3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng hệ thống quản lý rủi ro tín dụng của các
ngân hàng thương mại Việt Nam 47
3.3.1. Mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng 48
3.3.1.1.Tất cả mục tiêu hoạt động của ngân hàng cần phải đo lường
được, đặc biệt là mức độ rủi ro từ hoạt động tín dụng 48
3.3.1.2.Chất lượng cao nhất của dư nợ tín dụng (nội và ngoại bảng)
là một thành phần quan trọng của “Mục tiêu quản lý rủi ro”
trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 49
3.3.2. Chiến lược quản lý rủi ro tín dụng 50
3.3.3. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng 52
3.3.4. Xây dựng cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro tín dụng có hiệu lực 56
3.3.4.1.Bộ phận quản lý tín dụng 58
3.3.4.2.Bộ phận kiểm soát nội bộ 61
3.4. Giám sát và quản lý rủi ro 62
3.4.1. Nhận biết rủi ro trong hoạt động tín dụng và xác định biện pháp
hạn chế rủi ro 62
3.4.2. Đo lường rủi ro 64
3.4.3. Giám sát và quản lý rủi ro trước cho vay 69
3.4.3.1.Sự quan trọng của công tác hoạch định kinh doanh và nghiên
cứu thị trường 69
3.4.3.2.Chức năng thẩm định tín dụng cần được tách biệt 72
3.4.3.3.Phê duyệt tín dụng tập trung 73
3.4.4. Quản lý và giám sát rủi ro tín dụng trong và sau cho vay 74
3.4.4.1.Kiểm tra và lưu trữ hồ sơ tín dụng 74
3.4.4.2.Kiểm tra sau cho vay, một công tác cần tuân thủ tuyệt đối 75
3.4.4.3.Đo lường mức độ tập trung/phân tán trong danh mục các
khoản cấp tín dụng
3.4.5. Phòng ngừa từ xa 76
3.5. Đào tạo nguồn nhân lực quản lý rủi ro tín dụng trong xu thế hộp nhập 77
PHẦN KẾT LUẬN
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính thiết thực của đề tài
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại là một trong những hoạt
động truyền thống và quan trọng, hoạt động này ngoài việc mang lại lợi nhuận
từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động, các chi phí hoạt
động…. thì cũng là một trong những nhân tố góp phần để thu hút khách hàng
sử dụng dịch vụ của ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động này cũng chứa đựng rất
nhiều rủi ro, có thể gây tổn thất lớn cho ngân hàng nếu xảy ra việc khách hàng
không trả nợ cho ngân hàng. Chỉ cần một khách hàng mất khả năng trả nợ thì
bao nhiêu công sức, lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị xóa bỏ một cách nhanh
chóng, nếu đây là khoản vay lớn thì nó còn có thể ảnh hưởng xấu đến tình hình
tài chính và danh tiếng của ngân hàng.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang trong quá trình phát triển mạnh
về cả số lượng và quy mô hoạt động, sức cạnh tranh trên thị trường tài chính
Việt Nam giữa các ngân hàng ngày càng mạnh mẽ tạo ra áp lực rất lớn cho các
ngân hàng thương mại trong quá trình kinh doanh. Có những ngân hàng
thương mại đã tận dụng được cơ hội là người đi trước để khẳng định thương
hiệu, chiếm thị phần lớn và đang từng bước hoàn thiện tổ chức, khả năng kinh
doanh, phương thức quản lý rủi ro…., ví dụ: Ngân hàng Ngoại thương Việt
nam, Ngân hàng TMCP Á Châu (thành lập năm 1993), Ngân hàng TMCP Sài
gòn Thương tín (thành lập năm 1991), Ngân hàng TMCP Đông Á (thành lập
năm 1992)… Trong khi đó, không ít các ngân hàng chỉ mới trong giai đoạn bắt
đầu phát triển với quy mô hoạt động được mở rộng nhanh chóng để giành thị
phần và khẳng định tên tuổi, ví dụ: Ngân hàng TMCP Nam Á, Ngân hàng
TMCP Sài gòn, Ngân hàng TMCP Kỹ Thương, Ngân hàng TMCP Quốc Tế
1
Việt Nam, Ngân hàng TMCP Phương Đông…. Đối với tất cả các ngân hàng dù
là đang trong hoàn thiện tổ chức hay đang trong giai đoạn tìm cách mở rộng
mạnh thị phần thì quản lý rủi ro là một công tác cực kỳ quan trọng và quản lý
rủi ro tín dụng là một thành phần cần được lưu ý nhất vì hoạt động tín dụng
hàm chứa rất nhiều rủi ro, có thể gây ra tổn thất lớn cho Ngân hàng về tài chính
và uy tín. Cũng do quản lý không tốt rủi ro trong hoạt động tín dụng mà một số
ngân hàng dù có bề dày hoạt động đã lâu nhưng vẫn gặp khó khăn trong hoạt
động kinh doanh và phải xử lý rất nhiều những khoản nợ xấu, ví dụ: Ngân
hàng TMCP Phương Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng
TMCP Gia Định, Ngân hàng TMCP Tân Việt …. Chính vì vậy, việc xây dựng
một hệ thống quản lý tín dụng hiệu quả cho ngân hàng thương mại là một công
tác rất thiết thực nhằm giúp cho các ngân hàng có thể có khả năng phòng
chống rủi ro trong hoạt động tín dụng mà nguyên nhân của nó ngày càng trở
nên đa dạng và khó lường.
Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ còn gia
tăng mạnh khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới với
những chính sách thoáng hơn để đón các quyết định đầu tư tại Việt Nam của
các tổ chức tài chính nước ngoài vốn có tiềm lực tài chính, thương hiệu mạnh
và kinh nghiệm quản lý và kinh doanh hơn hẳn các ngân hàng trong nước.
Chính yếu tố cạnh tranh sẽ vô tình đẩy các ngân hàng thương mại vào việc hạ
bớt chuẩn về yêu cầu an toàn đối với khách hàng của mình nhằm duy trì thị
phần, do vậy làm tăng mức độ rủi ro cho ngân hàng. Chính vì vậy, hệ thống
quản lý rủi ro của các ngân hàng thương cũng có những điều chỉnh tích cực
nhằm ngăn chặn và khai khác tiềm năng lợi nhuận khai thác từ cơ hội hội nhập
quốc tế.
Xuất phát từ các yêu cầu trên, tôi chọn đề tài “NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CỦA HỆ THỐNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM”, qua đó hy vọng những kiến
2
thức thực tế của mình trong quá trình kinh doanh trực tiếp tại ngân hàng và
những kiến thức nghiên cứu được sẽ có ích khi đưa ra được một mô hình quản
lý tín dụng an toàn, hiệu quả và phù hợp các ngân hàng thương mại Việt Nam
trong giai đoạn cần phải phát triển mạnh mẽ để hội nhập với các nước trên thế
giới.
2.
Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tập trung vào các nội dung:
- Nghiên cứu một cách khoa học những lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng,
rủi ro ngân hàng, rủi ro tín dụng, hệ thống quản lý rủi ro tín dụng, tầm quan
trọng và sự cần thiết xây dựng một hệ thống quản lý rủi ro tín dụng an toàn,
hiệu quả, phù hợp với tình hình hiện tại và các biến động của tương lai.
- Tìm hiểu thực trạng về mức độ, phương pháp quản lý rủi ro tín dụng của các
ngân hàng thương mại Việt Nam; mức độ phù hợp và an toàn của các hệ thống
quản lý rủi ro tín dụng này; thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai thực
hiện và khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh mới.
- Đưa ra các đề xuất, giải pháp để khắc phục mặt hạn chế, khó khăn, không
hiệu quả của các hệ thống quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam nhằm nâng cao tính an toàn, hiệu quả.
3.
Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện có sử dụng phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp so sánh phân tích và phương pháp thống kê để xác định bản chất
của vấn đề cần nghiên cứu từ đó có thể đưa ra các biện pháp, đề xuất điều
chỉnh và xây dựng.
3
Thực trạng của
nền kinh tế, các
ngân hàng TM
Việt Nam
Nghiên cứu
kinh nghiệm
một số ngân
nước ngoài
Cơ sở lý thuyết
Biện Pháp nâng
cao Hệ thống
Quản Lý Rủi Ro
Tín Dụng
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là hiện trạng hoạt động tín
dụng và quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam,
những bài học kinh nghiệm của các Ngân hàng thương mại của các nước tiên
tiến và các đề xuất nhằm xây dựng một hệ thống quản lý tín dụng an toàn, hiệu
quả và phù hợp hơn.
5.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Luận văn dựa trên thực trạng của các hệ thống quản lý rủi ro tín dụng của
các ngân hàng thương mại Việt Nam từ đó đi sâu vào phân tích bản chất của
những khía cạnh, vấn đề còn tồn tại, hạn chế. Dựa trên các phân tích thực trạng
cộng với các nghiên cứu, lý luận, tư duy của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia
ngân hàng cũng như kinh nghiệm bản thân, đồng nghiệp trong quá trình tham
gia hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng để có thể đưa ra các ý kiến, đề xuất xác
đáng, phù hợp với thực tế, đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực kinh
doanh cũng như chuẩn mực của xã hội.
4
Qua việc nghiên cứu về hệ thống quản lý tín dụng của ngân hàng thương
mại, học viên mong muốn những suy nghĩ, đề xuất và những gì mình học hỏi
được sẽ giúp ích cho công việc thực tế, từ đó góp phần nâng cao mức độ hiệu
quả và an toàn của tổ chức mà mình đang phục vụ, và xa hơn nữa là mong đề
tài nghiên cứu sẽ được áp dụng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
Việt Nam.
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn nhiều hạn chế, học viên không
tránh khỏi những thiết sót, rất mong nhận được sự góp ý kiến của Quý Thầy Cô
và những người quan tâm đến lĩnh vực ngân hàng để đề tài nghiên cứu có thể
áp dụng vào thực tế của các ngân hàng cũng như học viên có thể điều chỉnh,
mở rộng kiến thức của mình trong công tác nghiên cứu sau này.
5
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN QUẢN LÝ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại:
Hoạt động ngân hàng là một hoạt động ra đời từ rất lâu trên thế giới và đang có
mặt trong hầu hết các hoạt động của nền kinh tế xã hội. Theo Luật các tổ chức tín
dụng số 02/1997/QH10 định nghĩa thì “Ngân hàng là loại hình tổ chức được thực
hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên
quan”. Ngân hàng là một loại định chế tài chính trung gian mà qua đó các nguồn
tiền nhàn rỗi trong xã hội được tập trung lại và chính các nguồn vốn này sẽ được
sử dụng nhằm hỗ trợ tài chính cho các thành phần kinh tế trong xã hội với mức lãi
suất cao hơn. Ngoài ra, thông qua hoạt động của mình các ngân hàng còn cung cấp
các dịch vụ, sản phẩm ngân hàng đa dạng phù hợp nhu cầu của các thành phần
kinh tế trong xã hội, từ đó tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Nói một cách ngắn gọn
thì:
- Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp;
- Ngân hàng thương mại hoạt động vì lợi nhuận;
- Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt:
Hàng hóa quan trọng của ngân hàng là tiền tệ do Nhà nước sử
dụng để quản lý nền kinh tế;
Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn;
Chịu sự chi phối mạnh của chính sách của Nhà nước;
Ngân hàng thương mại là một trung gian tín dụng.
1.1.2. Một số hoạt động kinh doanh chính của Ngân hàng thương mại:
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn:
Ngân hàng hoạt động với vai trò là người đứng ra tập trung, huy động các
nguồn vốn trong toàn xã hội sau đó sử dụng để cung cấp tín dụng cho các
đối tượng khách hàng có nhu cầu để sản xuất kinh doanh, tiêu dùng. Đây là
hoạt động rất quan trọng của ngân hàng thương mại vì là hoạt động tập
trung hàng hoá kinh doanh cho mình và đối với xã hội thì hoạt động này sẽ
giúp tập trung các nguồn lực phân tán trong xã hội thành các nguồn lực
mạnh mẽ phục vụ cho nhu cầu phát triển của quốc gia.
1
1.1.2.2 Hoạt động cho vay:
Đây là hoạt động mang lại nguồn hỗ trợ tài chính cho các thành phần trong
nền kinh tế. Nhờ hoạt động này mà các khách hàng của ngân hàng có thể
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình, chuyển các ý tưởng kinh doanh
thành hiện thực, mở rộng quy mô kinh doanh cùng với sự gia tăng tài sản
cho quốc gia.
o Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: cho vay ngắn hạn phục vụ các
nhu cầu dự trữ hàng tồn kho, tài trợ cho các khoản phải thu…, cho vay
trung dài hạn để tài trợ cho việc mua sắm máy móc - thiết bị, xây nhà
xưởng …
o Cho vay tiêu dùng: cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ
cho nhu cầu chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính
quan trọng để xây dựng, sửa chữa và mua nhà ở, mua đồ dùng gia đình
và phương tiện đi lại…bên cạnh đó những nhu cầu về giáo dục, y tế và
du lịch… cũng được các ngân hàng tài trợ.
Trước đây, các ngân hàng thường không quan tâm nhiều đến hoạt động
cung cấp sản phẩm cho vay tiêu dùng vì quan niệm đây hoạt động mang
tính nhỏ lẻ không mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên,
hiện nay các ngân hàng đang trau chuốt sản phẩm cho vay tiêu dùng của
mình để các sản phẩm này là các sản phẩm phục vụ số đông, mang lại
lợi nhuận cao cho ngân hàng với mức độ phân tán rủi ro dễ chấp nhận.
Các sản phẩm cho vay tiêu dùng được quản lý, trình bày một cách
chuyên nghiệp sẽ mang lại một hình ảnh đẹp cho ngân hàng.
Thông qua hoạt động cấp tín dụng, ngân hàng thương mại có thể thu được
lợi nhuận từ phần chênh lệch giữa (lãi suất, phí cho vay) với (lãi suất huy
động cộng các chi phí khác). Tuy nhiên, hoạt động cấp tín dụng cũng là
một trong những hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro nhất cho ngân hàng khi
mà ngân hàng phải giao quyền sử dụng hàng hoá đặc biệt của mình (là tiền)
cho khách hàng sử dụng. Mặc dù trong hoạt động cấp tín dụng các ngân
hàng thương mại đều có các quy định về thẩm định và đánh giá khách hàng
có nhu cầu tín dụng, rủi ro vẫn xảy ra thường xuyên do các đánh giá sai lầm
của ngân hàng về khách hàng hoặc do các biến động của nền kinh tế hoặc
do cán bộ ngân hàng có tiêu cực trong hoạt động cấp tín dụng…
Từ nguyên tắc chung của việc quản lý tài sản có, trong hoạt động tín dụng,
để có thể thu được lợi nhuận cao thì các ngân hàng cần cung cấp các khoản
tín dụng có mức lãi suất có thể bù đắp chi phí vốn và các chi phí khác và
ngoài ra, các khoản cấp tín dụng phải được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn.
2
1.1.2.3 Hoạt động thanh toán quốc tế
Khách hàng khi tham gia quá trình mua bán với các đối tác nước ngoài
thông thường sẽ sử dụng các dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng như
các bảo lãnh của ngân hàng để có thể mua hàng trả chậm từ bạn hàng nước
ngoài, ngân hàng cũng tham gia rất nhiều vào các hoạt động thanh toán của
các các doanh nghiệp nhằm mang lại các tiện ích an toàn thuận tiện cho
khách hàng của mình như các hình thức thanh toán DP, DA, LC…, thông
qua việc tham gia này, các ngân hàng cũng thu được các loại phí từ khách
hàng và nâng cao uy tín của mình đối với các đối tác nước ngoài.
1.1.2.4 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ, kinh doanh nguồn vốn
Đây là hoạt động mua bán các loại ngoại tệ nhằm phục vụ cho mục tiêu thu
lợi nhuận từ sự chênh lệch, biến động giá cả của các loại ngoại tệ và mục
tiêu phục vụ cho nhu cầu mua bán các loại ngoại tệ của khách hàng để
thanh toán nước ngoài hoặc chuyển đổi ngoại tệ thu được thành nội tệ để
mua nguyên vật liệu trong nước.
Hoạt động kinh doanh chênh lệch lãi suất của các nguồn vốn là các hoạt
động ngày càng được các ngân hàng quan tâm vì nó mang lại lợi nhuận rất
lớn nếu ngân hàng có biện pháp, nguyên tắc an toàn chuẩn mực trong việc
quản lý các loại gapping trong loại hoạt động kinh doanh này.
1.1.2.5 Hoạt động bảo lãnh
Đây là một hình thức cấp tín dụng cho khách hàng được thực hiện thông
qua các cam kết của ngân hàng bằng văn bản về việc sẵn sàng thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi các khách hàng này
không thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết với các đối tác.
Hoạt động bảo lãnh được cấp dưới các dạng:
o Bảo lãnh đấu thầu;
o Bảo lãnh thực hiện hợp đồng;
o Bảo lãnh bảo hành;
o Bảo lãnh nhận hàng;
o Bảo lãnh thanh toán;
o Tín dụng thư…
Hiện nay, hầu hết các ngân hàng thực hiện xem xét việc cung cấp các bảo
lãnh cho khách hàng tương tự như xem xét một khoản cho vay và các
3
khoản bảo lãnh này cũng được tính vào tổng hạn mức tín dụng rủi ro của
khách hàng khi giao dịch với ngân hàng.
1.1.2.6 Hoạt động chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá:
Là việc ngân hàng mua lại thương phiếu và giấy tờ có giá của khách hàng,
đây là thương phiếu còn trong thời gian hiệu lực. Khách hàng sẽ nhận được
số tiền chiết khấu sau khi ngân hàng đã trừ lãi suất chiết khấu (có thể có phí
chiết khấu).
1.1.2.7 Hoạt động cung cấp dịch vụ
Trong giai đoạn trước đây, lợi nhuận từ các hoạt động cấp tín dụng của các
ngân hàng thường chiếm khoản 2/3 tổng lợi nhuận của ngân hàng. Tuy
nhiên, trong thời gian gần tỷ lệ này đã được thay đổi theo xu hướng giảm tỷ
trọng của lợi nhuận từ hoạt động cấp tín dụng và gia tăng tỷ trọng lợi
nhuận từ các hoạt động dịch vụ trong tổng lợi nhuận của ngân hàng. Mặc
dù hoạt động cấp tín dụng là hoạt động truyền thống của các ngân hàng
thương mại nhưng do hoạt động này chứa đựng nhiều rủi ro cũng như các
hoạt động phòng chống rủi ro tín dụng phức tạp, tốn kém nên các ngân
hàng thương mại đang có xu hướng đưa ra ngày càng nhiều các sản phẩm
dịch vụ ngân hàng khác nhằm tối đa hoá khả năng thu phí từ khách hàng.
Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể kể đến bao gồm:
o Thẻ ATM;
o Dịch vụ kiều hối;
o Dịch vụ chuyển tiền;
o Dịch vụ thanh toán quốc tế;
o Dịch vụ quản lý ngận quỹ;
o Dịch vụ chi hộ lương;
o Dịch vụ tư vấn tài chính;
o Dịch vụ ủy thác;
o Quản lý vật có giá và cho thuê tủ sắt;
o Dịch vụ môi giới nhà đất…
Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đang ngày được càng hoàn thiện với những
đặc tính thuận tiện, hữu ích, trình bày đẹp cho khách hàng dễ sử dụng, dễ chọn
lựa…
Ngoài chức năng tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ của
ngân hàng nếu được quản lý và quảng bá tốt sẽ là nền tảng tốt nhất để nâng cao
thương hiệu của ngân hàng.
4
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét