Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam hiện nay

lạm phát tăng lên ở mức độ cao thu nhập thực tế của dân c sẽ giảm, đời sống
của nhân dân lao động sa sút , lạm phát cao còn gây ra hiện tợng đầu t tích trữ
hàng hoá và hiện tợng chuyển tiền sang các loại hàng hoá khác, làm cho cầu về
hàng hoá tăng (gồm cả cầu giả tạo) dẫn tới mất cân đối cung cầu và giá cả hàng
hoá tăng lên làm tốc độ lạm phát càng cao và dễ bị rơi vào vòng xoáy lạm phát
nếu tình trạng này diễn ra trong một thời gian dài. Lạm phát cao còn gây ra các
rối loạn khác nh: làm sai lệch các biến số kinh tế vĩ mô, các điều khoản của hợp
đồng danh nghĩa ban đầu trong việc mua hoặc bán, cho vayhoặc đi vay đều tính
tới yếu tố lạm phát thông thờng nhng không thể tính tới yếu tố lạm phát bất th-
ờng.Khi đó mọi ngời, nhất là các chủ đầu t sẽ không an tâm tin tởng trong việc
tính toán công việc đầu t nên không khuyến khích đầu t.
Còn khi lạm phát ở mức độ vừa phải (lạm phát dự tính), thờng là dới
10% thì nó không có tác động tiêu cực mà theo nhiều nhà kinh tế nó còn là một
liều thuốc bổ tăng trởng kinh tế bởi lẽ lạm phát chính là việc đa một khối lợng
tiền ra lu thông qua đó mở mang hoạt động của các doanh nghiệp tạo điều kiện
đầu t chiều rộng và chiều sâu. Do đó thu hút nhiều lao động, thất nghiệp giảm
nền kinh tế tăng trởng cao hơn trớc.
Nh vậy, nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ơng là kiểm soát lạm phát ổn định
giá trị đồng nội tệ tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển bình thờng, đảm bảo
đời sống cho ngời lao động. Tuy nhiên thực chất của việc kiểm soát lạm phát là
chấp nhận sự biến động với một biên độ cho phép (lạm phát một con số). Còn
khi lạm phát ở mức cao thì Ngân hàng Trung ơng sẽ sử dụng chính sách tiền tệ
thắt chặt để làm giảm mức cung tiền, giảm lạm phát.
2.2. Tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp
Những ngời trong lực lợng lao động khi không có việc làm sẽ trở thành ng-
ời thất nghiệp. Nạn thất nghiệp là một thực tế nan giải của mọi quốc gia có nền
kinh tế thị trờng cho dù quốc gia đó là phát triển, đang phát triển hây kém phát
triển.
Khi thất nghiệp mức cao, sản xuất sút kém các nguồn lực không đợc sử
dụng hết, thu nhập của dân c giảm sút. Khó khăn kinh tế tràn sang lĩnh vực xã
hội, nhiều hiện tợng tiêu cực phát triển, tác hại của thất nghiệp là rất rõ ràng.
Ngời ta có thể tính toán đợc sự thiệt hại kinh tế. Đó là sự giảm sút to lớn về sản
5
lợng và đôi khi còn kéo theo nạn lạm phát to lớn. Sự thiệt hại về kinh tế do thất
nghiệp mang lại ở nhiều nớc lớn đến mức không thể so sánh với thiệt hại do tính
không hiệu quả của bất cứ hoạt động kinh tế vĩ mô nào khác. Những kết quả
điều tra xã hội học cũng cho thấy thất nghiệp luôn gắn với các tệ nạn xã hội nh
cờ bạc, trộm cắp tổn thơng về mặt tâm lý và niềm tin của nhiều ngời, có thể phá
vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống,làm sói mòn nếp sống lành mạnh và có thể
ảnh hởng đến cả chính trị nh biểu tình.
Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tạo việc làm, giảm bớt thất nghiệp chứ
không phải là làm cho thất nghiệp bằng không mà ở mức tỷ lệ thất nghiệp tự
nhiên, khi nền kinh tế toàn dụng nhân công.
Chúng ta có thể thấy rằng khi nền kinh tế phát triển thì công ăn việc làm đ-
ợc tạo ra nhiều hơn, thất nghiệp giảm đi và ngợc lại khi nền kinh tế trì trệ thì
công ăn việc làm bị suy giảm, thất nghiệp tăng lên. Arthur Okun đã phát hiện ra
một quy luật rằng khi GNP thực tế giảm 2% so với GNP tiềm năng thì mức thất
nghiệp tăng 1%.
Định luật Okun có thể đợc coi làa chìa khoá cho các nhà vạch chính sách,
ví dụ để giảm 1% thất nghiệp hàng năm thì phải tăng GNP lên 2%/năm và nh
vậy cần phải có một khối lợng gia tăng đầu t là bao nhiêu hàng năm cho các
ngành kinh tế để gia tăng đợc sản lợng 2% mỗi năm.
Để tạo thêm việc làm, giảm bớt thất nghiệp ngân hàng Trung ơng sẽ sử
dụng chính sách tiền tệ mở rộng, tăng lợng cung tiền, giảm lãi suất và từ đó
kích thíc đầu t.
2.3. ổn định và tăng trởng kinh tế.
Mục đích cao nhất của chính sách tiền tệ là làm thế nào để phát triển kinh
tế, gia tăng sản lợng của nền kinh tế.
Mục tiêu ổn định tăng trởng kinh tế có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc
làm cao, bởi vì khi những nhà kinh doanh đầu t nhiều hơn vào t liệu sản xuất để
mở rộng quy mô sản xuất và gia tăng khối lợng sản phẩm thì mức thất nghiệp
thấp. Ngợc lại, khi thất nghiệp cao và các xí nghiệp nhàn rỗi thì không có lợi để
một hãng đầu t thêm các máy móc và thiết bị, các nguôn lực không đợc sử dụng
hết và nh vậy không thể tăng trởng kinh tế cao.
6
Để tăng trởng kinh tế Ngân hàng Trung ơng thực hiện chính sách tiền tệ
nới lỏng. Tác động đó thông qua hai chiều:
Một là: Khi khối tiền tệ tăng sẽ làm giảm lãi suất và khuyến khích đầu t
làm tăng tổng sản phẩm quốc dân. Khi ngân hàng trung ơng nâng mức cung
tiền tệ từ MS
1
lên MS
2
thì lãi suất sẽ giảm từ i
1
xuống i
2
và mức cầu đầu t sẽ tăng
từ I
1
lên I
2
vì chi phí đầu t giảm, chi phí cơ hội cho việc gửi tiền vào ngân hàng
giảm.
Khi đầu t tăng từ I
1
lên I
2
sẽ làm cho tổng sản phẩm quốc dân tăng từ
GNP
1
lên GNP
2
, điều đó đợc thể hiện ở hình 2.
Mặt khác khi mức cung tiền tăng các thành phần dân c có tiền nhiều hơn
sẽ tăng sức cầu tiêu thụ. Cả hai sức cầu về sản phẩm tiêu dùng và đầu t đều tăng
7
Lãi suất
(%)
i
1
i
2
0
MD
MS
1
MS
2
Lãi suất
(%)
Lợng tiền
(USD)
0
I
1
I
2
Đầu t hàng năm
(USD)
GNP
1
GNP
2
Tổng sản phẩm
quốc dân hàng
năm
Hình 2
từ đó tổng sản phẩm xã hội sẽ tăng. Nếu mức gia tăng đó lớn hơn nhịp gia tăng
dân số sẽ có tăng trởng kinh tế.
2.4. ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền
Trong nền kinh tế mở, một sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ít hay nhiều đều
ảnh hởng tới hoạt động kinh tế trong nớc tùy theo mức độ hớng ngoại của nền
kinh tế.
Một tỷ giá hối đoái quá thấp (đồng bản tệ có giá trị tăng lên so với ngoại
tệ) có tác dụng khuyến khích nhập khẩu gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất
khẩu tơng đối đắt khi bán cho nớc ngoài. Nh vậy sẽ gây trở ngại trong nớc về
xuất khẩu, bất lợi cho những cuộc chuyển dịch ngoại tệ từ nớc ngoài vào trong
nớc. Khi đó khối lợng dự trữ ngoại hối dễ bị xói mòn.
Ngợc lại, một tỷ giá hối đoái cao (đồng bản tệ có giá trị thấp) so với ngoại
tệ có tác dụng bất lợi cho nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu vì làm cho hàng
nhập khẩu tơng đối đắt hơn, hàng xuất khẩu tơng đối rẻ hơn. Do đó những sản
phẩm có nguyên liệu nhập khẩu hay thay thế hàng nhập khẩu gặp trở ngại.
Nh vậy một tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều dẫn tới những tác động kép
tích cc và tiêu cực. Do đó nhiệm vụ của ngân hàng Trung ơng là sử dụng những
công cụ, chính sách của mình can thiệp, giữ cho tỷ giá không thăng trầm quá
đáng, làm dịu bớt những tình trạng bất ổn định của nền kinh tế quốc dân trong
nớc, giúp các hãng và cá nhân mua hoặc bán hàng hoá ở nớc ngoài dễ dàng hơn
trong việc lập kế hoạch cho tơng lai.
2.5. Xung đột giữa các mục tiêu
Nhìn chung giữa các mục tiêu tăng trởng, thất nghiệp và lạm phát có mối
quan hệ chế ớc lẫn nhau trong thời gian ngắn.
Khi kìm chế đợc lạm phát thì tăng trởng chậm lại dẫn đến suy thoái, thất
nghiệp cao. Và khi mở rộng đầu t khắc phục suy thoái, phát triển kinh tế thì sẽ
tạo đợc nhiều công ăn việc làm hơn, thất nghiệp giảm nhng lại rất khó kìm chế
lạm phát.
Mối quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát đợc Philips mô tả bằng biểu thức
sau (trong ngắn hạn)
8
gp = gpe + (u - u
*
)
gp: tỉ lệ lạm phát
gpe: tỉ lệ lạm phát dự kiến
u: tỉ lệ thất nghiệp
u
*
: tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên
: độ dốc đờng Phillips
PC: Phillips curve
Nhng theo Philips trong dài hạn lạm
phát thực tế bằng tỉ lệ lạm phát dự kiến do
tác động của các chính sách tài khoá và tiền
tệ. gp = gpe
Nh vậy: gp = gk - (u - u
*
)
u = u
*
Nh vậy tỉ lệ thất nghiệp thực tế luôn
bằng tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên (xét về mặt
dài hạn) cho dù tỉ lệ lạm phát thay đổi nh
thế nào. Vì vậy trong dài hạn lạm phát và
thất nghiệp không có mối quan hệ với nhau.
Về đờng Phillips dài hạn LPC (Long - term Phillip curve) là một đờng
thẳng đứng cắt trục hoành tại u
*
2.6. Các mục tiêu trung gian
Trong nền kinh tế thị trờng Ngân hàng Trung ơng phải xác định các mục
tiêu trung gian của chính sách tiền tệ, nhằm đạt đến các mục tiêu cuối cùng của
chính sách này. Bởi lẽ, ngân hàng trung ơng sử dụng các mục tiêu trung gian để
có thể xét đoán nhanh chóng tình hình thực hiện hoạt động của mình phục vụ
cho các mục tiêu cuối cùng hơn là chờ cho đến khi nhìn thấy kết quả cuối cùng
của các mục tiêu đó.
9
PC
gp
gpe
u
*
u
gp
LPC
u
*
Hình 4
Hình 3
Các mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ là các khối tiền tệ M
1
, M
2
,
M
3
, L và lãi suất. Đây là những mục tiêu mang tính định hớng, chúng có thể đo
lờng kiểm soát đợc và có thể đoán trớc đợc tác động của chúng với việc thực
hiện các mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ.
Bằng việc tăng, giảm các khối lợng tiền tệ ngân hàng trung ơng góp phần
tác động đến tăng, giảm tổng cung và tổng cầu tiền tệ của xã hội. Đồng thời
Ngân hàng Trung ơng cũng có thể sử dụng công cụ lãi suất để tác động đến sự
tăng giảm khối lợng tiền tệ từ đó mà tác động đến sự tăng giảm khối lợng tiền
tệ, từ đó tác động đến tổng cung và tổng cầu xã hội. Tuy nhiên thực tiễn thi
hành chính sách tiền tệ ở nhiều mức cho phép ngời ta thiên về hớng lựa chọn
các khối tiền tệ làm mục tiêu trung gian hơn là lựa chọn lãi suất.
Trong các khối tiền tệ, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nớc, ngân hàng
trung ơng có thể lựa chọn M
1
, M
2
hoặc M
3
làm mục tiêu trung gian u tiên.
3. Cơ cấu chính sách tiền tệ:
Trong nền kinh tế thị trờng, chính sách tiền tệ bao gồm 3 thành phần cơ
bản gắn với 3 kênh dẫn nhập tiền vào lu thông đó là chính sách tín dụng, chính
sách ngoại hối và chính sách đối với ngân sách nhà nớc.
- Chính sách tín dụng. Thực chất của chính sách tín dụng là cung ứng ph-
ơng tiện thanh toán cho nền kinh tế quốc dân, thông qua các nghiệp vụ tín dụng
ngân hàng dựa trên các quỹ cho vay đợc tạo lập từ các nguồn tiền gửi của xã hội
và với một hệ thống lãi suất mềm dẻo, phù hợp với sự vận động của cơ chế thị
trờng.
- Chính sách ngoại hối. Nhằm đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài
sản có giá trị thanh toán đối ngoại, phục vụ cho việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy
tăng trởng kinh tế bền vững và gia tăng việc làm trong xã hội, bảo đảm chủ
nghĩa tiền tệ của đất nớc.
- Chính sách đối với ngân sách nhà nớc nhằm đảm bảo cung ứng phơng
tiện thanh toán cho chính phủ trong trờng hợp ngân sách Nhà nớc bị thiếu hụt.
Phơng thức cung ứng tối u là ngân hàng trung ơng cho ngân sách Nhà nớc vay
theo kỳ hạn nhất định. Dần dần và tiến tới loại bỏ hoàn toàn phát hành tiền để
bù đắp thiếu hụt ngân sách.
10
4. Phối hợp chính sách tài khoá và tiền tệ
Chính sách tài khoá là việc chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu công
cộng để điều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế.
Chính sách tài khoá với thuế và chỉ tiêu của Chính phủ tác động trực tiếp
đến yếu tố G hoặc gián tiếp đến tiêu dùng (C) đầu t (I) xét cho cùng là điều
động trực tiếp đến tổng cầu. Chính sách tiền tệ với các quyết định về mức cung
tiền tác động trực tiếp đến thị trờng tiền tệ, qua đó tác động trở lại đến tổng cầu
(C,I,X). Cả hai chính sách đều tác động đến quy mô của tổng cầu nhng mỗi
chính sách lại gây ra sự thay đổi khoá nhau về các thành phẩm của cầu. Có thể
nói việc vận dụng tốt cả hai chính sách có thể kiểm soát đợc tổng cầu để ổn
định đợc thu nhập (sản lợng) ở mức dự kiến (sát với sản lợng tiềm năng). Nh
vậy trên giác độ kinh tế vĩ mô cầu có mục tiêu chung cho cả hai chính sách có
những cơ quan có khả năng phối hợp điều hành. Sự thiếu phối hợp có thể triệt
tiêu tác động của các chính sách và dẫn đến những mất cân đối vĩ mô trầm
trọng.
Khi cho rằng tổng cầu ở mức quá thấp có thể dùng chính sách mở rộng tài
chính và nới lỏng tiền tệ, đờng IS và LM sẽ dịch chuyển xa sang bên phải tổng
cầu và sản lợng sẽ tăng mạnh.
Khi tổng cầu ở mức vừa phải sản lợng tơng đối ổn định ở mức dự kiến, có
thể sử dụng hỗn hợp tài chính chặt chẽ - tiền tệ nới lỏng hoặc tài chính mở rộng
tiền tệ chặt chẽ để làm biến đổi thành phẩm của tổng cầu. Với hỗn hợp tài
chính chặt chẽ và tiền tệ nới lỏng vừa đủ để tổng cầu không thay đổi nhng tiêu
dùng và đầu t tăng lên, chỉ tiêu Chính phủ giảm xuống. Hỗn hợp này có thể ổn
định sản lợng hiện tại nhng có lợi cho sự tăng truởng tơng lai nhờ mở rộng quỹ
vốn, số có thêm việc làm với năng xuất cao hơn. Tuy nhiên nếu sự cắt giảm chỉ
tiêu Chính phủ tập trung vào khoản đầu t công cộng mang lại lợi ích chung thì
cần đợc cân nhắc xem xét kỹ lỡng hơn.
Với hỗn hợp tài chính mở rộng và tiền tệ chặt chẽ có thể giữ nguyên tổng
cầu mở rộng khả năng đầu t công cộng và hạn chế sự bành trớng về tiêu dùng và
đầu t.
Trong thực tiễn đời sống kinh tế có quá nhiều các nhân tố kinh tế, xã hội,
tâm lý Tìm lại trong thời gian dài, ngắn khác nhau, tác động cùng chiều hoặc
11
ngợc chiều đến nhiều vấn đề kinh tế. Mô hình trên đây chỉ là một mô hình đơn
giản nên thật khó dự đoán kết quả thực sự khi thực hiện các hỗn hợp chính sách
nói trên. Cũng vì lẽ đó chính sách tài khoá thờng đợc coi hơn bởi nó tác động
trực tiếp vào tổng cầu còn chính sách tiền tệ phải qua một cơ chế lan truyền từ
tác động vào thị trờng tiền tệ và qua hiệu ứng của thị trờng này tác động đến
hành vi ứng xử của các tác nhân kinh tế để có đợc một tổng cầu theo dự kiến.
Khó có thể đánh giá chính sách tác động của chính sách tiền tệ.
Khi thực hiện chính sách tiền tệ để quản lý (kiểm soát) tổng cầu thờng gặp
phải một trở ngại là lạm phát. Trong những điều kiện nào đó về cung, chính
sách tiền tệ nới lỏng có thể không đẩy đợc đờng LM sang phải, toàn bộ gia tăng
của mức cung tiền không có ảnh hởng đến tổng cầu mà chuyển toàn bộ vào giá
làm cho lạm phát trở nên trầm trọng.
5. Các công cụ của chính sách tiền tệ
5.1. Nghiệp vụ thị trờng mở
Nghiệp vụ thị trờng mở là hoạt động ngân hàng trung ơng mua bán các
giấy tờ có giá với mục đích tác động đến thị trờng tiền tệ, điều hoà cung và cầu
về giấy tờ có giá, gây ảnh hởng đến khối dự trữ của các ngân hàng thơng mại tại
ngân hàng trung ơng, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các
ngân hàng này từ đó làm thay đổi mức cung tiền.
Trên thị trờng mở Ngân hàng trung ơng chủ yếu mua bán trái phiếu của
chính phủ. Bằng cách mua trái phiếu ngân hàng trung ơng làm tăng khối dự trữ
của ngân hàng thơng mại. Khi đó, ngân hàng thơng mại có thể mở rộng khả
năng cho vay gấp bội lần tuỳ theo mức dự trữ bắt buộc. Hơn nữa việc ngân
hàng Trung ơng mua trái phiếu với lãi suất thấp góp phần tăng cung tín dụng từ
đó làm lãi suất tín dụng hạ thấp, kích thích các doanh nghiệp đi vay. Đây cũng
là một cách gia tăng khối tiền tệ.
Ngợc lại, bằng cách bán trái phiếu trên thị trờng mở cho bất kỳ đối tợng
nào, ngân hàng Trung ơng thu hút tiền vào làm giảm bớt khối tiền tệ. Kết quả
làm cho dự trữ của ngân hàng Thơng mại tại ngân hàng Trung ơng bị giảm , từ
đó hạn chế khối lợng cấp phát tín dụng của ngân hàng thơng mại.
Nếu sự mua bán trái phiếu không có ngân hàng trung ơng tham gia mà chỉ
là giữa các ngân hàng thơng mại với nhau thì khối tiền tệ không thay đổi. Đó
12
chỉ là một sự di chuyển trái phiếu từ ngân hàng thơng mại này sang ngân hàng
thơng mại khác và một sự di chuyển ngợc lại từ một phần dự trữ thặng d của
ngân hàng thừa vào dự trữ của ngân hàng thiếu.
Nghiệp vụ thị trờng mở là công cụ chính sách tiền tệ quan trọng nhất bởi
vì những nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với những thay
đổi trong cơ số tiền tệ, và là nguồn chính gây nên những biến động trong cung
ứng tiền tệ.
Có hai loại nghiệp vụ thị trờng mở là nghiệp vụ thị trờng mở chủ động
nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ sồ tiền tệ và nghiệp vụ thị trờng mở thụ động
nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tố khác đã ảnh hởng đến cơ số
tiền tệ.
Nghiệu vụ thị trờng mở có những u điểm là:
Thứ nhất: Nghiệp vụ thị trờng mở linh hoạt và chính xác, có thể đợc sử
dụng ở bất cứ mức độ nào.
Thứ hai: Nghiệp vụ thị trờng mở dễ dàng đợc đảo ngợc lại. Khi có một sai
lầm xảy ra trong lúc tiến hành nghiệp vụ thị trờng mở, ngân hàng trung ơng có
thể lập tức đảo ngợc lại việc sử dụng công cụ đó. Nếu ngân hàng trung ơng thấy
rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do mua quá nhiều trên thị trờng mở, thì
lập tức nó có thể sửa chữa ngay bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán.
Thứ ba: Nghiệp vụ thị trờng mở có thể đợc hoàn thành nhanh chóng
không gây những chậm chế về mặt hàng chính. Khi ngân hàng Trung ơng
muốn thay đổi cơ số tiền tệ hoặc dự trữ nó chỉ việc ra lệnh cho ngời kinh doanh
chứng khoán và việc mua bán đợc thực hiện tức khắc.
Nh ợc điểm : đòi hỏi phải có thị trờng chứng khoán phát triển và chỉ có thể
áp dụng trong điều kiện mà hầu hết tiền trong lu thông đều nằm ở tài khoản tại
ngân hàng.
5.2. Dự trữ bắt buộc.
13
Ngân hàng trung ơng đợc giao quyền bắt buộc các ngân hàng trung gian
phải ký gửi tại ngân hàng Trung ơng một phần của tổng số tiền gửi mà ngân
hàng trung gian nhận đợc từ dân c và các thành phần kinh tế theo một tỉ lệ nhất
định. Phần bắt buộc kỳ gửi đó đợc gọi là dự trữ bắt buộc và tỷ lệ phần trăm mà
ngân hàng trung ơng quy định nh trên gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Nh vậy tỉ lệ
dự trữ bắt buộc là hệ số giữ dự trữ bắt buộc và tổng số tiền ký thác của khách
hàng tại ngân hàng trung gian.
Mục đích của việc thực hiện dự trữ bắt buộc là nhằm:
- Giới hạn khả năng thơng mại của ngân hàng trung gian, tránh đợc trờng
hợp ngân hàng này quá ham kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay quá mức, có thể
phơng hại tới quyền lợi của ngời ký gửi tiền ở ngân hàng tức là đảm bảo an toàn
tiền gỉ của khách hàng.
- Việc tập trung dự trữ của ngân hàng trung gian ở ngân hàng trung ơng
còn là một phơng tiện để ngân hàng trung ơng có thêm quyền lực để điều khiển
hệ thống ngân hàng tạo sự lệ thuộc của ngân hàng trung gian đối với ngân hàng
trung ơng.
- Duy trì khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian trong những
trờng hợp xảy ra tình trạng đồng loạt rút tiền gửi của công chúng, tránh đợc tình
trạng khủng hoảng ngân hàng.
Về nguyên tắc, khi ấn định một một dự trữ bắt buộc thấp, ngân hàng trung
ơng muốn khuyến khích các ngân hàng trung gian mở rộng mức cho vay của
họ, tức là muốn gia tăng khối lợng tiền tệ. Điều này sẽ kích thích đợc các hoạt
động kinh tế, tăng khả năng giao lu các nguồn vốn tài chính giữa các doanh
nghiệp, thể hiện một chính sách tiền tệ nới lỏng. Ngợc lại khi nâng cao mức dự
trữ bắt buộc, ngân hàng trung ơng muốn giới hạn khả năng cho vay của ngân
hàng trung gian, báo hiệu một chính sách tiền tệ thắt chặt. Điều này tác động tới
lợi nhuận của ngân hàng trung gian. Chính vì thế khi tiến hành gia tăng dự trữ
bắt buộc đòi hỏi phải nghiên cứu trớc sức chịu đựng của ngân hàng trung gian
với mức dự trữ mới sẽ ban hành. Để ngân hàng trung gian không bị lỗ và cộng
tác với ngân hàng trung ơng trong việc thực thi chính sách tiền tệ, ngân hàng
trung ơng có thể trả lãi cho mức dự trữ thặng d nào đó của ngân hàng trung
gian, kèm theo một chính sách lãi suất thích hợp. Cộng vào đó, ngân hàng trung
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét