Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm truyền hình Cáp trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam.

Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
Về cơ chế quản lý tài chính, giai đoạn trước năm 1995, mặc dù đất
nước đã trải qua hàng chục năm đổi mới, nhưng đối với hoạt động
Truyền hình thì khái niệm hạch toán thu, chi vẫn còn xa lạ. Đổi mới
dường như chỉ là công việc của các đơn vị kinh doanh, còn Truyền hình
được coi là một hoạt động đặc biệt, thuộc độc quyền nhà nước, vì thế vẫn
được hưởng cơ chế tài chính bao cấp đặc biệt của Nhà nước. Với cơ chế
bao cấp đặc biệt đó, sau 25 năm ra đời và phát triển, Đài Truyền hình
Việt Nam cũng chỉ ở quy mô một kênh chương trình, phát sóng 4 tiếng
một ngày và phủ sóng ở phạm vi đồng bằng sông Hồng.
Từ năm 2001, với việc thực hiện Quyết định 87/TTg ngày 01/6/2001 về
khoán thu, chi cho các hoạt động Đài Truyền hình Việt Nam và hiện nay
theo Quyết định 124/TTg ngày 31/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ, hoạt
động truyền hình dần thoát khỏi cơ chế bao cấp, tạo điều kiện và động
lực mới cho Truyền hình Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Ưu điểm cơ bản
của cơ chế tài chính hiện hành là đã tạo được hệ thống các tiêu chuẩn
định mức lao động truyền hình, làm cơ sở khoán sản phẩm truyền hình
cho từng chức danh lao động. Tuy nhiên, Đài Truyền hình Việt Nam từ
một đơn vị hành chính sự nghiệp thuần tuý, chuyển thành đơn vị sự
nghiệp có thu, cơ chế tài chính hiện hành cũng bộc lộ nhiều điểm bất cập.
Trước hết là sự khác biệt giữa cơ chế tài chính của Đài Truyền hình Việt
Nam với cơ chế tài chính đang áp dụng chung cho các đơn vị hành chính
sự nghiệp có thu theo Nghị định 10/2001/NĐ-CP. Hơn nữa trong nội bộ
Đài Truyền hình Việt Nam, việc áp dụng đồng nhất cơ chế tài chính giữa
đơn vị kinh doanh truyền hình trả tiền (PAY-TV) và các đơn vị thuần tuý
sự nghiệp thuộc Đài Truyền hình Việt Nam cũng bộc lộ những bất hợp
lý, làm mất đi lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển của các đơn vị
kinh doanh dịch vụ này.
Để phát triển Đài truyền hình Việt Nam theo hướng trở thành một tập
đoàn truyền thông, vấn đề kinh doanh dịch vụ truyền hình nói chung và
kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền nói riêng có một vị trí quan trọng
5
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
trong việc tạo nguồn lực tài chính cho việc phát triển hoạt động truyền
hình trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh
truyền hình trả tiền là lĩnh vực kinh doanh rất mới mẻ, đến nay vẫn chưa
có được một cơ chế tài chính phù hợp. Trung tâm Truyền hình Cáp, đơn
vị kinh doanh truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam hiện
vẫn áp dụng quy chế quản lý tài chính như các đơn vị sự nghiệp thuần tuý
không làm nhiệm vụ kinh doanh (các ban biên tập). Các đơn vị làm
nhiệm vụ kinh doanh cũng chưa có quyền tự chủ tài chính trong việc thực
hiện những quyết định kinh doanh của mình. Trong bối cảnh đó, việc
nghiên cứu để hoàn thiện quản lý tài chính cho hoạt động kinh doanh
truyền hình trả tiền trở thành một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn.
Sau thời gian hơn ba tháng thực tập tại phòng Kế hoạch, Ban Thư ký
biên tập, Đài Truyền hình Việt Nam, nhận thức rõ ràng tình hình thực tế,
cùng với những kiến thức đã được học từ những bộ môn của khoa Khoa
học quản lý, em đã quyết định chọn đề tài: “ Hoàn thiện quản lý tài chính
tại Trung tâm Truyền hình Cáp trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam”
với mong muốn áp dụng một cách có hiệu quả nhất những kiến thức đã
được trang bị vào thực tiễn tại Trung tâm Truyền hình Cáp.
Kết cấu của báo cáo ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo gồm những phần chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính cho hoạt động truyền hình
và truyền hình trả tiền.
Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm truyền hình Cáp
Việt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm truyền hình Cáp
trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam.
6
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
CHO HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH VÀ
TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI
TRUNG TÂM TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT
NAM
CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI
TRUNG TÂM TRUYỀN HÌNH CÁP TRỰC
THUỘC ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
7
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG TRUYỀN HÌNH
VÀ TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN
I. Những khái niệm cơ bản về Truyền hình trả
tiền, sự phát triển của Truyền hình trả tiền trên
thế giới và tại Việt Nam
1. Hoạt động kinh doanh truyền hình
1.1. Ảnh hưởng của công nghệ và phương thức truyền hình đến
hoạt động kinh doanh
Công nghệ truyền hình bao gồm hai công đoạn: sản xuất chương trình
và truyền dẫn phát sóng tín hiệu đến các máy thu hình. Hiện nay nhiều
nước trên thế giới trong đó có cả Việt Nam đang áp dụng mạnh mẽ công
nghệ số hoá (digital) vào công đoạn sản xuất chương trình. Ở Đài Truyền
hình Việt Nam hầu hết các thiết bị sản xuất tiền kỳ (quay phim), hậu kỳ
(dựng phim) kỹ thuật tương tự (analog) đã được thay thế bằng thiết bị kỹ
thuật số (digital). Còn khâu truyền dẫn phát sóng, thế giới hiện nay vẫn
sử dụng phổ biết công nghệ analog. Ở châu Á, ngay cả những nước giàu
có như Nhật Bản và Hàn Quốc còn đặt ra lộ trình ứng dụng công nghệ số
kéo dài hàng chục năm nữa vì phát sóng kỹ thuật số phải kèm theo máy
thu hình kỹ thuật số rất tốn kém (hiện giá một máy thu hình kỹ thuật số
giá khoảng 1000 USD). Ở Việt Nam từ vài năm gần đây, Công ty VTC
(trước đây thuộc Đài Truyền hình Việt Nam nay thuộc Bộ Bưu chính
Viễn thông) bắt đầu nghiên cứu thử nghiệm truyền dẫn kỹ thuật số. Tuy
nhiên ở Việt Nam chưa có máy thu hình kỹ thuật số vì vậy phải có một
thiết bị chuyển đổi (settopbox) kèm theo máy thu hình thông thường mới
xem được truyền hình kỹ thuật số. Đài Truyền hình Việt Nam đặt ra lộ
trình ứng dụng công nghệ truyền dẫn số từ sau năm 2010 để phù hợp với
điều kiện kinh tế xã hội của đất nước.
Về phương thức truyền dẫn, ngành Truyền hình nói chung đang sử
dụng nhiều phương thức truyền dẫn khác nhau. Phương thức truyền dẫn
8
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
phổ biến nhất là phát sóng mặt đất hay còn gọi là Truyền hình quảng bá
(các máy thu hình, chỉ cần dùng loại anten thông thường cũng có thể xem
được). Để phát sóng truyền hình quảng bá, mỗi kênh truyền hình phải có
một hệ thống máy phát riêng bao gồm hàng trăm trạm phát lại. Hiện tại
các kênh VTV của Đài Truyền hình Việt Nam và các đài truyền hình địa
phương đều phát sóng quảng bá với diện tích phủ sóng hầu hết lãnh thổ
Việt Nam. Phương thức truyền dẫn thứ hai là sử dụng hệ thống cáp, hay
còn gọi là Truyền hình cáp. Để xem được truyền hình cáp (không hạn chế
số kênh), phải có hệ thống cáp truyền dẫn tín hiệu đến từng máy thu hình.
Thứ ba là truyền hình trực tiếp từ vệ tinh đến từng nhà, gọi là Truyền
hình vệ tinh (Direct To Home, viết tắt là DTH).
1.2. Các hình thức kinh doanh truyền hình
Kinh doanh truyền hình là một ngành dịch vụ đã phát triển trên thế giới,
ở Việt Nam mới phát triển trong khoảng một thập kỷ trở lại đây tuy nhiên
đến nay nó đang trở thành một ngành kinh tế có nguồn thu lớn. Xét về
khía cạnh kinh tế thì ứng với mỗi loại hình truyền hình có hình thức kinh
doanh phù hợp với đặc điểm của nó. Với Truyền hình quảng bá thì chủ
yếu kinh doanh bằng thu quảng cáo. Với Truyền hình cáp và Truyền hình
vệ tinh (gọi chung là truyền hình trả tiền- Pay TV) thì kinh doanh bằng
hình thức thu phí thuê bao tương tự như cước điện thoại vì đặc điểm của
Truyền hình trả tiền là có thể cung cấp chương trình theo yêu cầu của
khách hàng với số kênh không hạn chế, đồng thời có thể quản lý đến từng
máy thu hình. Ngoài ra còn có thể phát triển các dịch vụ gia tăng từ hoạt
động truyền hình.
Như vậy có thể kể ra những hình thức kinh doanh truyền hình cơ bản
sau:
- Quảng cáo trên truyền hình: Đây là hình thức có tỷ trọng doanh thu
lớn nhất trong các hình thức kinh doanh truyền hình hiện tại.
- Dịch vụ truyền hình: Bao gồm việc kinh doanh bản quyền các
chương trình truyền hình, dịch vụ kỹ thuật truyền hình, sản xuất các
chương trình truyền hình theo đơn đặt hàng và hàng loạt các dịch vụ
“ăn theo” (du lịch, sản xuất sản phẩm, đồ lưu niệm sử dụng thương
hiệu các chương trình, MC, Ngôi sao truyền hình ).
9
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
- Truyền hình trả tiền (Pay-TV): Đó là hình thức kinh doanh thông
qua việc cung cấp chương trình truyền hình trong nước và nước
ngoài; các dịch vụ viễn thông, internet; dịch vụ bán hàng theo yêu
cầu khách hàng (theo hình thức thuê bao).
2. Những khái niệm cơ bản về Truyền hình trả tiền
Truyền hình trả tiền – Pay TV là hình thức xem truyền hình có thu phí,
do đó đặc điểm chính yêu cầu của phương thức thực hiện Truyền hình trả
tiền là phải có khả năng đáp ứng được việc truyền dẫn được nhiều kênh
truyền hình, các dịch vụ gia tăng và đặc biệt là phải có khả năng quản lý
được các chương trình đến từng đầu thu giải mã (cần có hệ thống khóa
mã). So với truyền hình quảng bá có sự khác biệt căn bản về nguồn thu
chính (từ tiền thuê bao, không phải từ quảng cáo), về tính tương tác, liên
hệ mật thiết giữa người xem và nhà cung cấp chương trình và việc đáp
ứng hầu hết các nhu cầu về xem truyền hình của người xem. Cùng với sự
phát triển nhanh chóng của khoa học và kinh tế, lượng người xem truyền
hình trả tiền trên thế giới tăng nhanh, xu thế phát triển của Truyền hình
trả tiền là tất yếu.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều phương thức thực hiện truyền hình trả
tiền: truyền hình Cáp (CATV), MMDS, DTH, Internet,…nhưng chỉ có 2
phương thức được khuyến nghị sử dụng và đã chứng tỏ được nhiều ưu
điểm cũng như có tính tương hỗ nhau là truyền hình cáp CATV và truyền
hình số qua vệ tinh DTH. (Truyền hình số mặt đất không thích hợp cho
Truyền hình trả tiền, chỉ thích hợp cho việc thay thế hệ thống truyền hình
quảng bá hiện tại).
Truyền hình Cáp và truyền hình vệ tinh cung cấp chương trình cho
những khách hàng đăng ký dịch vụ với mức phí thuê bao hàng tháng.
Truyền hình trả tiền có số chương trình nhiều hơn so với truyền hình
quảng bá, ngoài các chương trình sản xuất trong nước còn cung cấp
chương trình của các Trung tâm sản xuất hoặc Đài Truyền hình các quốc
gia khác. Truyền hình Cáp và Truyền hình vệ tinh nói chung khác nhau
về kỹ thuật truyền tín hiệu đến từng máy thu hình.
Truyền hình Cáp truyền tín hiệu thông qua dây cáp nối từ nhà cung cấp
đến từng máy thu hình (có thông qua các trạm chuyển hoặc chia tín hiệu).
10
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
Mỗi một máy thu hình vừa là đầu thu, vừa là đầu phát. Chất lượng và số
lượng truyền tải đã tăng lên rất nhiều cùng với sự phát triển của khoa học
kỹ thuật, từ 20 kênh năm 1970, đến nay dây cáp đã có thể truyền tải các
gói thông tin trên 150 kênh khác nhau, tuỳ theo từng nhà cung cấp.
Không chỉ dừng lại ở truyền và phát các chương trình truyền hình,
Truyền hình Cáp còn có thể cung cấp các dịch vụ viễn thông khác như
dịch Internet cũng thông qua đường dây cáp (phải có thêm một modem
nhận tín hiệu tại đầu sử dụng) và dịch vụ điện thoại.
Với Truyền hình vệ tinh, hệ thống thu phát phải gồm ba thành phần
chính:
- Trạm phát mặt đất (Uplink station): Trạm phát làm nhiệm vụ nhận
tín hiệu từ các nguồn chương trình khác nhau: studio, vệ tinh,… đã
qua xử lý (biên tập, phụ đề, lồng tiếng,…) sau đó qua các bộ: Số
hóa, mã hóa, ghép kênh, và hệ thống khóa mã quản lý khách hàng
Viaccess rồi được phát lên vệ tinh.
- Vệ tinh (Satellite): Có tác dụng như một trạm chuyển tiếp tín hiệu
(transponder): nhận tín hiệu phát ra từ trạm mặt đất sau đó dịch tần,
khuếch đại rồi phát trở lại trái đất.
- Trạm thu tín hiệu vệ tinh: Có nhiều loại trạm thu khác nhau tuỳ theo
mục đích sử dụng. Đối với các hộ gia đình xem trực tiếp thì cần có
chảo thu tín hiệu. Các trung tâm truyền hình Cáp ở các thành phố
cũng thu tín hiệu từ vệ tinh, sau đó mới truyền tín hiệu đến các hộ
thuê bao theo đường cáp.
Các trạm thu này đều có đặc điểm chung là nguyên lý thu tín hiệu
giống nhau, thông số kỹ thuật thu giống nhau; chỉ khác nhau về tính
chuyên dụng của thiết bị thu, chất lượng thiết bị thiết bị và số lượng thiết
bị thu (số kênh cần thu của các trạm phát lại) tuỳ thuộc vào mục đích, yêu
cầu cụ thể của từng loại trạm thu.
Các trạm thu của truyền hình DTH cũng đang được sử dụng để phục vụ
truyền hình Cáp và cả truyền hình quảng bá với chất lượng ổn định hơn.
11
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
3. Hoạt động của Truyền hình trả tiền trên thế giới
Trên thế giới, truyền hình trả tiền hiện đang chiếm tỷ trọng lớn về
doanh thu so với các hình thức kinh doanh khác, nhiều nước còn vượt cả
doanh thu quảng cáo vì lợi thế của nó. Thứ nhất, do phương thức truyền
dẫn là cáp và thu trực tiếp từ vệ tinh, truyền hình trả tiền có thể phục vụ
đến từng khách hàng thuê bao với số kênh gần như không hạn chế và có
thể cung cấp chương trình theo yêu cầu. Truyền hình trả tiền còn có nhiều
nguồn thu từ các dịch vụ gia tăng khác. Thứ hai, khả năng thu quảng cáo
trên truyền hình quảng bá ngày càng hạn chế và đã bão hoà, lại bị cạnh
tranh gay gắt do sự xuất hiện của nhiều hình thức quảng cáo mới như
internet, hệ thống bán hàng đa cấp, quảng cáo truyền miệng làm cho
các nhà đầu tư trong lĩnh vực truyền thông ngày càng chú ý hơn đến lĩnh
vực truyền hình trả tiền với lượng khách hàng tiềm năng có thể nói là lý
tưởng. Chính vì những lý do đó, ở nhiều nước trên thế giới hầu như
không có truyền hình quảng bá mà chủ yếu là truyền hình trả tiền với các
phương thức truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh. Qua truyền hình trả
tiền, mỗi khán giả có thể đặt mua để được xem từng bộ phim, từng trận
bóng đá mà họ yêu thích. Kinh doanh truyền hình trả tiền ở các nước phát
triển còn rất thuận lợi nhờ luật bản quyền ở họ được thực hiện nghiêm
chỉnh. Các hãng truyền hình muốn sử dụng chương trình của nhau phải
trả tiền bản quyền.
Truyền hình trả tiền trên thế giới đã được bắt đầu thực hiện từ giữa thế
kỷ 20, luôn phát triển gắn liền với những tiến bộ của viễn thông thế giới.
3.1. Kinh doanh truyền hình trả tiền tại Mỹ
Là một nước dẫn đầu về công nghệ, truyền hình trả tiền ở Mỹ đã được
tính đến từ những năm 1950, trải qua một quá trình lịch sử dài với nhiều
trở ngại về kỹ thuật, cạnh tranh với truyền hình quảng bá và thậm chí trở
ngại cả từ Chính phủ Mỹ.
Hệ thống truyền hình Cáp đầu tiên được thiết lập năm 1948, chủ yếu sử
dụng ở những vùng nông thôn, vùng núi của Mỹ. Hệ thống này mở rộng
dần trong những năm 50 và 60. Năm 1960, có 650,000 hộ dân đăng ký
truyền hình Cáp, đến năm 1970 đã có 4,5 triệu thuê bao. Càng phát triển,
truyền hình Cáp càng gặp phải sự phản đối của Truyền hình quảng bá
12
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
thông thường. Họ cho rằng hệ thống này sử dụng bất hợp pháp các
chương trình truyền hình, không trả tiền bản quyền cho các chương trình
sử dụng. Năm 1965 và 1966, Hội đồng viễn thông quốc gia (FCC) đã ra
hai quy định đầu tiên cho hệ thống truyền hình Cáp, yêu cầu các kênh
truyền hình Cáp phải chiếu quảng cáo cho truyền hình quảng bá, không
được sử dụng chương trình đã phát sóng trên truyền hình quảng bá,
không được phát những phim được làm trong 10 năm và những sự kiện
thể thao diễn ra trong 5 năm gần đó… Tất cả những quy định này đặt ra
nhằm triệt tiêu mọi sự cạnh tranh của truyền hình Cáp với truyền hình
quảng bá.
Đầu thập kỷ 70, có rất nhiều tổ chức đứng ra đấu tranh cho quyền lợi
của truyền hình Cáp, họ cho rằng truyền hình Cáp có thể đem lại nhiều
lợi ích cho người dân thông qua việc cung cấp một số lượng lớn các kênh
chuyên về giáo dục, giải trí và FCC đang kìm hãm sự phát triển của cả
một công nghệ mới hiện đại. Trong năm 1970,1971, Văn phòng Chính
sách Viễn thông thuộc Nhà trắng đã tổ chức rất nhiều cuộc họp giữa
những người làm truyền hình, truyền hình Cáp, các công ty truyền hình
để xem xét lại những quy định mà FCC dành cho truyền hình Cáp. Đến
năm 1972, FCC phải đưa ra những quy định mềm mỏng hơn, mở cửa một
số thị trường mới cho truyền hình Cáp. Giữa thập kỷ 70, có hai sự kiện
ảnh hưởng lớn đến tương lai truyền hình trả tiền của Mỹ. Thứ nhất, hãng
truyền hình HBO trở thành một hãng truyền hình quốc gia sử dụng vệ
tinh để phát sóng, giảm đáng kể chi phí đường truyền. Thứ hai, một loạt
quy định mới cho truyền hình cáp được thiết lập, cho phép truyền hình
Cáp phát những chương trình hấp dẫn hơn, có sức cạnh tranh hơn. Hãng
HBO đã hỗ trợ các trung tâm truyền hình Cáp rất nhiều bằng cách cho
vay kinh phí mua và lắp đặt chảo thu tín hiệu, để các trung tâm này có thể
thu được các chương trình thể thao và phim mà hãng HBO phát từ vệ
tinh; từ đó tiếp tục truyền tín hiệu đến các hộ dân bằng đường cáp. Bắt
đầu từ cuối những năm 70, Truyền hình Cáp ở Mỹ phát triển mạnh mẽ: từ
10 triệu thuê bao năm 1975 đã lên đến 40 triệu thuê bao chỉ trong 10 năm
sau (1985). Các hãng sản xuất chuơng trình truyền hình nhờ đó cũng bắt
đầu phát triển. Đến năm 1980 đã có 28 hãng sản xuất chương trình sử
dụng vệ tinh để phát sóng các chương trình của mình và trở thành các
13
Chuyên đề thực tập chuyên ngành Nguyễn Thị Vân Anh – QLKT 44B
chương trình truyền hình quốc gia trên nhiều lĩnh vực: thể thao, giải trí,
tin tức… Những chương trình dành cho truyền hình trả tiền này cũng ảnh
hưởng đến truyền hình quảng bá thông thường, tạo sự cạnh tranh về sự
chú ý của người xem. Truyền hình quảng bá cũng phải tự sản xuất các
chương trình tương tự để thu hút người xem truyền hình (như các chương
trình bản tin, phim nhiều tập và tăng thời lượng phát sóng). Các loại
truyền hình trả tiền khác như truyền hình vệ tinh hay MMDS cũng phát
triển theo. Truyền hình trả tiền ở Mỹ bắt đầu hướng đến thị trường ở
nước ngoài như Châu Âu và Mỹ Latin.
Đến đầu thập kỷ 90 thì Truyền hình trả tiền đã trở thành loại hình
truyền hình phổ biến nhất ở Mỹ, 79 chương trình truyền hình Quốc gia
được truyền qua vệ tinh với 60 triệu thuê bao, hơn 60% hộ gia đình ở Mỹ
sử dụng truyền hình trả tiền. Sự phát triển quá nhanh chóng này làm
nhiều chính trị gia ở Mỹ lo ngại sẽ dẫn đến sự độc quyền truyền hình.
Truyền hình quảng bá cũng bắt đầu lên tiếng lại, bảo vệ cho lợi ích của
những người dân ở những vùng núi, vùng xa mà theo họ là không thể
chịu được chi phí của truyền hình trả tiền.
Đầu năm 1992, FCC yêu cầu truyền hình Cáp phải giảm chi phí lắp đặt,
các loại truyền hình vệ tinh, MMDS phải chú ý phát sóng đến các vùng
núi, tăng lượng chương trình phát sóng trên truyền hình vệ tinh nhất
những kênh truyền hình cơ bản (không phải trả tiền) để người dân có thể
xem được nhiều kênh chỉ với một chảo thu tín hiệu đơn giản…
Đến năm 1999, 85% hộ gia đình ở Mỹ sử dụng truyền hình trả tiền (bao
gồm cả truyền hình Cáp và truyền hình vệ tinh). Truyền hình Cáp lúc này
có khả năng truyền phát hơn 120 kênh cùng lúc, truyền hình kỹ thuật số
cũng bắt đầu được thực hiện. Trong những năm đầu của thế kỷ 21, truyền
hình trả tiền ở Mỹ tiếp tục phát triển vững chắc, thể hiện qua số lượng
thuê bao tăng đều đặn, nội dung chương trình phong phú và các dịch vụ
viễn thông như Internet, điện thoại qua đường Cáp cũng trở nên quen
thuộc với người xem truyền hình. Nói chung, truyền hình trả tiền ở Mỹ
luôn luôn dẫn đầu cả về công nghệ và nội dung chương trình. Các kênh
truyền hình của Mỹ luôn được yêu thích và phổ biến ở các nước trên thế
giới.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét