Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Tám năm đi vào hoạt động không phải là một quãng thời gian dài song
thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua khá nhiều thăng trầm.Sau gần
2năm phát triển quá “nóng” thị trường đã chững lại và đang đi xuống khá
nhanh dù Nhá nước đã có một vài biện pháp nhằm kéo thị trường đi lên.
Để tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoán hoạt động và thúc đẩy hoạt
động của các doanh nghiệp nhà nước, chính phủ đã có nhiều chỉ thị về việc
thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước. Đồng nghĩa với việc đã có
hơn 250 mã cổ phiếu đang được giao dịch trên cả trung tâm giao dịch chứng
khoán Hà Nội và sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM là cũng đã có hơn 250
doanh nghiệp đã thực hiện cổ phần hoá và niêm yết. Giai đoạn năm 2006 –
2007 là giai đoạn “nóng” nhất của thị trưòng với hàng trăm mã cổ phiếu được
niêm yết, hàng loạt các cổ phiếu đã tăng giá rất nhanh ngay trong ngày đầu
tiên lên sàn và VN-Index đã vượt khá xa 1000 điểm. Năm 2007, hầu hết các
cổ phiếu của thị trường chứng khoán Việt Nam đều tăng giá và có chỉ số P/E
rất cao. Phải chăng sau khi cổ phần hoá và niêm yết, các công ty cổ phần của
Việt Nam đã hoạt động rất có hiệu quả? Và vậy thì những nhân tố nào đã ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty sau khi niêm yết?
Xuất phát từ những vấn đề của thực tế, trên cơ sở lý thuyết đã tiếp thu
trong nhà trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Ngô Văn Thứ và quá
trình tìm hiểu tại phòng Đầu tư và tư vấn tài chính – công ty chứng khoán
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, em lựa chọn đề tài: “Mô hình
đánh giá ảnh hưởng của một số nhân tố đến hiệu quả hoạt động của công
ty sau khi niêm yết” làm nội dung cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Ngoài
phần mở đầu, kết luận, chuyên đề gồm có ba chương:
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1: Tổng quan thị trường chứng khoán Việt Nam – chương này
trình bày các khái niệm cơ bản về thị trường chứng khoán và các phân tích
chung về thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 2: Thực trạng của các công ty sau khi niêm yết – chương này
phân tích tình hình thực hiện IPO và niêm yết của các công ty trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, đồng thời đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
hoạt động của các công ty cùng một vài nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đó,
sau đó là phần lý thuyết mô hình đề xuất để nghiên cứu.
Chương 3: Mô hình hoá ảnh hưởng cả các nhân tố đến hiệu quả hoạt
động của các công ty sau khi niêm yết – chương này trình bày ứng dụng của
mô hình đề xuất ở cuối chương 2 trên số liệu thực tế của thị trường chứng
khoán Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS.Ngô Văn Thứ đã tận tình hướng
dẫn và giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Đồng thời em xin
bày tỏ lòng cảm ơn các anh chị trong nhóm Trading – công ty chứng khoán
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam đã giúp đỡ em trong quá trình thực
tập, bước đầu tiếp cận với các kiến thức thực tế về thị trường chứng khoán
cũng như lựa chọn phương hướng nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp.
Do hạn chế về thời gian và trình độ nhận thức nên chuyên đề không
tránh khỏi những thiết sót nhất định. Em rất mong nhận được sự giúp đỡ tận
tình và góp ý nhận xét của các thầy cô giáo.
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
I. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam
1. Lịch sử hình thành và chức năng của thị trường chứng khoán Việt
Nam
1.1. Lịch sử hình thành
Trong nền kinh tế phát sinh tình huống: người có cơ hội đầu tư sinh lời
thì thiếu vốn, đồng thời người có vốn nhàn rỗi thì lại không có cơ hội đầu tư
từ đó hình thành nên một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu tư, cơ chế
này được thự hiên trong khuôn khổ thị trường tài chính. thị trường tài chính là
nơi diễn ra sự luân chuyển vốn từ những người có vốn nhàn rỗi tới những
người thiếu vốn. hoạt động trên thị trường tài chính có nhựng hiệ ứng trực
tiếp tới sự giàu có của các cá nhân, tới hành vi của các doanh nghiệp và người
tiêu dùng và tới động thái chung của toàn bộ nền kinh tế.
Là một bộ phận cấu thành của thị trường tài chính, thị trường chứng
khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch buôn bán các loại chứng khoán.
việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua được
chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, và ở thị trường thứ cấp khi có
sự mua đi bán lại cá chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. có
thể nói thị trường chứng khoán là nơi mua bán các quyền sở hữu về tư bản, là
hình thức phát triển cao của nền sản xuất hàng hoá. Trong đó chứng khoán là
những giấy tờ có giá vá có khả năng chuyển nhượng, xác định số vốn đầu tư
(tư bản đầu tư), chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp
pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó.
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Thị trường chứng khoán ban đầu phát triển một cách tự phát và sơ khai,
xuất hiện đầu tiên vào giữa thế kỷ XV tại những thành phố trung tâm buôn
bán ở phương Tây. Sự phát triển của thị trường ngày càng mạnh về cả lượng
và chất, với số thành viên tham gia đông dảo và nhiều nội dung khác nhau vì
vậy theo tính chất tự nhiên nó lại được phân ra thành nhiều thị trường khác
nhau như: thị trường giao dịch hàng hoá, thị trường hối đoái, thị trường giao
dịch các hợp đồng tương lai và thị trường chứng khoán… . Các phương thức
giao dịch ban đầu được diễn ra ngoài trời với những ký hiệu giao dịch bằng
tay và có thư ký nhận lệnh của khách hàng. Cho đến năm 1921, ở Mỹ khu
ngoài trời được chuyển vào nhà, sở giao dịch chứng khoán chính thức được
thành lập. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các phương thức giao
dịch chứng khoán cũng được cải tiến theo tốc độ và khối lượng nhằm đem lại
hiệu quả và chất lượng cho giao dịch. Lịch sử phát triển của thị trường chứng
khoán thế giới trải qua nhiều thăng trầm lúc lên lúc xuống. Vào những năm
1875 – 1913, thị trường chứng khoán thế giới phát triển huy hoàng cùng với
sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới nhưng rồi lại trải qua ngày 29/10/1928
– ngày “thứ năm đen tối” thị trường chứng khoán Tây Âu, Bắc Âu và Nhật
Bản đã khủng hoảng. Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc các thị trường mới
dần phục hồi và phát triển mạnh và cho tới năm 1987, một lần nữa các thị
trường thế giới điên đảo với “ ngày thứ 2 đen tối” do hệ thống thanh toán kém
cỏi không đảm đương được yêu cầu của giao dịch, sụt giá chứng khoán mạnh,
gây mất lòng tin và phản ứng dây chuyền dẫn đến hậu quả nặng nề. Tuy nhiên
cho tới nay thị trường chứng khoán đã chứng tỏ được vai trò hết sức quan
trọng đối với hầu hết các nền kinh tế.
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế phù hợp với các điều kiện
kinh tế - chính trị - xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt
Nam đã quyết định thành lập TTCK với những đặc thù riêng biệt trên cơ sở
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
8
Chuyên đề tốt nghiệp
tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình TTCK thế giới. TTCK
Việt Nam ra đời được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành trung tâm giao
dịch chứng khoán (TTGDCK) tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/7/2000,
thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000(HoSTC). Năm năm
sau, ngày 8/3/2005 thị trường giao dịch bảng II - sàn giao dịch Hà Nội
(HaSTC) ra đời tạo bước ngoặt cho sự phát triển vượt bậc cho TTCK Việt
Nam.
Trong những năm qua, TTCK đã từng bước phát triển về nhiều mặt, trở
thành kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Từ chỗ trong suốt 10 năm
trời chỉ có vài chục cổ phiếu, chứng chỉ được đưa lên sàn thì đến 31/12/2007
theo thống kê có 253 cổ phiếu, chứng chỉ quỹ của các công ty và quỹ đầu tư
niêm yết trên SGDCK thành phố HCM và Hà Nội với tổng giá trị vốn hoá đạt
492.900 tỷ đồng bằng 43.7% GDP. Tính đến cuối tháng 12/2006,TTCK Việt
Nam tăng 139.84%, được đánh giá là mức tăng cao nhất trên thế giới vượt
qua mức tăng của TTCK Thượng Hải và Thâm Quyến – Trung Quốc
(111.95%). TTCK Việt Nam đã trở thành một hiện tượng với mức tăng
trưởng hàng năm đạt trung bình 19% trong suốt giai đoạn 2002-2005. Việc
chính thức đi vào thực thi Luật chứng khoán từ ngày 01/01/2007 đã lành
mạnh hoá và minh bạch hơn cho môi trường đầu tư tại thị trường chứng
khoán.
Nếu tính đến cuối năm 2006 toàn thị trường chỉ có 22 công ty chứng
khoán chính thức đi vào hoạt động thì tính đến 31/12/2007 đã có tổng cộng 80
công ty chứng khoán được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt
động, trong đó có 69 công ty đã chính thức đi vào hoạt động (59 công ty hoạt
động dưới hình thức công ty cổ phần và 10 công ty trách nhiệm hữu hạn trực
thuộc các ngân hàng thương mại cổ phần và quốc doanh).
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Tính đến thời điểm 21/12/2007, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có
sự góp mặt của 253 chứng khoán niêm yết trên cả 2 sàn HOSE và HASTC.
Sự gia tăng nhanh chóng lượng cổ phiếu niêm yết trên thị trường cùng
với sự ra đời của hàng loạt công ty chứng khoán mang đến những dịch vụ tiện
ích đã thu hút một số lượng lớn các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức trong và
ngoài nước. Đến cuối năm 2006, số lượng tài khoản của các nhà đầu tư tại các
công ty chứng khoán chỉ đạt 89.814 tài khoản, nhưng đến cuối năm 2007 toàn
thị trường đã có tổng cộng 327.000 tài khoản giao dịch mở tại các công ty
chứng khoán (tăng 240.816 tài khoản, tương đương 279% so với cuối năm
2006).
Bên cạnh sự tham gia ngày càng đông đảo của các nhà đầu tư cá nhân,
thị trường chứng khoán Việt Nam hiện đang nhận được sự quan tâm đặc biệt
của các tổ chức tài chính lớn trong khu vực và trên thế giới như: JP Morgan,
Merrill Lynch, Citigroup… . Tính đến cuối năm 2007, số lượng nhà đầu tư
nước ngoài mở tài khoản tại các công ty chứng khoán đã lên đến con số 7.900
tài khoản (cá nhân là 7.400 và tổ chức là 500).
Năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam chứng kiến cuộc “chạy
đua” niêm yết của các công ty cổ phần tận dụng cơ hội ưu đãi về thuế thu
nhập theo Thông tư số 100/2004/TT-BTC ngày 20/10/2004 và Thông tư số
72/2006/TT-BTC. Còn năm 2007 làn sóng lên sàn của các công ty cổ phần đã
thay đổi về chất với mục tiêu chính: lên sàn để huy động vốn cho hoạt động
kinh doanh. Mặc dù tốc độ gia tăng số lượng cổ phiếu niêm yết tại thị trường
tập trung trong năm 2007 không cao bằng năm 2006, nhưng các công ty niêm
yết mới trên sàn năm 2007 phần lớn là những tập đoàn và doanh nghiệp có
mức vốn điều lệ lớn và hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Ngoài ra, còn rất
nhiều công ty đã nộp hồ sơ niêm yết và đang chờ chấp thuận của sở giao dịch
thành phố Hồ Chí Minh và trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội. Quy mô
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
10
Chuyên đề tốt nghiệp
thị trường đang tăng lên một cách rõ rệt. Tính đến thời điểm ngày 31/12/2007,
tổng khối lượng chứng khoán niêm yết trên thị trường tập trung đạt
5.521.092.015 chứng khoán (không tính trái phiếu).
1.1.1. Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được thành
lập theo quyết định 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 của Thủ tướng Chính
phủ và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên ngày
28/7/2000 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội
của đất nước. Giữa năm 2007, Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh đã được chuyển thành Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh đồng thời ngày 30/07/2007 Sở giao dịch chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh thực hiện giao dịch liên tục và từng bước thực hiện triển khai
giao dịch nhập lệnh từ xa để đáp ứng tình hình thị trường đang phát triển.
Nếu như ban đầu chỉ có 2 cổ phiếu (REE và SAM) và một vài trái phiếu
chính phủ được niêm yết giao dịch thì tính đến thời điểm 31/12/2007, sở giao
dịch đã có 141 chứng khoán niêm yết. Tính đến thời điểm21/12/2007, tổng
khối lượng niêm yết đạt 4.197.693.526 chứng khoán, trong đó có
4.026.283.996 cổ phiếu của 138 công ty cổ phần và 171.409.530 chứng chỉ
quỹ của 3 quỹ đầu tư chứng khoán.
Tính đến ngày 28/12/2007, sở giao dịch chứng khoán đã thực hiện được
248 phiên giao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán
tương đương với tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 nghìn tỷ
đồng, gấp 2 lần khối lượng và 2,8 lần giá trị giao dịch so với năm 2006. Bình
quân mỗi phiên giao dịch có 9,2 triệu chứng khoán được chuyển nhượng
tương đương với 980 tỷ đồng.
1.1.2. Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Tháng 6/2004, Bộ Tài chính ra thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận
của Lãnh đạo Bộ về mô hình tổ chức và xây dựng thị trường giao dịch chứng
khoán Việt Nam. Trong đó định hướng xây dựng Trung tâm giao dịch chứng
khoán Hà Nội thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) đơn giản,
gọn nhẹ. Ngày 8/3/2005 Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức
khai trương hoạt động, đánh dấu một bước phát triển mới của thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Chức năng của trung tâm là:
- Tổ chức đấu giá cổ phần cho các doanh nghiệp
- Tổ chức đấu thầu trái phiếu
- Tổ chức giao dịch theo cơ chế đăng kí giao dịch
Năm 2007, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã thay đổi thời
gian giao dịch tạo điều kiện nhà đầu tư có thêm nhiều thời gian và cơ hội để
đầu tư. Với sự đổi mới này, sự “tắc nghẽn” của thị trường trong những phiên
giao dịch “nóng” đã được giảm tải.
Tại trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội có 25 cổ phiếu đăng ký
giao dịch mới, nâng tổng số từ 87 cổ phiếu năm 2006 lên 112 cổ phiếu năm
2007. Tổng khối lượng đăng kí giao dịch của 112 công ty cổ phần là
1.323.398.489 cổ phiếu.
Tính đến 28/12/2007, trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội đã thực
hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khối lượng giao dịch toàn thị
trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương với tổng giá trị giao dịch
toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về khối lượng và 15,8 lần
về giá trị so với năm 2006. Quy mô giao dịch tăng trưởng mạnh khi mức giao
dịch bình quân năm 2007 đạt 255 tỷ đồng/phiên trong khi năm 2006 chỉ đạt
19 tỷ đồng /phiên.
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
12
Chuyên đề tốt nghiệp
1.2. Chức năng của thị trường chứng khoán Việt Nam
1.2.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp
phần mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của
công ty, TTCK đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa
phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư
phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
1.2.2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với
các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác
nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa
chọn cho hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
Chính vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
1.2.3 Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán khác
khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là
một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây
là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động
càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh
khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường.
1.2.4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản
ảnh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
13
Chuyên đề tốt nghiệp
động , từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn. kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
1.2.5. Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô
Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách
nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang
mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho
thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong
vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp chính phủ thực
hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK, chính phủ có thể mua và
bán trái phiếu chính phủ để tạo ra các nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách
và quản lý lạm phát. Ngoài ra, chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính
sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự
phát triển cân đối của nền kinh tế.
2. Nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
2.1. Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là các hàng hoá trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm
tra trực tiếp được các chứng khoán như các hàng hoá thông thường mà phải
dựa trên cơ sở các thông tin có liên quan. Vì vậy TTCK phải được xây dựng
trên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt.
Việc công khai thông tin về TTCK phải thoả mãn các yêu cầu:
Chính xác: các thông tin công khai nhưng không xác thực hoặc không tin
cậy có thể dẫn tới những quyết định đầu tư sai lầm của các nhà đầu tư, ảnh
hưởng tới quyền lợi của các nhà đầu tư, vi phạm nguyên tắc công bằng trên
TTCK. Do đó, đòi hỏi thông tin cần phải chính xác.
Vũ Quyết Thắng Toán Tài Chính 46
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét