Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại NNN&PHNT Hà Tây


5
nền kinh tế.Về tính chất phức tạp của hoạt động cho vay nên khi nói đến tín
dụng người ta thường đề cập đến cho vay mà ít khi đề cập đến mặt thứ hai đó là
đi vay.
Trên cơ sở khái niệm tín dụng trên đây, vậy thì một khoản như thế nào
được coi là có hay khơng đạt được chất lượng tín dụng?
Chất lượng tín dụng được hiểu theo đúng nghĩa là vốn cho vay của ngân
hàng được khách hàng sử dụng vào q trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ, để
tạo ra một số tiền lớn hơn vừa để hồn trả ngân hàng gốc và lãi, trang trải chi phí
và có lợi nhuận. Như vậy, qua một q trình chu chuyển vốn T-H-T’ như trên,
ngân hàng sẽ thu hồi vốn gốc và có lãi, còn khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả
Xét về tổng thể ngân hàng vừa tạo ra được hiệu quả kinh tế, vừa tạo ra được
hiệu quả xã hội.
Trên cơ sở đó, khi cho vay, ngân hàng phải tính tốn cân nhắc để vừa đảm
bảo khơng vi phạm luật, vừa giải quyết được đầu ra. Để thực hiện được điều này
các ngân hàng phải nghiên cứu kỹ về tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng tài
chính, mục đích sử dụng vốn của khách hàng. Đây chính là các cơ sở chủ yếu
cho việc đảm bảo chất lượng tín dụng. Như vậy chất lượng được hình thành và
đảm bảo từ hai phía: ngân hàng và khách hàng.
Và như thế, hoạt động tín dụng sẽ mang lại hiệu quả khi mà nó càng ngày
càng thực hiện được nhiềm món vay có chất lượng cao, góp phần tích cực cho
sự phát triển khơng chỉ riêng cho bản thân ngân hàng mà là cả sự phát triển của
nền kinh tế xã hội. Hiệu quả hoạt động tín dụng ngày càng cao thể hiện mức độ
đóng góp của hoạt động ngân hàng đối với xã hội ngày càng lớn. Điều đó cũng
có nghĩa hoạt động tín dụng hiệu quả khi nó đạt được sự tăng trưởng quy mơ và
nằm trong tầm quản lý của ngân hàng để giữ ổn định chất lượng tín dụng. Trong
cơ chế thị trường hiệu quả hoạt động tín dụng là điều kiện tiên quyết cho sự tồn
tại và phát triển của ngành ngân hàng mà trước hết là các tổ chức tín dụng là nơi
trực tiếp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ.
2. Phân loại tín dụng
Tín dụng cho vay tồn tại dưới rất nhiều hình thức, nhiều tên gọi. Tuy
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

6
nhiên, căn cứ vào một số các tiêu thức mà người ta có thể phân loại các loại hình
như sau:
a- Phân loại theo mục đích:
- Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản, nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực cơng nghiệp
thương mại và dịch vụ.
- Cho vay cơng nghiệp và thương mại là cho vay ngắn hạn để bổ xung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.
- Cho vay nơng nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
như phân bón, thuốc trừ sâu, giốgn cây trồng, lao động,
- Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như
mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay ngân hàng còn cho vay để trang trải
các khoản chi phí thơng thường của đời sống thơng dụng dưới tên gọi là tín dụng
tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng là một ví dụ.
- Th mua và các loại tín dụng khác.
b. Phân loại theo thời hạn:
Theo cách này tín dụng cho vay phân làm ba loại.
- Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và được
dùng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn. Đối với ngân hàng thương mại, tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ
trọng cao nhất.
- Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay trung hạn thường là cố định. Trước
đây theo thời hạn của Ngân hàng Nhà nước thì thời hạn cho vay trung hạn là 1-3
năm. Tuy nhiên cho đến nay, để đảm bảo đáp ứng nhu cầu vay của các doanh
nghiệp, các ngân hàng thương mại đã đưa thời hạn cuối cùng của vay trung hạn
lên 5 năm giải quyết được hai vấn đề. Thứ nhất là đáp ứng tốt hơn nhu cầu của
doanh nghiệp bởi lẽ đối với, một số tài sản nhất định thời hạn sử dụng của chúng
tương đối dài nên cần phải có thời gian đủ lớn doanh nghiệp mới có thể hồn trả
gốc và lãi cho ngân hàng. Thứ hai là tránh tình trạng tiền cho vay của ngân hàng
bị chuyển vào nợ q hạn chỉ vì thể chế và quy định gây ra, trong khi doanh
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

7
nghiệp vẫn làm ăn có lãi và có đầy đủ khả năng trả nợ. Còn đối với các nước
trên thế giới, loại cho vay này có thời hạn lên tới 7 năm. Tín dụng trung hạn chủ
yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị cơng
nghệ, mở rộng kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mơ vừa và nhỏ phục
vụ đời sống, sản xuất Trong nơng nghiệp, cho vay trung hạn chủ yếu để đầu
tư vào các đối tượng như máy cày, máy bơm nước, xây dựng các vườn cây cơng
nghiệp như cà phê, điều
- Cho vay dài hạn là loại cho vay mà thời hạn của nó là dài hơn đối với
cho vay trung hạn. Loại hình tín dụng này được cung cấp để đáp ứng nhu cầu
dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận tải có quy mơ lớn
xây dựng xí nghiệp nhà máy mới, các dự án đầu tư phát triển như cơ sở hạ tầng.
- Nghiệp vụ cho vay truyền thống của các ngân hàng thương mại là cho
vay ngắn hạn nhưng từ những năm 70 trở lại đây các ngân hàng đã chuyển sang
kinh doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới đó là nâng cao tỷ
trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ ngân hàng.
c. Phân loại theo căn cứ đảm bảo.
- Cho vay khơng bảo đảm là loại cho vay khơng cần tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín. Đối vói
những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh,
quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng mà khơng đòi hỏi nguồn
thu nợ bổ xung.
- Cho vay có bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung cấp với điều
kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với
khách hàng khơng có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có
bảo đảm. Sự bảo đảm này căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ
hai, bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền
vay trong trường hợp người vay khơng có khả năng trả nợ.
d. Phân loại theo phương thức hồn trả tiền vay.
Theo cách này thì khoản cho vay có thể được hồn trả theo các cách sau:
+Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải hồn trả vốn gốc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

8
và lãi theo định kỳ ( khoản tiền vay sẽ được trả làm nhiều lần theo nhiều kì nợ).
+Tín dụng phi trả góp: Là loại tín dụng được thanh tốn một lần theo kỳ
hạn thoả thuận( Trả một lần cả vốn gốc và lãi khi đến hạn).
+Tín dụng hồn trả theo u cầu: Là loại tín dụng mà người vay có thể
hồn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập.
Cách thứ nhất là trả một lần cả vốn gốc và lãi khi đến hạn. Hai là khoản
tiền vay sẽ được trả làm nhiều lần theo nhiều kỳ nợ. ở Việt Nam, nếu doanh
nghiệp khơng trả nợ vào lần sau hoặc lần sau nữa. Trong khi đó ở các nước khác
nếu ngay từ lần trả đầu tiên mà khơng trả được nợ thì bị coi là nợ q hạn để có
biện pháp giải quyết.
e. Phân loại theo xuất xứ vốn vay.
Có loại do ngân hàng trực tiếp cho vay, có loại cho vay gián tiếp tức là
ngân hàng mua lại nợ từ chủ nợ khác.
f. Phân loại theo hình thức giá tự có .
Một là cho vay bằng tiền, đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng
được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau.
Hai là cho vay bằng tài sản - loại này được áp dụng phổ biến dưới hình
thức tài trợ th mua.
3. Chức năng và vai trò của tín dụng ngân hàng
a.Chức năng của tín dụng ngân hàng:
*Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ.
Thực hiện chức năng này tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi
trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay để bổ xung
vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu về vốn nhằm đầu tư cho sản xuất,
kinh doanh và tiêu dùng. Hiện nay vốn tín dụng là một bộ phận quan trọng trong
tồn bộ vốn lưu động và vốn cố định của doanh nghiệp.Trong phạm vi tồn bộ
nền kinh tế, tín dụng ngân hàng là hình thức phân phối vốn gián tiếp.
*Chức năng tiết kiệm tiền mặt.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng được mở rộng
và phát triển đa dạng. Từ đó, nó thúc đẩy việc mở rộng thanh tốn khơng dùng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

9
tiền mặt và thanh tốn bù trừ giữa các đơn vị kinh tế. Điều này sẽ làm giảm chi
phí lưu thơng giấy bạc ngân hàng, đồng thời cho phép Nhà nước điều tiết một
cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản
xuất và lưu thơng hàng hố phát triển .
*Chức năng phản ánh tổng hợp và kiểm sốt q trình hoạt động của nền
kinh tế.
Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín
dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp nhạy bén tình hình hoạt động của
nền kinh tế.Do đó tín dụng còn là một cơng cụ quan trọngcủa Nhà nước để kiểm
sốt, thúc đẩy q trình thực hiện các chiến lược hoạch định, phát triển kinh tế.
Mặt khác, trong khi thực hiện chức năng tiết kiệm tiền mặt,gắn liền với việc
phát triển thanh tốn khơng dùng tiền mặt trong nền kinh tế, tín dụng có thể
phản ánh và kiểm sốt q trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế.
b. Vai trò của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng là một lĩnh vực khá rộng, bao qt một khơng gian nhiều chiều
(ngang dọc, trên dưới, trong ngồi) của chính sách tiền tệ quốc gia. Hệ quả của
hoạt động tín dụng có quan hệ biện chứng với tiến trình vận hành chiến lược
phát triển kinh tế -xã hội và hội nhập thị trường thế giới. Xét về tầm quản lý vĩ
mơ, tín dụng là một phạm trù gắn chặt với xu hướng “tạo tiền”, sự tạo tiền này
sẽ được xố đi khi hồn trả tín dụng đến hạn. Chính vì vậy, tín dụng ngân hàng
đóng vai trò rất quan trọng:
+Tín dụng ngân hàng là cơng cụ tài trợ vốn có hiệu quả.
+Tín dụng ngân hàng là cơng cụ của Nhà nước điều tiết khối lượng tiền tệ
lưu thơng trong nền kinh tế.
+Tín dụng ngân hàng thoả mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của
nền kinh tế .
+Tín dụng ngân hàng góp phần bình ổn giá cả trong nền kinh tế .
+Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, mở rộng quan hệ lưu thơng hàng hố quốc tế.
+Tín dụng ngân hàng tác động có hiệu quả đến nhịp độ phát triển sơi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

10
động, thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế.
+Tín dụng ngân hàng là hoạt động chủ yếu đem lại lợi nhuận cho Ngân
hàng Thương Mại.
Với những đóng góp vơ cùng to lớn ấy, có thể nói hoạt động tín dụng là
một trong những hoạt động to lớn, chủ yếu của ngân hàng và trên thực tế chỉ ra
rằng hoạt động tín dụng đã mang lại cho ngân hàng số lợi nhuận khổng lồ, tạo
điều kiện cho chính ngân hàng đó phát triển. Song bất cứ hoạt động nào cũng
tồn tại hai mặt, tín dụng là điều kiện để ngân hàng phát triển nhưng chính nó
cũng có thể đẩy ngân hàng đến chỗ phá sản, gặp những rủi ro lớn. Do đó việc
xem xét rủi ro tín dụng trở nên vơ cùng quan trọng và cần thiết.
II. KHÁI NIỆM HỘ SẢN XUẤT
Trong các văn bản pháp luật, hộ sản xuất được xem như một chủ thể trong
các quan hệ dân sự do pháp luật quy định và được định nghĩa là một đơn vị mà
các thành viên có hộ khẩu chung, tài sản chung và hoạt động kinh tế chung. "Hộ
sản xuất" là một thuật ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn tín dụng
cho hộ gia đình để làm kinh tế chung của cả hộ. Theo phụ lục 1 - văn bản 499A
ngày 2/9/1993 của NHNo & PTNT Việt Nam, hộ sản xuất được quan niệm là
một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu
trách nhiệm về kết quả h oạt động sản xuất kinh doanh của mình. Quan niệm về
hộ sản xuất theo văn bản này và theo quyết định 180 của NHNo & PTNT Việt
Nam thì hộ sản xuất gồm các đối tượng sau:
+ Hộ chun sản xuất nơng - lâm - ngư nghiệp có tính chất tự sản, tự tiêu
do cá nhân làm chủ hộ, tự chịu trách nhiệm về tồn bộ hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình.
+ Hộ cá thể, tư nhân làm kinh tế hộ gia đình theo nghị định 29 ngày
29/3/1998.
+ Hộ là thành viên nhận khốn của các tổ chức kinh tế hợp tác, các doanh
nghiệp nhà nước.
+ Các cá nhân là nhóm kinh doanh theo nghị định 66/HĐBT ngày
2/3/1992.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

11
+ Các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp tư nhân.
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của hộ sản xuất nói trên là các ngành nơng,
lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp, cơng nghiệp ở nơng thơn, thị trấn, thị xã
ven đơ và thường khi nói đến hộ sản xuất thì người ta thường nghĩ đến hộ nơng
dân là chủ yếu vì hộ nơng dân chiếm phần lớn dân số cả nước và chiếm đa số
lực lượng lao động trên tồn lãnh thổ.
* Khái niệm tín dụng hộ sản xuất.
Tín dụng hiểu theo các đơn giản là quan hệ kinh tế trong đó "người này"
chuyển cho "người khác" quyền sử dụng một lượng giá trị hay hiện vật. Với
những điều kiện mà hai bên thoả thuận (về số lượng hay mục đích sử dụng, thời
hạn hồn trả, phương thức hồn trả, lãi phải trả, đảm bảo). Tuỳ từng chủ thể để
tham gia quan hệ tín dụng mà người ta phân thành tín dụng thương mại, tín dụng
ngân hàng Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa một bên là
ngân hàng với một bên là các tổ chức kinh tế và dân cư. Nó bao gồm hai mặt
hoạt động chính là huy động vốn và cho vay. Do đặc điểm riêng của mình, tín
dụng ngân hàng có ưu thế hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời
hạn và phạm vi đầu tư. Nguồn vốn của ngân hàng là tiền nên thích hợp với mọi
đối tượng xin vay nên có thể đầu tư vào nhiều lĩnh vực, ngành kinh tế khác
nhau. Vì lý do trên tín dụng ngân hàng là hình thức quan trọng nhất trong các
hình thức tín dụng hiện tại và là hình thái tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị
trường.
Tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất là quan hệ tín dụng giữa một bên
là ngân hàng và một bên là hộ sản xuất. Hình thức tín dụng này đã có từ lâu trên
thế giới nhưng ở Việt Nam nó chỉ thực sự xuất hiện khi có nghị quyết 10 của Bộ
chính trị với sự thừa nhận quyền tự chủ của thành phần kinh tế cá thể. Sau khi
được thừa nhận và cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường kinh tế hộ
sản xuất đã phát triển nhanh chóng và đã đóng góp khơng nhỏ cho nền kinh tế
nói chung, đặc biệt là lương thực thực phẩm. Có được thành cơng trên phải nói
đến sự đóng góp khơng nhỏ của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất.
Điều này được thể hiện ở vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

12

III. VAI TRỊ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG VIỆC PHÁT
TRIỂN KIN TẾ HỘ SẢN XUẤT
Ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong q trình phát triển
của nền kinh tế hàng hố. Đối với Nhà nước thì ngân hàng là một cơng cụ đắc
lực, hữu hiệu trong quản lý kinh tế. Đối với các doanh nghiệp, các cá nhân thì
tín dụng ngân hàng là nguồn tài trợ cho sự thiếu hụt tạm thời về vốn sản xuất.
Đặc biệt trong cơ chế quản lý mới hiện nay, Nhà nước đã giao quyền sử dụng
đất lâu dài cho từng hộ sản xuất. Mỗi hộ sản xuất giờ đây đã trở thành một hộ
kinh tế tự chủ, phải tự tính tốn mức chi phí bỏ ra, khả năng thu thập, xác định
mức độ vốn cần đầu tư cho sản xuất, khả năng vốn tự có, số vốn cần phải đi vay.
Do đó trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng có vai trò rất lớn đối với
kinh tế hộ sản xuất. Sau đây là một số vai trò chủ yếu của tín dụng ngân hàng
trong việc phát triển kinh tế hộ sản xuất.
1. Đáp ứng u cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì q trình sản xuất
liên tục, góp phần đầu tư phát triển nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định, hiện tượng tạm
thời thừa thiếu vốn thường xảy ra đối với các tổ chức kinh tế nói chung và đối
với hộ sản xuất nói riêng. Hoạt động đầu tư tín dụng ngân hàng cho hộ sản xuất
đã góp phần điều hồ vốn trong tồn bộ nền kinh tế quốc dân, đáp ứng nhu cầu
vốn cho hộ sản xuất, tạo điều kiện cho q trình sản xuất liên tục tránh tình trạng
lao động khơng có việc làm do thiếu đối tượng và cơng cụ lao động.
Khi nền kinh tế chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trường thì nhu cầu trao đổi hàng hố giữa hộ sản xuất trong
cùng một vùng hay giữa các vùng với nhau đã ra tăng đáng kể. Các hộ sản xuất
từ lúc chỉ sản xuất các loại nơng sản phẩm theo kiểu tự cấp, tự túc thì giờ đây
chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm thị trường cần. Các hộ sản xuất cho xã
hội những sản phẩm, hàng hố mà họ sản xuất ra, đồng thời mua từ thị trường
những thứ mà họ cần. Để đạt được điều đó thì các hộ sản xuất cần nhiều vốn để
mua vật tư, đầu tư đổi mới kỹ thuật, mua hạn sắm máy móc thiết bị. Trong khi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

13
đó vốn tự có của các hộ rất hạn chế, cho nên các hộ sản xuất cần đến sự trợ giúp
của ngân hàng để mở rộng sản xuất.
Xét trên một khía cạnh khác thì sự chun mơn hố sản xuất dẫn tới tình
trạng các hộ sản xuất khi chưa thu hoạch sản phẩm chưa có hàng hố bán thì
chưa có thu nhập nhưng họ cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất,
mua sắm, đổi mới cơng cụ sản xuất. Trong trường hợp này các hộ sản xuất cần
có sự trợ giúp của ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục.
Hơn nữa trong điều kiện nước ta hiện nay cơ cấu kinh tế nói chung và cơ
cấu sản xuất trong nơng nghiệp, nơng thơn nói riêng còn ở trong tình trạng mất
cân đối. Do đó tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất,
hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn lao động,
ngun vật liệu.
Như vậy có thể khẳng định rằng tín dụng ngân hàng có vai trò cực kỳ
quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để phát triển kinh tế
nơng nghiệp, nơng thơn ở nước ta hiện nay.
2. Thúc đẩy q trình tập trung vốn, tập trung sản xuất trên cơ sở đó
góp phần tích cực vào q trình vận động liên tục của nguồn vốn
Tại một thời điểm nhất định trong xã hội ln xuất hiện những nguồn tiền
tạm thời nhàn rỗi của các thành phần kinh tế, đồng thời xuất hiện những tổ chức
kinh tế, cá nhân cần vốn để sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ của các ngân hàng là
tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi để cho các đơn vị cá nhân tạm thời đang thiếu
vốn vay. Tuy nhiên q trình đầu tư tín dụng này khơng phải là rải đều cho các
chủ thể có nhu cầu về vốn để duy trì, mở rộng sản xuất mà phải thực hiện một
cách tập trung. Ngân hàng chủ yếu tập trung đầu tư tín dụng cho các hộ sản xuất
kinh doanh có hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế phát triển của
Đảng và nhà nước nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của các hộ sản
xuất đó và khuyến khích các hộ kinh doanh có hiệu quả để được ngân hàng cho
vay vốn. Như vậy có thể khẳng định rằng đầu tư tập trung là q trình tất yếu
vừa hạn chế được rủi ro tín dụng cho các ngân hàng vừa thúc đẩy sự tăng
trưởng kinh tế.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

14
Sau khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn, tập trung sản xuất của tín dụng ngân
hàng đã được thể hiện ở mức độ cao hơn hẳn so với cơ chế kinh tế cũ. Trong cơ
chế bao cấp, việc nâng cao hiệu quả huy động vốn và cho vay khơng phải là mục
tiêu quan trọng nhất đối với ngân hàng. Ngược lại trong cơ chế thị trường, hiệu
quả hoạt động kinh doanh là vấn đề sống còn đối với các ngân hàng cho nên các
ngân hàng phaỉ tìm cách tăng lợi nhuận, giảm rủi ro bằng cách tập trung đầu tư
vào các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
Như vậy các ngân hàng thương mại với tư cách là một trung gian tài
chính, là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư đã thúc đẩy q trình tập trung vốn, tập
trung sản xuất trên cơ sở đó góp phần tích cực vào q trình vận động liên tục
của nguồn vốn.
3. Tín dụng ngân hàng là cơng tụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém
phát triển và các ngành kinh tế mũi nhọn
Thơng qua hệ thống ngân hàng mà cụ thể là hoạt động tín dụng ngân
hàng, nhà nước đã góp phần tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng
việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời gian dài, mức vay lớn. Trong điều kiện
nước ta hiện nay, nơng nghiệp là ngành sản xuất quan trọng đáp ứng phần lớn
nhu cầu cần thiết cho xã hội đang trong q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố
nhưng sản xuất hàng hố ở nơng thơn chưa phát triển, kết cấu hạ tầng kém, lại
chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên. Đơn vị sản xuất chủ yếu là kinh tế
hộ gia đình với năng suất lao động thấp, ruộng đất, vốn thiếu, phương pháp canh
tác, kỹ thuật lạc hậu, khối lượng hàng hố chưa nhiều. Chính vì vậy trong giai
đoạn tới chính phủ cần tập trung đầu tư, hỗ trợ cho nơng nghiệp như việc nâng
cấp cơ sở hạ tầng ở nơng thơn và các điều kiện, yếu tố cần thiết khác cho sản
xuất nơng nghiệp như trạm bơm điện, hệ thống thủy lợi, cải tiến cơng cụ lao
động.
Ngồi việc chú trọng đầu tư cho các ngành kinh tế kém phát triển, tín
dụng ngân hàng còn có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các ngành kinh
tế mũi nhọn để tạo cơ sở thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển như sản xuất hàng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét