Thực tập tốt nghiệp
Trong đó:
- Giám Đốc phụ trách trực tiếp phụ trách các phòng ban: văn phòng,
phòng tổ chức lao động, phòng kế toán thống kê tài chính.
- Phó Giám Đốc cơ điện trực tiếp chỉ đạo khối sản xuất: phòng kỹ thuật cơ
điện, phòng điều độ, phân xưởng cơ khí, phòng vật tư, phân xưởng điện tự động
- Phó Giám Đốc công nghệ trực tiếp chỉ đạo khối kỹ thuật và các phòng
ban như phòng kỹ thuật công nghệ, phòng thí nghiệm KCS, phòng điều hành
trung tâm, xưởng mỏ, xưởng lò, xưởng nguyên liệu.
- Phó giám đốc kinh doanh chịu trách nhiệm trong việc kinh doanh của
công ty chịu trách nhiệm quản lý các phòng ban như: phòng kế hoạch, phòng
kinh doanh tiêu thụ, chi nhánh Thái Bình, phân xưởng nghiền đóng bao.
- Phó Giám Đốc công ty kiêm trưởng ban quản lý dự án nhà máy mới trực
tiếp chỉ đạo quản lý đầu tư xây dựng, đảm bảo tiến độ xây dựng và chất lượng
xây dựng nhà máy mới.
- Các phòng ban: 15 phòng ban
+ Phòng kỹ thuật công nghệ: giúp giám đốc quản lý chuyên sâu về lĩnh
vực công nghệ, tiến bộ kỹ thuật để tổ chức sản xuất các chủng loại xi măng.
+ Phòng thí nghiệm KCS: là phòng thí nghiệm để kiểm tra, đánh giá chất
lượng sản xuất xi măng trên dây chuyền sản xuất của công ty. Quản lý chất
lượng vật tư đầu vào, chất lượng các bán thành phẩm, các chủng loại xi măng
xuất xưởng, giải quyết tranh chấp chất lượng hàng hoá.
+ Phòng điều hành trung tâm: quản lý tài sản lao động, phối hợp với các
đơn vị liên quan tổ chức vận hành cục bộ riêng lẻ hay đồng bộ các thiết bị máy
móc của từng công đoạn trong dây chuyền sản xuất chính.
Thực tập tốt nghiệp
+ Phòng tổ chức lao động: có chức năng quản lý tổ chức, lao động đào
tạo, pháp chế, tiền lương và các chế độ chính sách đối với người lao động nhằm
phục vụ nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất.
+ Phòng kế toán thống kê tài chính: là phòng nghiệp vụ có chức năng
quản lý tài chính và giám sát mọi hoạt động kinh tế, tài chính trong công ty, tổ
chức chỉ đạo và thực hiện toàn bộ công tác kế toán, thống kê thông tin kinh tế và
hạch toán kinh tế. Kiểm soát kinh tế Nhà Nước tại công ty thông qua công tác
thống kê, kế toán các hoạt động kinh tế của các đơn vị giúp giám đốc chỉ đạo
sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả tốt nhất.
+ Văn phòng: là phòng tham mưu giúp giám đốc quản lý tổ chức thực
hiện các lĩnh vực công tác Văn thư – lưu trữ, hành chính, quản trị, văn hoá thông
tin.
+ Phòng kỹ thuật cơ điện: giúp giám đốc và phó giám đốc cơ điện quản lý
chuyên sâu về kỹ thuật cơ điện trong xây dựng lắp đặt mới, sửa chữa, bảo
dưỡng, vận hành máy móc thiết bị cơ - điện nhằm đảm bảo các thiết bị cơ điện
hoạt động bình thường, ổn định, chạy dài ngày phục vụ sản xuất kinh doanh của
công ty đạt hiệu quả cao nhất.
+ Phòng an toàn lao động và môi trường: giúp giám đốc về công tác an
toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ và môi trường.
+ Phòng vật tư: tham mưu cho giám đốc về hoạt động mua sắm và tiếp
nhận vật tư thiết bị, phụ tùng, và nguyên nhiên vật liệu hàng hoá đầu vào phục
vụ cho sản xuất kinh doanh của công ty.
+ Phòng bảo vệ quân sự: tham mưu cho Đảng bộ – Giám đốc công ty xây
dựng các kế hoạch, phương án bảo vệ an ninh chính trị, trật tự trị an, bảo vệ tài
sản của công ty, xây dựng và tổ chức hoạt động phong trào quần chúng bảo vệ
an ninh tổ quốc.
+ Ban xử lý tài sản: phân loại xử lý, thanh lý tài sản nhà máy cũ.
Thực tập tốt nghiệp
+ Phòng quản lý và đầu tư xây dựng: quy hoạch và xây dựng mặt bằng
nhà máy cũ.
+ Phòng kế hoạch: tổng hợp tham mưu cho lãnh đạo công ty trong việc
xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Đôn đố
và giám sát việc thực hiện kế hoạch SXKD đạt kế hoạch cao nhất.
+ Phòng kinh doanh tiêu thụ: là phòng nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc
và chịu sự điều hành trực tiếp của phó giám đốc kinh doanh về công tác kinh
doanh tiêu thụ sản phẩm.
+ Ban quản lý dự án: là đơn vị tham mưu trong công tác kế hoạch, báo
cáo thống kê, các thủ tục ĐTXD và tham mưu thực hiện toàn bộ công tác kỹ
thuật thi công trên công trường, chịu trách nhiệm về chất lượng các công trình
xây dựng công ty XMHP mới theo quy định hiện hành của Nhà Nước.
- 4 phân xưởng chính:
+ Phân xưởng nguyên liệu: quản lý toàn bộ tài sản, vật tư, lao động tổ
chức vận hành các thiết bị từ trạm đá vôi, đá sét, hệ thống thiết bị vận chuyển
đến kho đồng nhất, hệ thống cấp phụ gia điều chỉnh nguyên vật liệu.
+ Phân xưởng mỏ: khai thác và chế biến cung cấp các loại đá như đá hộc,
đá nhỏ…
+ Phân xưởng lò: quản lý thiết bị tại công đoạn lò, tham gia sản xuất ra ra
sản phẩm Clinker theo kế hoạch của công ty giao, đảm bảo chất lượng theo tiêu
chuẩn kỹ thuật.
+ Phân xưởng nghiền đóng bao: quản lý toàn bộ tài sản, lao động để phối
hợp với phòng điều hành trung tâm tổ chức vận hành hệ thống thiết bị từ khâu
vận chuyển Clinker, thạch cao, phụ gia tới thiết bị nghiền, vận chuyển xi măng
bột vào két chứa đồng, đóng bao xi măng đồng thời phối hợp với phòng phòng
kinh doanh để tổ chức xuất hàng ra bán.
- 4 phân xưởng phụ trợ:
Thực tập tốt nghiệp
+ Phân xưởng cơ khí: có chức năng gia công, chế tạo, sửa chữa phục hồi
các máy móc thiết bị thuộc lĩnh vực cơ khí nhằm đảm bảo các thiết bị hoạt động
ổn định, an toàn đạt hiệu quả cao nhất.
+ Phân xưởng điện tự động hoá: quản lý toàn bộ tài sản và tổ chức vận
hành, sửa chữa các thiết bị thuộc hệ thống cung cấp điện, hệ thống máy lạnh và
hệ thống đo lường điều khiển đảm bảo cung cấp điện cho các thiết bị hoạt động
đồng bộ, an toàn với năng suất chất lượng và hiệu quả cao.
+ Phân xưởng nước sửa chữa công trình: quản lý toàn bộ tài sản hệ thống
cấp nước phục vụ sản xuất kinh doanh và sinh hoạt của CBCNV trong nôi bộ
công ty. Tổ chức sửa chữa nhỏ vật kiến trúc trong công ty, sửa chữa lò nung
Clinker và thực hiện công tác vệ sinh công nghiệp mặt bằng toàn công ty.
+ Phòng điều hành trung tâm: quản lý tài sản lao động, phối hợp với các
đơn vị liên quan tổ chức vận hành cục bộ riêng lẻ hay đồng bộ các thiết bị máy
móc của từng công đoạn trong dây chuyền sản xuất chính.
- Tổng kho: quản lý, cấp phát, thu hồi vật tư, bảo quản thiết bị, phụ tùng,
nguyên vật liệu và các mặt hàng khác phục vụ cho SXKD của công ty.
- Chi nhánh Thái Bình: văn phòng đại diện tiêu thụ xi măng.
IV. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Công ty xi măng Hải Phòng thành lập vào ngày 25 tháng 12 năm 1899 trên
vùng ngã ba sông Cấm và kênh đào Hạ Lý Hải Phòng, do Pháp đầu tư xây dựng.
Dây chuyền sản xuất xi măng của công ty tồn tại từ thời đó. Dây chuyền này rất
cũ kỹ, lạc hậu, hàng năm chỉ được tu sửa chắp vá.
Bắt đầu từ năm 2006, khi nhà máy xi măng Hải Phòng mới đi vào hoạt
động, quy trình sản xuất thay đổi từ sản xuất xi măng theo phương pháp ướt
chuyển sang sản xuất xi măng theo phương pháp khô. Quy trình sản xuất xi
măng mới hiện đại cho sản lượng cao, chất lượng sản phẩm tốt đồng thời giảm
thiểu ô nhiễm môi trường. Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty được đầu tư hiện
đại. Trụ sở của công ty được xây dựng trên khu đất rộng khang trang tại Tràng
Thực tập tốt nghiệp
Kênh, Minh Đức, Thủy Nguyên. Các phòng ban được lắp đặt các trang thiết bị
hiện đại. Gồm có các phòng làm việc, phòng họp, hội nghị, phòng làm việc của
giám đốc và các phó giám đốc. Khu trụ sở làm việc chính có nhà ăn cho cán bộ
công nhân viên, cho khách đến liên hệ công tác, trạm y tế để thăm khám sức
khỏe cho cán bộ công nhân viên.
Dây chuyền sản xuất hiện đại, tiên tiến, hệ thống từ khâu khai thác đá đến
khi xi măng được xuất xưởng, đưa lên xe xuất bán. Tài sản cố định cũ dần được
thay thế bằng tài sản mới, phù hợp với xu hướng phát triển của công ty. TSCĐ
có xuất xứ từ những nước sản xuất xi măng tiên tiến trên thế giới như Đức, Đan
Mạch, Anh, Ytalia
V,Tổ chức lao động tiền lương.
Sau đây là bảng tổ chức lao động tiền lương tại công ty xi măng Hải
Phòng:
STT
Chứ
c
năng
Tổn
g số
Trình độ nhân viên Trình độ công nhân
Sa
u
đại
học
Đại
học
Cao
đẳng
Trun
g cấp
Bậ
c 7
Bậ
c 6
Bậ
c 5
Bậ
c 4
Bậ
c 3
Bậ
c 2
LĐ
phổ
thông
Tổng cộng 1205 2 28
5
31 87 66 24
5
25
7
12
8
39 10 55
Tổng số lao động trong công ty là 1205 người. Trong đó số lượng nhân
viên là 405 người, chiếm 33,61 % tổng số lao động. Số lượng công nhân là 800
người, chiếm 66,39 % tổng số lao động toàn công ty.
Nhân viên tập trung ở các phòng ban như phòng kế hoạch, phòng kế toán
thống kê tài chính, phòng tổ chức lao động, phòng vật tư, phòng kinh doanh
Nhân viên có trình độ sau đại học 2 người, chiếm 0,5 % tổng số nhân viên. Nhân
viên có trình độ đại học và cao đẳng là 316 người chiếm 78,02 % tổng số nhân
Thực tập tốt nghiệp
viên. Nhân viên có trình độ trung cấp là 87 người, chiếm 21,48 % tổng số nhân
viên. Như vậy là, nhân viên có trình độ cao trong doanh nghiệp chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng số nhân viên. Đây là tiền đề, là nguồn lực to lớn để tổ chức quản
lý doanh nghiệp tốt, hiệu quả.
Số lượng nhân viên tập trung ở các phân xưởng như xưởng mỏ, xưởng lò
nung, xưởng nghiền đóng bao, xưởng cơ khí Số lượng công nhân bậc 4, bậc 5,
bậc 6 chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tổng số công nhân bậc 4, bậc 5, bậc 6 là 630
người chiếm 78,75 % tổng số công nhân. Điều này chứng tỏ công ty có đội ngũ
công nhân có trình độ ổn định, tay nghề vững vàng, là đội ngũ kế cận thay thế
cho công nhân cũ sắp nghỉ hưu. Đội ngũ công nhân của công ty hàng năm được
đào tạo để nâng cao tay nghề, từ đó giúp tăng bậc thợ. Đây chính là tài sản vô
hình vô giá của công ty là một trong những nhân tố quan trọng đảm bảo cho
chất lượng sản phẩm của công ty. Từ đó tạo ra khả năng cạnh tranh của công ty
trước đối thủ cạnh tranh.
Về tiền lương được tính như sau: Tại mỗi phân xưởng ngày công lao động
của công nhân trực tiếp sản xuất được theo dõi bởi các tổ trưởng sản xuất của
các phân xưởng thông qua bảng chấm công. Cuối tháng kế toán phân xưởng
căn cứ vào bảng chấm công và đơn giá sản phẩm của phân xưởng mình, khối
lượng hoàn thành của phân xưởng để lập bảng thanh toán lương cho từng người ở
phân xưởng.
Bảng thanh toán tiền lương này được chuyển qua phòng tổ chức lao động-
tiền lương để duyệt sau đó kế toán phân xưởng gửi bảng chấm công và bảng
thanh toán tiền lương lên phòng kế toán tài chính của công ty. Kế toán các phần
hành liên quan căn cứ vào đó kiểm tra lại bảng thanh toán lương một lần nữa,
sau đó tổng hợp lại lập bảng thanh toán lương toàn công ty, lập bảng phân bổ
tiền lương và các khoản trích theo lương. Khi duyệt lương thì phòng tổ chức lao
đông tiền lương phải căn cứ vào:
Thực tập tốt nghiệp
- Đối với đơn vị hưởng lương sản phẩm phải có bảng thống kê khối
lương, chất lượng sản phẩm, công việc hoàn thành có xác nhận của phòng có
chức năng.
- Đối với các đơn vị hưởng lương theo thời gian phải có bảng chấm công
theo quy định nếu có làm thêm giờ thì phải có chứng từ được Giám đốc
duyệt yêu cầu.
- Đối với đơn vị hưởng lương khoán như sửa chữa lớn xây dựng cơ bản
phải có quyết định giao việc có biên bản khảo sát, biên bản kiểm
nghiệm khối lượng hoàn thành có quyết toán công trình hoặc phần việc
được giao.
Khi tính lương theo sản phẩm kế toán phải căn cứ vào khối lượng sản phẩm
hoàn thành và đơn giá theo chất lượng sản phẩm hoàn thành để tính lương.
VI. Quy trình công nghệ sản xuất của công ty:
Đá vôi được khai thác từ núi đá Tràng Kênh có kích thước 250 -> 300
mm chuyển tới xưởng mỏ đưa vào máy đập búa nghiền thành cỡ hạt 20 -> 25
mm, sau đó chuyển đến két chứa của cùng với đất sét và quặng sắt trộn với quỳ
khê nghiền nhỏ, điều chế ra bột liệu. Sản phẩm bột liệu thu hồi từ tổ hợp cyclone
và lọc tĩnh điện. Sau đó bột liệu được chuyển tới Silô đưa vào lò nung. Lò nung
có hình ống làm bằng tôn, dây chuyền chịu nhiệt được đặt nằm ngang theo một
độ chếch nhất định. Trong thân lò được xây một lớp gạch chịu lửa và các thiết bị
trao đổi nhiệt. Clinker thu được sau quá trình nung luyện đưa vào máy làm
nguội. Clinker được chuyển sang phân xưởng nghiền và đóng bao. Tại đây,
clinker trộn với thạch cao để nghiền ra OPC (hay còn gọi là xi măng gốc). Đồng
thời, các loại đá như đá đen, đá bazan, đá Đitomit được nghiền thành các phụ
gia. OPC và phụ gia được trộn theo tỷ lệ nhất định để sản xuất ra xi măng bột
PCB30, PCB40. XM bột được chuyển sang công đoạn sau đóng bao để sản xuất
ra xi măng bao PCB30, PCB40.
Quy trình sản xuất xi măng trên gọi là quy trình sản xuất theo phương
pháp khô.
Thực tập tốt nghiệp
Sau đây là quy trình công nghệ sản xuất của công ty Xi măng Hải Phòng:
Thực tập tốt nghiệp
Đá vôi Quặng sắt
Đất sét
Máy bừa
Máy búa
Bể chứa
Két chứa
Máy nghiền bột
Két chứa bột
Ủ
CLINKER
Lò nung
Clinker
Thạch
cao to
Clinker
Máy hấp
thạch cao
Thạch cao
nhỏ
OPC
Máy nghiền
XM
Silô chứa
bột
Máy đóng
bao
Kho sản
phẩm
Thực tập tốt nghiệp
VII.Tình hình sản xuất kinh doanh những năm gần đây
Sản phẩm tiêu thụ chính của công ty là xi măng và clinker, ngoài ra còn có
các mặt hàng đá xi măng đen- để sản xuất xi măng đen và đá liên doanh- dùng
trong công nghiệp xây dựng. Sản lượng xi măng và clinker tiêu thụ có xu hướng
giảm. Năm 2003 sản lượng xi măng và clinker tiêu thụ là 657.101,46 tấn, năm
2004 giảm còn 651.386,97 tấn. Đến năm 2005 giảm chỉ còn 422.374,08 tấn.
Nguyên nhân của sự giảm này là từ hai phía. Thứ nhất là, từ năm 2003, công ty
bắt đầu có kế hoạch thay đổi quy trình sản xuất cũ lạc hậu từ 100 năm nay bằng
quy trình sản xuất mới hiện đại. Quy trình cũ đã quá lạc hậu không đáp ứng
được nhu cầu sản xuất hiện tại, còn quy trình mới đang trong giai đoạn thử
nghiệm nên chưa vận hành hết công suất nhà mày mới.Điều này dẫn đến sản
lượng sản xuất có phần giảm sút. Nguyên nhân thứ hai là, sản lượng tiêu thụ
giảm, công ty phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường để cung
cấp hợp đồng tiêu thụ xi măng đồng thời công ty thanh lý hợp đồng khai thác đá
cho công ty Hùng Thắng.
Tổng doanh thu có xu hướng giảm nhưng đồng thời chi phí giảm nhanh
hơn nên tổng lợi nhuận tăng mạnh. Tổng lợi nhuận năm 2004 tăng 17,52% so
với năm 2003. Tổng lợi nhuận năm 2005 tăng 117,24 % so với năm 2004. Công
ty đã cắt giảm được bộ máy quản lý cồng kềnh, không cần thiết. Trong năm
2005 công ty đã cắt giảm số công nhân viên chức về hưởng chế độ 41 hơn 1000
người. Từ đó cũng làm cho tổng qũy lương giảm gần một nửa từ 3.508.800.000
năm 2004 còn 2.229.250.000 năm 2005.
Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên tăng lên từ 1.405.000
đ/tháng năm 2003 lên 1.600.000 đ/thángvào năm 2004, và đến năm 2005 thì tiền
lương bình quân của công nhân viên chức trong công ty là 1.850.000 đ/tháng.
Thu nhập bình quân tăng lên, mức sống của người lao động được đảm bảo. Thu
nhập là tiền lương, công nhân viên chức của công ty còn có chế độ bồi dưỡng là
hàng tháng được cấp sữa, chế độ ăn ca làm thêm giờ, bồi dưỡng độc hại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét