều tiết vĩ mô của nhà nớc nhằm phát huy tác dụng tích cực và
ngăn chặn những tác động tiêu cực của thị trờng; đảm bảo tính hớng dẫn,
điều khiển nền kinh tế hớng tới CNXH. Đặc biệt đối với nền KTTT hiện nay
ở nớc ta thì vai trò quản lý vĩ mô của nhà nớc có ý nghĩa rất quan trọng bởi
nền KTTT không phải là một hệ thống đợc tổ chức một cách hoàn hảo,
không có những vấn đề phức tạp và nan giải:
Cơ chế thị trờng nếu không có sự điều tiết của nhà nớc, thì sẽ dẫn đến
sản xuất mù quáng, gây nên các cuộc khủng hoảng thừa hoặc thiếu.
Cơ chế thị trờng chỉ thể hiện đầy đủ khi có sự kiểm soát của cạnh tranh hoàn
hảo, khi xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo thì hiệu lực của cơ chế thị tr-
ờng bị giảm.
13
Cơ chế thị trờng không có khả năng tự đIều tiết sự phát triển ở các
vùng kém lợi thế so sánh, vùng khó khăn so với vùng thuận lợi, đồng thời nó
lại có xu hờng làm sâu sắc thêm sự phân hóa thu nhập.
Cơ chế thị trờng là môi trờng để nảy sinh tình trạng kin doanh lừa đảo,
làm hàng giả, lối sống chạy theo đồng tiền, các tệ nạn xã hội, hủy hoại môi
trờng sinh thái.
Nh vậy, để khắc phục hạn chế khuyết tật của cơ chế thị trờng cần có sự
can thiệp của nhà nớc vào nền KTTT. Đồng thời, Nhà nớc là ngời đại diện
cho ý chí, lợi ích nhân dân nhằm đảm bảo sự tăng trởng và phát triển kinh tế -
xã hội, vừa giữ vững định hớng XHCN trong sự phát triển của đất nớc.
2.2.2. Vai trò quản lý vĩ mô của nhà nớc trong nền KTTT định hớng
XHCN ở nớc ta
2.2.2.1. Mục tiêu kinh tế - xã hội của nhà nớc Việt Nam.
Mục tiêu hàng đầu của sự phát triển KTTT ở nớc ta là giải phóng sức sản
xuất, động viên mọi nguồn lực trong nớc và ngoài nớc để thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, nâng
cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện từng bớc đời sống nhân dân. Thực
hiện t tởng Hồ Chí Minh và đờng lối đổi mới của Đảng, lấy sản xuất gắn liền
với cải thiện đời sống nhân dân, tăng trởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công
bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp, gắn liền với xóa đói giảm
nghèo.
2.2.2.2. Vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nớc trong nền kinh tế.
Nhà nớc quản lý vĩ mô nền kinh tế, tức là: lựa chọn phơng án phát
triển kinh tế xã hội, can thiệp, điều khiển mỗi khi nền kinh tế đi chệch
ngoài phơng án bởi các chấn động kinh tế chính trị xã hội bên trong và
bên ngoài.
Từ đó có thể thấy vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nớc đối với nền kinh
tế rất quan trọng
2.2.2.2.1Hệ thống công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nớc đối với nền kinh tế.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét