Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Dự báo và hoạch định tổng hợp cho công ty cơ khí công nông nghiệp phần 2

Chương 2: Cơ sở lý thuyết
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 gồm các nội dung:
♦ Tổng quan về dự báo
♦ Các phương pháp dự báo
♦ Lý thuyết về hoạch đònh tổng hợp
♦ Các phương pháp hoạch đònh tổng hợp thường sử dụng
2.1.TỔNG QUAN VỀ DỰ BÁO
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các nhà quản trò thường phải đưa ra các quyết
đònh liên quan đến những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai. Để cho các quyết đònh
này có độ tin cậy và đạt hiệu quả cao, cần thiết phải tiến hành công tác dự báo.
Điều này sẽ càng quan trọng hơn đối với một nền kinh tế thò trường, mang tính chất
cạnh tranh cao.
Dự báo là khoa học và làø nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tương
lai.
Tính khoa học của dự báo thể hiện ở chỗ khi tiến hành dự báo ta căn cứ trên các số
liệu phản ảnh tình hình thực tế ở hiện tại, quá khứ, căn cứ vào xu thế phát triển của
tình hình, dựa vào các mô hình toán học để dự đoán tình hình cơ bản sẽ xảy ra
trong tương lai. Nhưng các dự đoán này thường sai lệch hoặc thay đổi nếu xuất hiệc
các tình huống kinh tế, tình huống quản trò không hoàn toàn phù hợp với mô hình
dự báo. Vì vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa các kết quả dự báo với kinh nghiệm và
tài nghệ phán đoán của các chuyên gia, các nhà quản trò mới có thể đạt được các
quyết đònh có độ tin cậy cao hơn.
Mặt khác các kỹ thuật dự báo khác nhau thường cho ta các kết quả dự báo có khi
khác xa nhau. Chưa có một kỹ thuật nào tổng quát có thể dùng cho mọi trường hợp
cần dự báo. Vì vậy đối với một số vấn đề quan trọng và phức tạp, nhất là khi dự
báo dài hạn người ta thường dùng một số kỹ thuật dự báo rồi căn cứ vào độ lệch
chuẩn để chọn lấy kết quả thích hợp.
7
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Phân loại dự báo
Căn cứ vào thời đoạn dự báo
a. Dự báo ngắn hạn
Thời đoạn dự báo thường không quá 3 tháng, ít khi đến 1 năm. Loại dự báo này cần
cho việc mua sắm, điều độ công việc, phân giao nhiệm vụ, cân đối các mặt trong
quản trò tác nghiệp.
b. Dự báo trung hạn
Thời đoạn dự báo thường từ 3 tháng đến 3 năm, loại dự báo này cần thiết cho việc
lập kế hoạch bán hàng, kế hoạch sản xuất, dự trù tài chính tiền mặt và làm căn cứ
cho các loại kế hoạch khác.
c. Dự báo dài hạn
Thời đoạn dự báo từ 3 năm trở lên. Loại dự báo này cần cho việc lập các dự án sản
xuất sản phẩm mới, các đònh điểm cho các cơ sở mới, lựa chọn các dây chuyền
công nghệ, thiết bò mới, mở rộng doanh nghiệp hiện có hoặc thành lập doanh
nghiệp mới.
Căn cứ vào nội dung công việc cần dự báo
a. Dự báo kinh tế
Dự báo kinh tế cho các cơ quan nghiên cứu, cơ quan dòch vụ thông tin, các bộ phận
tư vấn kinh tế nhà nước thực hiện.
Những chỉ tiêu này có giá trò lớn trong việc hỗ trợ, tạo tiền đề cho công tác dự báo
trung hạn, dài hạn của các doanh nghiệp.
b. Dự báo kỹ thuật công nghệ
Dự báo này đề cập đến mức độ phát triển khoa học kỹ thuật công nghệ trong tương
lai. Loại này rất quan trọng đối với các ngành có hàm lượng kỹ thuật cao như năng
lượng nguyên tử, tàu vũ trụ, dầu lửa, máy tính, nghiên cứu không gian, điện tử…
Dự báo kỹ thuật, công nghệ thường do các chuyên gia trong các lónh vực đặc biệt
thực hiện.
c. Dự báo nhu cầu sản phẩm
Thực chất của dự báo nhu cầu là dự kiến, tiên đoán về doanh số bán ra của doanh
nghiệp. Loại dự báo này rất được các nhà quản trò sản xuất quan tâm.
8
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Dự báo nhu cầu giúp cho các doanh nghiệp xác đònh được chủng loại và số lượng
sản phẩm, dich vụ mà họ cần tạo ra trong tương lai. Thông qua dự báo nhu cầu các
doanh nghiệp sẽ quyết đònh được quy mô sản xuất, hoạt động của công ty, là cơ sở
để dự kiến về tài chính, tiếp thò, nhân sự.
2.2.CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO
2.2.1 Các phương pháp dự báo đònh tính
 Lấy ý kiến của ban điều hành.
 Lấy ý kiến của những người bán hàng.
 Lấy ý kiến của người tiêu dùng.
 Phương pháp chuyên gia (phương pháp Delphi).
2.2.2 Các phương pháp dự báo đònh lượng
Các phương pháp dự báo đònh lượng đều dựa trên cơ sở Toán học, Thống kê. Để dự
báo nhu cầu tương lai, không xét đến các nhân tố ảnh hưởng khác ta có thể dùng
các phương pháp dự báo theo dãy số thời gian. Khi cần xét đến các nhân tố khác
ảnh hưởng đến nhu cầu (ngoài thời gian) ta có thể dùng các phương pháp xét đến
mối liên hệ tương quan.
2.2.2.1 Dự báo theo dãy số thời gian
Nhu cầu thò trường luôn biến động theo thời gian và trong những điều kiện nhất
đònh nó thường biến động theo một xu hướng nào đó. Để phát hiện được xu hướng
phát triển của nhu cầu ta cần thu thập các số liệu trong quá khứ để có được một
dãy số thời gian. Thời gian ở đây thường là tháng, quý, hoặc năm, tức là xem xét
biến động qua từng thời kỳ một.
Khi đã có dãy số thời gian ta có thể xác đònh được xu hướng phát triển của nhu cầu.
Từ đó ta có thể dự báo cho các thời kỳ tương lai.
Các biến động của nhu cầu theo thời gian có thể xảy ra một số trường hợp sau:
 Có khuynh hướng tăng (giảm) rõ rệt trong suốt thời gian nghiên cứu (ký hiệu
T_Trend).
 Biến đổi theo mùa(S_seasonality).
 Biến đổi theo chu kỳ (C_cycles).
 Biến đổi ngẩu nhiên (R_random variations).
9
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
2.2.2.2 Phương pháp bình quân di động
Phương pháp này thường dùng khi các số liệu trong dãy số biến động không lớn
lắm. Các số bình quân di động được tính từ các số liệu của dãy số thời gian có
khoảng cách đều nhau.
Chẳng hạn có dãy số thời gian được tính theo tháng bao gồm các số liệu Y
1
, Y
2
,
Y
3
… Nếu tính số bình quân di động theo từng nhóm 3 tháng ta có:
Mục đích của việc lấy bình quân di động là để san bằng những biến động bất
thường trong dãy số thời gian. Sau đó đưa vào số liệu bình quân di động ta sẽ dự
báo được nhu cầu trong thời kỳ kế tiếp.
2.2.2.3 Phương pháp bình quân di động có trọng số
Những số liệu mới xuất hiện trong thời kỳ cuối có giá trò lớn hơn các số liệu xuất
hiện đã lâu. Để xét đến vấn đề này, ta sử dụng các trọng số để nhấn mạnh giá trò
của các số liệu gần nhất, vừa xảy ra.
Việc chọn các trọng số dựa vào kinh nghiệm và sự nhạy cảm của người dự báo.
Tính toán theo công thức:
2.2.2.4 Phương pháp san bằng số mũ
a. Nội dung phương pháp
Phương pháp này rất tiện dụng, nhất là khi dùng máy tính. Đây cũng là kỹ thuật
tính số bình quân di động nhưng không đòi hỏi có quá nhiều số liệu trong quá khứ.
Công thức tính nhu cầu tương lai như sau:
10
Y
1
+ Y
2
+ Y
3
3
Y
I
=
Y
2
+ Y
3
+ Y
4
3
Y
II
=
(2-1)
……………………………………………
Σ(Trọng số trong thời kỳ n x Nhu cầu thời kỳ n)
Σ Các trọng số
(2-2)
Số bình quân di
động có trọng số
=
Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Trong đó:
F
t
: là nhu cầu dự báo ở thời kỳ t
F
(t-1):
nhu cầu dự báo ở thời kỳ (t-1)
A
(t-1)
: số liệu nhu cầu thực tế ở thời kỳ (t-1)
α
: hệ số san bằng ( 0

α


1 )
b. Lựa chọn hệ số α
Hệ số α ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả dự báo. Để chọn α ta dựa vào độ lệch
tuyệt đối bình quân MAD (Mean Absolute Deviation).
MAD càng nhỏ thì trò số α càng hợp lý vì nó cho ta kết quả dự báo càng ít sai lệch.
2.2.2.5 Phương pháp san bằng số mũ có điều chỉnh xu hướng
Phương pháp sang bằng số mũ đơn giản không thể hiện rõ xu hướng biến động. Do
đó cần phải xử dụng thêm kỹ thuật điều chỉnh xu hướng.
Cách làm như sau: đầu tiên tiến hành dự báo theo phương pháp san bằng số mũ đơn
giản sau đó sẽ thêm vào một lượng điều chỉnh ( âm hoặc dương).
Tính toán theo công thức:


FIT : Forecart inchiding trend
F
t
: New forecart
T
t
: Trend correction
Để xác đònh phương trình xu hướng dùng khi điều chỉnh ta sử dụng hệ số san bằng
số mũ β. Ý nghóa và cách sử dụng hệ số này cũng giống như α.
11
F
t
= F
(t-1)
+ α[A
(t-1)
– F
(t-1)
]
(2-3)
Dự báo nhu cầu cho
thời kỳ t
Lượng điều chỉnh
theo xu hướng
+
Dự báo nhu cầu
theo xu hướng
=
FIT
t
= F
t
+ T
t
(2 – 5)
=
Σ Các sai lệch trong dự báo
Số thời kỳ tính toán
(2 – 4)
Σ F x E

n
MAD =
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
T
t
được tính như sau:

Trong đó:
T
t
: Lượng điều chỉnh theo xu hướng trong thời kỳ t
T
(t-1)
: Lượng điều chỉnh theo xu hướng trong thời kỳ( t-1)
β:
Hệ số san bằng xu hướng mà ta lựa chọn
F
t
: Lượng dư báo nhu cầu ở thời kỳ t bằng phương pháp san bằng số mũ đơn giản
F
(t-1)
: Lượng dự báo nhu cầu trong thời kỳ (t-1)
Để tính toán FIT
t
ta tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Tính dự báo nhu cầu theo phương pháp san bằng số mũ giản đơn F
t
ở thời
kỳ t.
Bước 2: Tính xu hướng ( về mặt lượng) bằng cách xử dụng công thức (2 – 6 ).
Để tiến hành bước 2 cho lần tính toán đầu tiên, giá trò xu hướng ban đầu phải được
xác đònh và đưa vào công thức. Giá trò này có thể được đề xuất bằng phán đoán
hoặc số liệu đã quan sát trong thời gian qua. Sau đó sử dụng số liệu này để tính T
t.
Bước 3: Tính toán dự báo nhu cầu theo phương pháp san bằng số mũ có điều chỉnh
xu hướng theo công thức (2 – 5 ).
2.2.2.6 Dự báo theo đường khuynh hướng
a. Phương pháp đường thẳng thống kê
Sử dụng phương trình đường thẳng sau: Y
c
= aX + b
Các hệ số a, b được tính như sau:
(2 – 7)
Trong các công thức trên
X : Thứ tự thời gian
Y : Số liệu nhu cầu thực tế trong quá khứ
n : Số lượng các số liệu có được trong quá khứ
Y
c
: Nhu cầu dự báo trong tương lai
12
T
t
= T
(t-1)
+ α[F
t
– F
(t-1)
]
ät iến sẽ
giờ, 3 tấn/
giơu'ng
pháp tìm
kiếm
quyết
đònh phá
p dùng
cho hoạch
đònh như:
phương
pháp
đồng thời,
phưo(2 –
6)
Σ Y
n
b =
Σ X
Y
Σ X
2
a =
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chú ý: Hệ số a, b được tính như trên phải phù hợp với điều kiện ΣX = 0. Ở đây X
là thứ tự thời gian (chẳng hạn là năm) trong qua khứ. Để cho ΣX = 0 ta đánh số thứ
tự thời gian quá khứ như sau:
 Nếu thứ tự thời gian ứng với dãy số quá khứ là số lẻ, chẳng hạn 7 năm
(X
1,
X
2
, …, X
7
) ta có thể đánh số thứ tự bằng cách lấy thời gian ở giữa X
4
= 0, các thời gian đứng trước X
4
lần lược đánh số -1, -2, -3 và các thời
gian đứng sau X
4
lần lược đánh số +1, +2, +3. Như vậy công lại
Σ
X = 0.
 Nếu thứ tự thời gian là một số chẵn, chẳng hạn 8 năm ( X
1
, X
2
, X
3
,…,X
8
)
ta lấy 2 thời gian ở giữa là X
4
= -1 và X
5
= +1. Như vậy các thời gian
đứng trước X
4
sẽ lần lược lấy thứ tự là -3, -5, -7 và các thời gian đứng sau
X
5
sẽ lấy thứ tự +3, +5, +7. Cuối cùng khi cộng lại ta vẫn có ΣX = 0.
b. Phương pháp đường thẳng thông thường
Phương pháp này còn gọi là phương pháp đường thẳng bình phương bé nhất.
Phương trình dự báo: Y
C
= ax + b
Các hệ số a, b được tính theo công thức sau:
(2 – 8)
Trong đó:
Y
C
: Lượng nhu cầu dự báo
X : Thứ tự thời gian (năm) trong dãy số, đánh số thứ tự tự nhiên từ 1 trở lên, không
phân biệt số liệu là chẳng hay lẻ.
Y : Lượng hàng hoá bán ra trong quá khứ.
n : Số lượng số liệu có được trong quá khứ.
c. Phương pháp dự báo theo khuynh hướng có xét đến biến động thời vụ
Đối với một số mặt hàng, nhu cầu thò trường có tính chất biến động theo thời vụ
trong năm. Nguyên nhân có thể do điều kiện thời tiết, đòa lý hoặc do tập quán của
người tiêu dùng ở từng vùng có khác nhau (tết, hội, lễ ).
Để dự báo đối với các mặt hàng này ta cần khảo sát mức độ biến động của nhu cầu
theo thời vụ bằng cách tính chỉ số thời vụ trên cơ sở dãy số thời gian đã điều tra
được.
13
ΣXY – ΣX x ΣY

nΣX
2
– (ΣX)
2
a =
nΣX
2
ΣY – ΣX x ΣXY

nΣX
2
– (ΣX)
2
b =
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chỉ số thời vụ được tính theo công thức sau:

(2 – 9)
Trong đó:
I
s
:

Là chỉ số thời vụ
Yi
: Số bình quân của các tháng cùng tên
Yo
: Số bình quân chung của tất cả các tháng trong dãy số
2.2.2.7 Dự báo theo các mối liên hệ tương quan
 Dự báo trên cơ sở đường hồi quy tương quan tuyến tính
 Xác đònh hệ số co giãn
 Xác đònh sai chuẩn
 Xác đònh hệ số tương quan
2.2.3 Giám sát và kiểm soát dự báo
Khi đã có các số liệu dự báo đã được chấp nhận (tính bằng một hoặc vài phương
pháp nói trên) ta có thể đưa ra để thực hiện.
Qua từng thời kỳ các số liệu thực tế có thể không khớp với số liệu dự báo. Vì vậy
cần tiến hành công tác theo dõi, giám sát và kiểm soát dự báo. Nếu mức độ chênh
lệch giữa thực tế và dự báo nằm trong phạm vi cho phép thì không cần phải xét lại
phương pháp dự báo đã sử dụng. Ngược lại nếu chênh lệch này quá lớn vượt khỏi
phạm vi cho phép thì cần nghiên cứu sửa đổi phương pháp dự báo cho phù hợp.
2.2.3.1 Tín hiệu theo dõi
Việc theo dõi kết quả thực hiện, theo các số liệu đã dự báo so với số liệu thực tế
được tiến hành dựa trên cơ sở tín hiệu theo dõi.
Tín hiệu theo dõi được tính bằng “tổng sai số dự báo dòch chuyển” (Running Sum
of the Forecast Error – RSFE) chia cho “độ lệch tuyệt đối trung bình” (MAD).
Tín hiệu theo dõi =
MAD
RSFE
= Σ (Nhu cầu thực tế trong thời kỳ i – Nhu cầu dự báo cho thời kỳ i)
MAD
1411
I
s
=
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trong đó: Σ | Sai số dự báo|
(2 – 10)
n

Tín hiệu theo dõi dương cho biết nhu cầu thực tế lớn hơn dự báo. Ngược lại nếu tín
hiệu này âm thì có nghóa là nhu cầu thực tế thấp hơn dự báo.
Tín hiệu theo dõi được xem là tốt nếu có RSFE nhỏ và có số sai số dương bằng số
sai số âm. Lúc này tổng sai số dương sẽ cân bằng nhau và vì RSFE nhỏ nên tín
hiệu theo dõi bằng 0.
2.2.3.2 G iới hạn kiểm tra
Giới hạn kiểm tra gồm giới hạn trên và giới hạn dưới, là phạm vi chấp nhận được,
hoặc là phạm vi cho phép.
Một khi tính hiệu theo dõi bắt đầu vượt ra khỏi phạm vi cho phép (trên hoặc dưới)
thì cần phải báo động. Lúc này phương pháp dự báo đã không còn thích hợp nữa
mà cần phải có sự điều chỉnh và sửa đổi (chẳng hạn nếu đã dùng phương pháp san
bằng số mũ thì cần phải điều chỉnh hệ số san bằng).
Việc xác đònh phạm vi chấp nhận chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, sao cho không
quá hẹp, cũng không quá rộng. Nếu quá hẹp thì với sai số nhỏ đã phải điều chỉnh
phương pháp dự báo. Nếu rộng quá thì ý nghóa thực tế của các số liệu dự báo sẽ
giảm đi rất nhiều.
Một số chuyên gia dự báo cho rằng đối với các mặt hàng có số lượng lớn thì phạm
vi này lấy bằng
±
4MAD, còn đối với các mặt hàng có số lượng nhỏ thì có thể lấy
đến
±
8MAD.
Một số chuyên gia khác, dựa vào quan hệ 1MAD

0,8 độ lệch chuẩn, cho rằng
phạm vi chấp nhận được nên lấy tối đa là bằng
±
4MAD.
2.3.HOẠCH ĐỊNH TỔNG HP
Mỗi hệ thống sản xuất đều có mục tiêu tối cao là tạo ra các sản phẩm hoặc dòch vụ
phục vụ đầy đủ nhu cầu. Chất lượng phục vụ nhu cầu quyết đònh sự thành công của
doanh nghiệp, điều này thể hiện không những ở chỗ phải tạo ra sản phẩm chất
lượng chấp nhận được mà còn ở chỗ nó luôn chủ động tạo ra khối lượng sản phẩm
phù hợp với mức độ yêu cầu của thò trường. Doanh nghiệp phải chuẩn bò tốt các
điều kiện cần thiết để đáp ứng nhu cầu một cách hiệu quả.
15
MAD =
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
2.3.1 Đối tượng, phạm vi của hoạch đònh
Hoạch đònh tổng hợp là phát triển các kế hoạch sản xuất trung hạn nhằm biến đổi
mức sản xuất phù hợp với nhu cầu và đạt hiệu quả kinh tế cao.
Đối tượng của hoạch đònh tổng hợp là khả năng sản xuất, hay mức sản xuất. Đó
chính là khả năng của một hệ thống sản xuất ra các sản phẩm hoặc dòch vụ cho thò
trường trong một khoảng thời gian. Nhìn chung, khả năng sản xuất của hệ thống
phụ thuộc vào các yếu tố sau:
 Khả năng sản xuất của nhà xưởng và máy móc thiết bò. Trong những điều
kiện khác nhau hệ thống máy móc thiết bò và nhà xưởng cho những khả
năng sản xuất nhất đònh. Người ta thường gọi 2 yếu tố trên là năng lực sản
xuất. Như vậy, năng lực sản xuất được hiểu như là khả năng sản xuất tối
đa của hệ thống máy móc thiết bò và nhà xưởng trong những điều kiện kinh
tế kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhất đònh. Điều kiện đó bao gồm: số lao
động tối đa, máy móc nhà xưởng được vận hành bảo trì đúng qui đònh…
 Khả năng sản xuất của lực lượng lao động.
 Khả năng làm thêm giơ.ø
 Khả năng hợp đồng gia công bên ngoài.
 Khả năng sẵn sàng của nguyên vật liệu…
Khả năng sản xuất là tổng hợp khả năng của từng yếu tố kể trên theo một cách
nhất đònh, trong những điều kiện nhất đònh. Thông thường, khả năng sản xuất của
một hệ thống sẽ do khả năng sản xuất của một khâu yếu nhất quyết đònh. Trong
bản thân từng yếu tố, tùy thuộc vào hoàn cảnh chúng có khả năng thay đổi với mức
độ và cần một thời hạn nhất đònh khác nhau.
Trên phạm vi thời gian trung hạn, bộ phận khó thay đổi nhất là năng lực sản xuất.
Năng lực sản xuất có thời hạn cam kết dài, muốn biến đổi khả năng này thường
nhờ vào các kế hoạch dài hạn. Trong phạm vi của hoạch đònh tổng hợp, năng lực
sản xuất là yếu tố không thể thay đổi.
2.3.2 Mục tiêu của hoạch đònh
Mục tiêu của hoạch đònh tổng hợp là phát triển các kế hoạch sản xuất hiện thực và
tối ưu.
Tính hiện thực của kế hoạch thể hiện ở chỗ các kế hoạch phải nhằm vào việc đáp
ứng các nhu cầu mà doanh nghiệp muốn phục vụ và trong phạm vi khả năng của
họ.
16
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Tính tối ưu là bảo đảm việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực của doanh
nghiệp. Tính tối ưu mặt dù rất khó đạt được, song hoạch đònh tổng hợp ít nhất cũng
phải đảm bảo sử dụng hợp lý nhất đến mức có thể được từ các nguồn lực và giữ
cho chi phí hoạch đònh là thấp nhất.
Vấn đề đặt ra đối với hoạch đònh tổng hợp là phải tìm ra khả năng sản xuất trong
từng thời kỳ phù hợp với nhu cầu và đạt hiệu quả kinh tế cao.
2.3.3 Những chiến lược trong việc hoạch đònh tổng hợp
2.3.3.1 Chiến lược thuần túy
Có 8 chiến lược thuần tuý được chia làm 2 loại: 5 chiến lược đầu tiên gọi là chiến
lược thụ động, 3 chiến lược cuối cùng là chiến lược chủ động.
a) Thay đổi mức tồn kho:
Nhà quản trò có thể gia tăng mức tồn kho trong giai đoạn cầu thấp để tăng cường
cho giai đoạn cầu tăng trong tương lai. Nếu lựa chọn chiến lược này sẽ phải chòu sự
gia tăng của chi phí dự trữ, bảo hiểm, bảo quản, mức hư hỏng và vốn đầu tư. Những
chi phí này thường chiếm từ 5 – 50 % giá trò của một đơn vò hàng năm.
Ưu điểm của chiến lược này: Những thay đổi về nhu cầu nguồn nhân lực ít hoặc
không có, không có những thay đổi đột ngột trong sản xuất.
Nhược điểm: Chi phí tồn kho tăng.
Nhận xét: Chiến lược này thường được áp dụng cho các đơn vò sản xuất và không
thích ứng cho hoạt động dòch vụ.
b) Thuê mướn thêm công nhân hay sa thải theo mức cầu:
Một trong những cách tiếp cận cầu là sa thải hoặc thuê mướn thêm công nhân tùy
theo mức độ sản xuất của từng giai đoạn.
Ưu điểm: tránh được các chi phí của sự điều chỉnh khác.
Nhược điểm: chi phí thuê mướn và sa thải có thể khá lớn.
Ngoài ra công nhân mới tuyển vào cần phải được huấn luyện và có năng suất lao
động thấp trong giai đoạn đầu.
Ngược lại, khi sa thải cũng làm ảnh hưởng đến tinh thần của công nhân và có thể
sẽ làm giảm năng suất của số đông công nhân sản xuất trong xí nghiệp.
Nhận xét: chiến lược sẽ thành công nếu công việc không đòi hỏi kỹ năng hoặc ở
khu vực mà nhiều người muốn tăng thu nhập phụ.
17
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
c) Tổ chức làm vượt giờ hoặc khắc phục thời gian nhàn rỗi:
Đôi khi ta có thể cố đònh số lao động hiện tại nhưng thay đổi giờ lao động. Khi cầu
tăng ta có thể tổ chức làm thêm giờ. Tuy nhiên, phải ở một giới hạn cho phép vì
nếu tăng quá nhiều sẽ dẫn đến sự giảm sút về năng suất lao động. Ngược lại, khi
cần giảm trong một giai đoạn nào đó thì xí nghiệp phải tìm cách khắc phục thời
gian nhàn rỗi, đây là việc hết sức khó khăn.
Ưu điểm: cho phép chúng ta đương đầu với sự thay đổi thời vụ hoặc xu hướng thay
đổi đột xuất mà không cần tốn chi phí thuê mướn và huấn luyện.
Nhược điểm: tiền thưởng vượt giờ, năng suất biên tế thấp, công nhân mệt mỏi có
thể không đáp ứng được nhu cầu.
Nhận xét : phương pháp này tạo điều kiện xử lý linh hoạt trong hoạch đònh tổng
hợp.
d) Hợp đồng phụ:
Trong những giai đoạn cầu cao vọt, đối với một xí nghiệp có thể đặt ở ngoài làm
để đảm bảo công suất tạm thời. Tuy nhiên, hợp đồng phụ cũng thường kèm theo
nhiều cạm bẫy.
 Thứ nhất, các hợp đồng phụ chòu những chi phí cao.
 Thứ hai, là tạo dòp cho khách hàng của mình tiếp xúc với đối thủ cạnh
tranh của chúng ta.
 Thứ ba, là rất khó tìm thấy một hợp đồng phụ hoàn hảo như cung cấp sản
phẩm đạt chất lượng, đúng thời hạn…
Ưu điểm: tạo sự linh hoạt và nhòp nhàng ở đầu ra của xí nghiệp trong giai đoạn có
nhu cầu cao, có thể áp dụng đối với các bộ phận sau khi phân tích lợi thế giữa mua
và tự làm.
Nhược điểm: Không kiểm soát được chất lượng và thời gian, giảm lợi nhuận và mất
khách hàng.
Nhận xét : Chủ yếu được dùng cho khu vực sản xuất, mặc dù một vài ngành công
nghiệp dòch vụ như: sơn, hay sửa chữa cũng có thể làm hợp đồng phụ.
e) Sử dụng công nhân tạm thời (bán phần):
Đặc biệt trong lónh vực dòch vụ người ta thường dùng công nhân làm việc bán thời
gian để bổ xung cho nguồn lao động không cần kỹ năng, thí dụ như ở các cửa hàng
bán thực phẩm chế sẵn, cửa hàng bán lẻ, cửa hàng bách hóa, siêu thò…
18
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Ưu điểm: Giảm chi phí và tăng độ linh hoạt hơn là dùng công nhân có hợp đồng dài
hạn, không phải trả bảo hiểm lao động.
Nhược điểm: tạo nên sự biến động về lao động, chi phí đào tạo cao, chất lượng sản
phẩm giảm sút, sắp xếp lòch trình làm việc khó khăn.
Nhận xét : Thích hợp với những công việc không đòi hỏi tay nghề, có thể chọn
trong các lực lượng lao động tạm thời như sinh viên, học sinh, các bà nội trợ, các
người đã về hưu hay các “cửu vạn” từ các miền khác đỗ về.
Năm chiến lược trên là chiến lược thụ động, 3 chiến lược tiếp theo dưới đây là
chiến lược chủ động.
f) Tác động đến cầu thông qua thông qua quảng cáo, khuyến mãi, giảm giá:
Khi cầu thấp công ty có thể gia tăng cầu thông qua quảng cáo, chiêu thò, khuyến
mãi…Tuy nhiên, các công việc trên không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được
để cân bằng giữa nhu cầu với khả năng sản xuất.
Ưu điểm: Tận dụng được năng lực sản xuất dư thừa và có thể tạo ra khách hàng
mới.
Nhược điểm: Có nhu cầu không chắc chắn, không xác đònh được nhu cầu sẽ tăng
bao nhiêu. Giảm giá có thể làm phật lòng khách hàng mua của chúng ta thường
xuyên. Khó thỏa mãn chính xác được nhu cầu.
Nhận xét: Khái niệm này giúp ta có một ý niệm sáng tạo trong marketing. Một vài
doanh nghiệp như khách sạn và hàng có thể áp dụng để đẩy số lượng khách hàng
đặc chỗ trước lên cao hơn.
g) Thực hiện các đơn hàng chòu:
Đặc cọc trước, trong giai đoạn có nhu cầu cao. Đặc cọc trước là cách đặc hàng đối
với các xí nghiệp hoặc dòch vụ mà chưa thể thỏa mãn được nhu cầu của khàch hàng
lúc bấy giờ. Nếu khách hàng bằng lòng chờ đợi mà không thay đổi thái độ và ta
không bò mất đơn hàng và sự tín nhiệm thì “đặc cọc trước” cũng là một chính sách
khả quan.
Ưu điểm: Có thể tránh được việc làm phụ trội và giữ cho công suất ở mức cố đònh.
Nhược điểm: Khách hàng có thể bỏ ta để tìm nơi khác, thí dụ như khi khách hàng
muốn may một bộ quần áo, chọn một bác só giải phẩu hay sửa chữa xe. Cũng có
thể là họ vẫn trung thành với ta nhưng phật lòng đôi chút.
Nhận xét: Nhiều công ty không đủ khả năng đáp ứng được các đơn hàng và khách
hàng đồng ý chờ trong thời gian biết điều nào đó, tuy nhiên thời gian cũng là một
phượng tiện cạnh tranh hữu hiệu khiến ta cần lưu ý.
19
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
h) Tổ chức sản phẩm hỗn hợp theo mùa:
Nhiều nhà sản xuất đã tổ chức sản xuất với chiến lược điều chỉnh những loại sản
phẩm đối nghòch theo mùa.
Ưu điểm: tận dụng đươc năng lực sản xuất và tài nguyên hiện có. Tạo được sự ổn
đònh cho đội ngũ lao động, luôn có công ăn việc làm và đời sống ổn đònh.
Nhược điểm: yêu cầu những kỹ năng và thiết bò ngoài lónh vực chuyên môn chính
của mình nên dẫn đến thay đổi chiến lược hoặc thò trường.
Nhận xét: chiến lược này khó áp dụng vì khó tìm được những sản phẩm hay dòch
vụ đối nghòch với nhau và có mức rủi ro cao.
Người ta dự kiến là 12 -> 13% số thu hồi trên vốn đầu tư không đáp ứng được rủi ro
có thể xảy ra.
2.3.3.2 Chiến lược kết hợp
Mỗi chiến lược đơn thuần nêu trên đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó và
có thể phát sinh những chi phí ảnh hưởng đến hoạch đònh tổng hợp. Do đó để đạt
kết quả tốt nhất là ta kết hợp các chiến lược nêu trên gọi là chiến lược hỗn hợp.
Thường ta sẽ kết hợp 2 hay nhiều chiến lược đơn thuần có khả năng kiểm soát
được.
Ví dụ: một công ty có thể kết hợp tổ chức sản xuất vượt giờ với tổ chức các hợp
đồng phụ và dự trữ tồn kho. Vì có nhiều cách kết hợp trong những chiến lược hỗn
hợp khác nhau, do đó việc tìm ra một phương pháp hoạch đònh tốt nhất không phải
lúc nào cũng có thể thực hiện được.
2.4.CÁC PHƯƠNG PHÁP HOẠCH ĐỊNH
2.4.1 Phương pháp trực quan
Đây là phương pháp phi đònh lượng, dùng trực giác để hoạch đònh. Trong các tổ
chức lớn, xung đột giữa các phòng ban chức năng xảy ra là việc thường xuyên. Thí
dụ người làm marketing muốn có nhiều loại sản phẩm để bán và có một lượng tồn
kho đủ lớn để đáp ứng nhu cầu khách hàng, ngược lại người quản trò tài chính lại
muốn giảm thiểu mức tồn kho để hạ được chi phí trữ hàng. Các quản đốc phân
xưởng lại muốn càng có ít chủng loại sản phẩm càng tốt để dễ điều hàng sản xuất.
Bởi vì xung đột xảy ra quanh các công việc như vậy nên kết luận về các kế hoạch
và sách lược thường ngã theo ý kiến của cá nhân mạnh nhất hơn là theo kế hoaoch
tốt nhất.
20

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét