hợp đồng đã ký. Đồng thời họ cũng chịu hoàn toàn trách nhiệm về toàn bộ
khâu tổ chức đưa đi và quản lý lao động, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả
kinh tế trong hoạt động xuất khẩu lao động của mình. Và như vậy, các hiệp
định, thoả thuận song phương chỉ có tính chất nguyên tắc, thể hịên vai trò và
trách nhiệm của nhà nước ở tầm vĩ mô.)
Xuất khẩu lao động diễn ra trong một môi trường cạnh tranh ngày
càng gay gắt. tính gay gắt đó do hai nguyên nhân chủ yếu. Thứ nhất, xuất
khẩu lao động mang lại lợi ích lớn cho các nước khó khăn về việc làm do
vậy phải có cạnh tranh để giành lấy thị trường. Thứ hai xuất khẩu lao động
đang diễn ra trong một môi trường không ổn định về tài chính và suy thoái
kinh tế trong khu vực, bản thân các nước nhận nhiều lao động cũng gặp khó
khăn trong việc giải quyết việc làm. Điều này hạn chế rất lớn đến việc tiếp
nhận lao động trong thời kì tới.
Trong quan hệ xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích ba bên. Lợi
ích của nhà nước là phần ngoại tệ mà người lao động gửi về và các khoản
thuế. Lợi ích của các tổ chức xuất khẩu lao động là các khoản thu lệ phí giải
quyết việc làm ở nước ngoài. Lợi ích của người lao động là các khoản thu
nhập thường cao hơn nhiều so với lao động trong nước. Nếu chạy theo lợi
ích thì các tổ chức xuất khẩu lao động rất rễ vi phạm qui định của nhà nước,
nhất là việc thu phí dịch vụ, môi giới điều đó vi phạm quyền lợi của người
lao động sẽ làm cho việc làm ngoài nước sẽ không thật hấp dẫn. Ngược lại
cũng vì chạy theo thu nhập cao mà người lao động rất rễ vi phạm hợp đồng
đã ký kết, như hiện tượng làm thêm bên ngoài, bỏ hợp đồng ra làm ngoài…
Xuất khẩu lao động là hoạt động đầy biến đổi: Hoạt động này phụ
thuộc lớn vào nhu cầu nhập khẩu lao động của các nước. Những nước nào
chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho xuất khẩu, đào tạo tốt chuyên môn cho họ
thì sẽ chiếm được vị trí cao trong thị phần lao động nước ngoài. Và cũng chỉ
có nước nào nhìn xa, trông rộng phân tích, đánh giá và dự đoán đúng tình
hình mới không bị động trước sự biến đổi của tình hình, đưa ra chính sách
đón đầu trong xuất khẩu lao động.
Vì vậy để hoạt động xuất khẩu lao động có hiệu quả thì phải thực hiện quản
lý tốt từ khâu khai thác thị trường, ký kết hợp đồng với đối tác, tuyển chọn
5
đến khâu đào tạo, giáo dục định hướng và đưa người lao động đi làm việc ở
nước ngoài đồng thời quản lý người lao động trong quá trình lao động dến
khi hết hạn hợp đồng về nước thực hiện thanh lý hợp đồng và các vấn đề có
liên quan.
1.1.2. Việc làm, tạo việc làm và giải quyết việc làm
a. Việc làm
Việc làm theo quy định của Bộ Luật Lao Động là những hoạt động có
ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động.
Việc làm là nhu cầu, quyền lợi nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách
nhiệm đối với mọi người. Theo Đại hội Đảng lần thứ 7: “Mọi công việc
mang lại thu nhập cho người lao động, có ích đều được tôn trọng”.
b. Tạo việc làm
Tạo việc làm là việc kiến thiết cho người lao động có được một công
việc cụ thể, mang lại thu nhập cho họ và không bị pháp luật cấm. Người tạo
ra công việc cho người lao độngcó thể là Chính phủ, thông qua các chính
sách, có thể là một tổ chức hoạt động kinh tế (các công ty, các doanh nghiệp,
các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh…) và cả những cá nhân, thông
qua các hoạt động thuê mướn nhân công.
Đặc điểm của tạo vịêc làm thông qua xuất khẩu lao động:
+ Việc tạo ra tư liệu sản xuất là do đối tác nước ngoài.
+ Việt Nam cung cấp lao động theo yêu cầu của đối tác.
+ Cầu nối để cho tư liệu sản xuất kết hợp với sức lao động là các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động và hoạt động ngoại giao của nước ta với
các nước trên thế giới.
Quan hệ nước ta với nhiều nước sẽ tạo ra điều kịên thuận lợi cho hoạt
động xuất khẩu lao động, đặc biệt với các nước điều kiện tự nhiên. phong tục
tương tự.
c. Giải quyết việc làm: Là nâng cao chất lượng việc làm tạo ra việc
làm để thu hút người lao động vào guồng máy sản xuất của nền kinh tế. Giải
6
quyết việc làm không chỉ nhằm tạo thêm việc làm mà còn phải nâng cao chất
lượng việc làm.
Cùng với giải quyết việc làm trong nước là chính thì xuất khẩu lao
động là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao
động cho công cuộc xây dựng đấ nước trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, là
một bộ phận của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp
tác lâu dài với các nước.
1.1.3. Lý thuyết di chuyển lao động quốc tế
Khi thị trường thế giới ngày càng mở rộng, việc di cư có cơ hội được
thực hiện dễ dàng thông qua các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia các tổ
chức kinh tế, khi đó di cư lao động quốc tế ngày càng trở thành hiện tượng
phổ biến gắn với các hoạt động của các quốc gia thì thuật ngữ xuất khẩu lao
động được sử dụng rộng rãi.
Trong thực tế, xuất khẩu lao động quốc tế diễn ra bằng hai con đường
chính thức và phi chính thức.
Di cư lao động bằng con đường chính thức là việc xuất khẩu lao động
thông qua các chính phủ, các tổ chức kinh tế hoặc các pháp nhân, cá nhân
được sự đồng ý của chính phủ của nước đi và nước đến.
Xuất khẩu lao động bằng con đường chính thức hay còn gọi là di cư
lao động theo hợp đồng được thực hiện theo các hiệp định hoặc hợp đồng
giữa các tổ chức kinh tế, cá nhân được sự xác nhận và đồng ý của chính phủ
nước đi và nước đến. Xuất khẩu lao động bằng con đường chính thức ngày
càng tăng về số lượng và chủng loại.
Đứng về mặt quản lý xã hội mà xét, việc xuất khẩu lao động bằng con
đường chính thức là hình thức có hiệu quả vì nó bảo đảm sự ổn định bảo
đảm sử dụng có hiệu quả sử dụng và hạn chế tối đa các tiêu cực trong môi
giới tổ chức. Di dân động bằng con đường chính thức luôn được các chính
phủ tạo điều kiện phát triển.
7
Di cư lao động không chính thức hay còn gọi là di cư lao động không
theo hợp đồng, là việc lao động bằng con đường không thông qua Nhà nước
của nước lao động ra đi và nước lao động đến thực hiện việc di cư.
Lao động di cư theo hình thức được thực hiện bằng cách: thông qua
các tổ chức buôn lậu người để vào nước sử dụng lao động, thông qua hình
thức du lịch, thăm thân nhân, sau đó ở lại nước sử dụng lao động trốn khỏi
nơi được chỉ định làm việc ngay cả khi đang còn thời hạn hợp đồng hoặc sau
quá trình học tập và lao động ở nước ngoài không trở về nước mà ở lại nước
xây dựng lao động
Sau quá trình nhất thể hoá châu âu, các khối liên minh kinh tế khác
dần hình thành, chính sách sử dụng lao động của một số nước đã thay đổi để
phù hợp với xu thế chung của sự hợp tác nên di cư bằng hình thức không
theo hợp đồng càng có cơ hội phát triển.
Đây là hình thức di cư có số lượng ngày càng tăng. Do không phải qua
các thủ tục phức tạp của xuất nhập cảnh và đáp ứng yêu cầu về thời gian của
thị trường nên số lượng di cư ở một số thị trường có khi lớn hơn số lượng di
cư theo con đường chính thức.
Tuy nhiên, việc di cư lao động không thông qua chính phủ thương làm
nảy sinh những vấn đề tiêu cực. Đã có vụ hàng chục người bị chết trong
contener khi di cư bằng con đường này do contener chứa hoá chất độc hoặc
trả lương mà không dám khiếu nại vì bản thân là lao động bất hợp pháp nên
không được pháp luật nước sở tại bảo vệ. Người Việt Nam di cư lao động ở
các nước thị trường Đông Âu, SNG sau năm 1991 và phần nào ở Hàn Quốc
hiện nay là theo con đường không chính thức
Xem xét hiện tượng di cư lao động quốc tế trong qúa trình lịch sử cho
ta thấy có một số nguyên nhân cơ bản sau:
8
Thứ nhất, sự chênh lệch về phát triển kinh tế giữa các quốc gia, giữa
các vùng tạo ra luồng lao động di cư. lịch sử phát triển kinh tế các quốc gia
trên thế giới cho thấy việc di cư có thể do chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai
nhưng luồng di cư do nguyên nhân kinh tế chiếm nhiều nhất. Do quy luật
phát triển không đều giữa các quốc gia, khu vực trên nên dân cư ở nước này,
khu vực này có mức sống cao hơn quốc gia, khu vực kia. Khi mà các phương
tiện giao thông càng thuận lợi hơn, việc giao thương giữa các quốc gia khu
vực có mức sống thấp di cư đến quốc gia, khu vực có mức sống cao hơn để
tìm kiếm việc làm, tìm kiếm cuộc sống tốt hơn là một quy luật trong cuộc
đấu tranh sinh tồn của con người kể từ khi con người xuất hiện trên trái đất
này. Hơn nữa tại các quốc gia phát triển hơn cũng có điều kiện cho con
người có thể hiện được tài năng sáng tạo nên thu hút được những người có
học vấn cao đến làm việc
Về phía các nước nhập cư, sự tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia, các
khu vực trên thế giới thường kéo theo sự phát triển và mở rộng sản xuất dịch
vụ. Khi đó, nguồn lao động trong nước không đáp ứng được nhu cầu về số
lượng chủng loại, gây tình trạng thiếu hụt lao động. Để đảm bảo sự phát triển
các nước này phải tính đến việc nhập khẩu lao động nước ngoài.
Kinh tế phát triển làm cho mức sống được cải thiện và nâng cao hơn.
Đây cũng là nguyên nhân cho lao động từ các nước nghèo hơn muốn đến tìm
việc để thu nhập cao hơn ở các nước có thu nhập cao, lao động có mức sống
cao, có điều kiện nâng cao trình độ giáo dục và nghề nghiệp. Họ có điều kiện
thuận lợi để chọn các công việc phù hợp, có thu nhập cao và không muốn
làm những công việc giản đơn, năng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Do đó tạo ra
khoảng trống rất lớn về nhu cầu lao động đối với các công việc đó. Các nước
này buộc phải nhận lao động nước ngoài để bù đắp sự thiếu hụt.
Thứ hai, sự mất cân đối nguồn lao động với số chỗ làm việc trong
nước khủng hoảng tài chính của các khu vực trên thế giới. Tại một số nước
9
đang phát triển có tỉ lệ tăng dân số hàng năm cao, nguồn nhân lực dồi dào
trong khi sản xuất trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu về chỗ làm việc
khiến các nước này phải đương đầu với sức ép về dân số và việc làm. Tình
trạng thất nghiệp tăng lên.
Trong khi đó, có những nước đất rộng người thưa, có nhu cầu khai
thác đất đai, tài nguyên cho sự phát triển nên thiếu lao động hoặc có một số
nước phát triển thu nhập quốc dân đầu người cao, trình độ dân chí cao, người
dân không muốn có con hoặc không muốn có nhiều con tỉ lệ sinh thấp, đời
sống vật chất cao, các điều kiện chăm sóc con người ngày càng tốt nên tỉ lệ
chết thấp dẫn đến tỉ lệ phát triển dân số thấp, dân số ngày càng "già" đi làm
cho dân số trong độ tuổi lao động ngày càng giảm cũng dẫn đến tình trạng
thiếu lao động
1.1.4. Những nhận định về xuất khẩu lao động của Huyện Kinh Môn
Trong thời kỳ tới, để tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà
nước đối với xuất khẩu lao động cần phải quán triệt quan điểm cơ bản sau:
Một là, Nguyên tắc thị trường trong xuất khẩu lao động là việc chấp
nhận sự cạnh tranh quốc tế về thị trường lao động ngoài nước. Đó là chuẩn
bị những loại lao động mà thị trường cần, cung cấp các loại lao động với
chất lượng mang tính cạnh tranh. Trong khi xu thế toàn cầu hoá về kinh tế
ngày càng gay gắt thì trên thị trường xuất khẩu lao động quốc tế sự cạnh
tranh cũng không kém phần khốc liệt, đòi hỏi việc hoạch định các chính sách
và thực hiện nhiệm vụ xuất khẩu lao động phải lấy nguyên tắc thị trường làm
nguyên tắc chủ yếu cho các hoạt động của mình.
Thực hiện nguyên tắc thị trường trong xuất khẩu lao động bao gồm cả
việc chấp nhận một cách chọn lọc sự tham gia của các thành phần kinh tế
trong lĩnh vực xuất khẩu lao động phù hợp các quy định của pháp luật.
Hai là, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.
10
Nghị quyết của Đại Hội lần thứ IX của Đảng đã xác định nền kinh tế
nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, xuất
khẩu lao động là một lĩnh vực hoạt động kinh tế cần đảm bảo nguyên tắc đó
trong hoạt động của mình.
Đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường có
nghĩa là tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế Nhà nước để kinh tế Nhà nước
giữa vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong xuất khẩu lao động thể
hiện ở chỗ các chính đối với người lao động đảm bảo quyền và lợi ích chính
đáng của họ và nhằm các mục đích chung khác của xã hội, bảo đảm sự công
bằng, dân chủ trong xuất khẩu lao động, không để những tác động xấu của
thị trường ảnh hưởng đến người lao động, nhất là đối với người nghèo.
Ba là, mở rộng thị trường xuất khẩu lao động theo phương châm đa
phương hoá, đa dạng hoá.
Cũng như xuất khẩu các loại hàng hoá khác, xuất khẩu lao động đòi
hỏi phải có thị trường, trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, cuộc cạnh
tranh gay gắt về tranh giành thị trường xuất khẩu lao động càng khốc liệt mà
phần thắng thuộc về những quốc gia có chiến lược đúng đắn. Như phần thực
trạng trên đây đã trình bày, hiện nay chúng ta mới đưa lao động xuất khẩu
đến 2 nước là Đài Loan và Malaysia . Do vậy, để phát triển xuất khẩu lao
động chúng ta phải đưa ra các biện pháp để chiếm lĩnh thị trường, mở rộng
thị trường và giữ thị trường .
Chiếm lĩnh thị trường là việc nước ta tham gia vào một thị trường nào
đó ví dụ một số thị trường như Malaysia, Đài Loan là những thị trường
chúng ta mới tham gia. Để có thể đưa lao động vào các thị trường trên,
chúng ta đã kiên trì công tác chuẩn bị một số năm trước đó, đã có hàng chục
thậm chí hàng trăm cuộc gặp của các công ty xuất khẩu lao động các nhân
11
viên chính phủ và cơ quan chính phủ để cuối cùng có được thoả thuận nhận
lao động của các nước đó.
Đối với thị trường lao động ta đang làm việc việc giữ được thị trường là một
vấn đề quan trọng. Trong khi vẫn phải tăng nhu cầu nhập khẩu lao động.
12
Bốn là, chuẩn bị tốt nguồn lao động xuất khẩu
Nguồn lao động chuẩn bị xuất khẩu là một vấn đề rất quan trọng để
thực hiện chiến lược xuất khẩu lao động
Cũng như xuất khẩu hàng hoá, chúng ta sẽ không thể có sản phẩm
xuất khẩu để xuất đi hoặc có xuất đi cũng bị trả lại nếu chất lượng sản phẩm
không đạt yêu cầu quy định của nước nhập khẩu. Để có nguồn lao động xuất
khẩu đạt tiêu chuẩn, chúng ta phải có chiến lược phát triển nguồn.
Nguồn lao động cho xuất khẩu bao gồm số lượng, chất lượng và
chủng loại lao động. Trong những năm qua, Huyện Kinh Môn đã chú ý đến
nhiều nguồn lao động dưới góc độ số lượng, còn chất lượng và chủng loại
chưa được đề cập đúng mức. Do vậy, để chuẩn bị tốt nguồn lao động về chất
lượng và chủng loại cần phải chú ý dến công tác đào tạo phổ thông cho đến
dạy nghề, đại học, cao đẳng và trung học, định hướng công tác đào tạo, trong
đó chú trọng đào tạo thợ trong đó thợ có tay nghề giỏi là yếu tố then chốt.
13
1.2.BỘ MÁY ĐẢM NHẬN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA HUYỆN KINH MÔN
Trong những năm vừa qua, việc lao động đi xuất khẩu ở huyện Kinh
Môn đã có sự thay đổi về quy mô cũng như hình thức xuất khẩu.
Trước đây, người lao động đi xuất khẩu thường qua môi giới, hoặc
qua các công ty xuất khẩu lao động, nhưng đã có không ít người lao động bị
lừa, vì các công ty này không có giấy phép của nhà nước về quyền được xuất
khẩu lao động. Chính vì những hiện tượng trên mà Đảng và Nhà nước đã chỉ
đạo xuống các cấp, các ngành, địa phương thành lập Ban chỉ đạo ( BCĐ) về
xuất khẩu lao động nhằm giúp người lao động yên tâm hơn trong quá trình
tham gia đi xuất khẩu cũng như những quyền lợi và nghĩa vụ của người lao
động tại nước bạn.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, của Sở lao động tỉnh
Hải Dương về việc thành lập BCĐ xuất khẩu lao động, nên Huyện Kinh
Môn đã thành lập một bộ máy đảm nhận việc xuất khẩu lao động. Đồng thời
chỉ đạo các xã, thị trấn thành lập BCĐ về xuất khẩu lao động, tạo tành một
khối liên kết chặt chẽ.
Với lực lượng lao động trong huyện là 91.514 lao động năm 2003
chiếm tỷ lệ 55,61% trong tổng số dân trong huyện là 164.569 người. Thêm
vào đó, trong những năm vừa qua cũng với sự phát triển kinh tế xã hội của
đất nước nói chung và của Huyện kinh Môn nói riêng. Lực lượng lao động
của huyện cũng cũng có bước chuyển đổi rõ nét. Lao động công nghiệp
chiếm 50,42%, lao động phổ thông chiếm 14,48%, còn lao động khác chiếm
tỷ lệ 35,1%. Chính vì vậy, dựa vào tiềm năng về lao động cho nên Sở lao
động TBXH tỉnh đã phân công cho các công ty xuất khẩu lao động về các
huyện để tuyển chọn, từ đó giúp các công ty xuất khẩu lao động tuyển được
lao động có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng yêu cầu của bên nhận lao
động xuất khẩu.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét