Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

511 Một số giải pháp nhằm phát triển công ty cổ phần dịch vụ Bưu Chính Viễn Thông Sài Gòn đến năm 2015 

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang mở ra cho Việt Nam nói chung và các
doanh nghiệp viễn thông Việt Nam nói riêng nhiều cơ hội và thách thức. Thị trường
mở cửa và đặc biệt là yếu tố độc quyền bị bãi bỏ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
mới thâm nhập thị trường. Đồng thời, càng nhiều doanh nghiệp có mặ
t trên thị
trường thì cạnh tranh càng gay gắt. Đặt chân vào một thị trường trở nên dễ dàng
hơn nhưng làm sao để trường tồn mới là điều căn bản và khó khăn.
Trong bối cảnh thị trường luôn không ngừng vận động và biến đổi, áp lực cạnh
tranh ngày càng khắc nghiệt, làm sao để tồn tại và khẳng định vị thế của mình trên
thị trường là mục tiêu hàng đầu của Công ty Cổ
phần Dịch vụ Bưu chính Viễn
thông Sài Gòn (SPT).
Để đạt được mục tiêu này, SPT cần phải xây dựng cho mình một chiến lược
dài hạn trên cơ sở phát huy điểm mạnh, năng lực lõi, khắc phục điểm yếu. Thật vậy,
một chiến lược lâu dài và đúng đắn có thể giúp một doanh nghiệp không những
thích nghi được với những biến động của thị trường mà còn chủ
động hạn chế
những biến động xấu có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chiến lược
hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt và khai thác tốt cơ hội, sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực trong quá trình phát triển, tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường để
nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh.
Xuất phát từ yêu cầu thiết thực trên, thông qua đề tài nghiên c
ứu này, người
viết mong muốn được đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần phát triển Công ty
Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn, cụ thể trong lĩnh vực viễn thông.
Trên cơ sở nghiên cứu và đánh giá toàn diện các yếu tố của môi trường bên trong và
bên ngoài của công ty, người viết hy vọng rằng những giải pháp đề ra tại đây mang
tính thực tiễn và sẽ được xem xét ứng d
ụng tại Công ty SPT.
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu các yếu tố môi trường bên trong và môi trường bên ngoài
(bao gồm môi trường vi mô và vĩ mô) có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của SPT.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số công ty viễn thông và nhà làm luật
nước ngoài.
- Từ những nghiên cứu trên, đề xuất giải pháp góp phần phát triển Công ty
Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn trong lĩnh vực viễn thông.
3. Phương pháp nghiên cứ
u:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn, đồng thời dựa trên quy luật phát triển tất yếu khách quan của một số vấn
đề kinh tế xã hội.


1
Chương 1. Giới thiệu về thị trường viễn thông Việt Nam

1.1. Đặc điểm ngành viễn thông:
1.1.1. Đặc điểm dịch vụ viễn thông:
Theo Pháp lệnh BCVT Việt Nam, dịch vụ viễn thông bao gồm:
- Dịch vụ cơ bản: là dịch vụ truyền đưa tức thời dịch vụ viễn thông qua mạng
viễn thông
1
hoặc Internet mà không làm thay đổi loại hình hoặc nội dung thông tin;
- Dịch vụ giá trị gia tăng: là dịch vụ làm tăng thêm giá trị thông tin của người
sử dụng dịch vụ bằng cách hoàn thiện loại hình, nội dung thông tin hoặc cung cấp
khả năng lưu trữ, khôi phục thông tin đó trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc
Internet;
- Dịch vụ kết nối Internet: là dịch vụ cung cấp cho các cơ
quan, tổ chức, doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet quốc tế.
- Dịch vụ truy nhập Internet: là dịch vụ cung cấp cho người sử dụng khả năng
truy nhập Internet;
- Dịch vụ ứng dụng Internet trong bưu chính, viễn thông: là dịch vụ sử dụng
Internet để cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông cho người sử dụng. Dị
ch vụ ứng
dụng Internet trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác phải tuân theo các quy định
pháp luật về bưu chính, viễn thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Bên cạnh những đặc điểm cố hữu của sản phẩm dịch vụ, dịch vụ viễn thông
còn có những đặc điểm riêng biệt, ảnh hưởng đến quy trình sản xuất kinh doanh
dịch vụ, chẳng hạn:
- Thị tr
ường viễn thông là thị trường độc quyền tự nhiên: Cơ cấu thị trường
viễn thông theo chiều dọc được chia thành (1) Thiết bị; (2) Dịch vụ mạng; (3) Dịch
vụ cho người dùng cuối. Trong đó, thị trường (2) và (3) thường tích hợp với nhau.
Xuất phát từ các đặc thù như lợi thế về quy mô (economies of scale), lợi thế về mục
đích (economies of scope), sự phát triển nhanh chóng của công nghệ nên thị trường
(2) và (3) đượ
c xem là thị trường độc quyền tự nhiên. Đây là rào cản đối với các

1
Định nghĩa
2
doanh nghiệp muốn gia nhập thị trường. Nói cách khác, cơ sở hạ tầng là “thắt cổ
chai” hạn chế sự tham gia và phát triển của các doanh nghiệp mới.
- Quá trình sản xuất không tách rời khỏi quá trình tiêu thụ: Quá trình sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm hữu hình thường diễn ra theo trình tự sản xuất – phân phối –
tiêu dùng. Tuy nhiên, đối với ngành dịch vụ, sản xuất và tiêu dùng xảy ra đồng thời.
Do đặc điể
m này, yếu tố chất lượng rất quan trọng và phải được quan tâm hàng đầu
vì bất kỳ sai sót trong quá trình sản xuất sẽ ảnh hưởng ngay và trực tiếp đến khách
hàng.
- Nhu cầu dịch vụ chịu ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ, khu vực: Thông thường,
nhu cầu thông tin liên lạc tăng đột biến vào mùa lễ, tết. Nếu nhà cung cấp không có
kế hoạch phân bổ nguồn lực như nă
ng lực mạng, nhân lực kịp thời thì sẽ dễ dẫn
đến sự cố. Xét yếu tố khu vực, nhu cầu dịch vụ viễn thông tập trung nhiều nhất ở
các thành phố lớn. Điều này ảnh hưởng đến chiến lược đầu tư, phân phối của doanh
nghiệp viễn thông.
1.1.2. Đặc điểm doanh nghiệp viễn thông:
Doanh nghiệp viễn thông Việt Nam được chia thành hai loại:
-
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng: Sản phẩm của doanh nghiệp này là
dịch vụ cho thuê những yếu tố thuộc mạng viễn thông như đường truyền, cổng kết
nối , khách hàng là các công ty trong ngành hoặc ngoài ngành có nhu cầu. Theo
quy định hiện hành của Nhà nước, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng phải là
doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp mà vốn góp của Nhà nước chiếm trên
50% mới được xem xét cấp giấ
y phép thiết lập hạ tầng mạng và cung cấp dịch vụ
mạng.
- Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông: Sản phẩm của doanh nghiệp này
là các dịch vụ viễn thông. Các quy định đối với những doanh nghiệp này được nới
lỏng hơn doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
này diễn ra gay gắt hơn.
3
1.2. Vai trò của ngành viễn thông đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nước:
1.2.1. Đóng góp vào ngân sách quốc gia:
Mỗi năm, nhất là những năm gần đây, ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam
đã đóng góp đáng kể vào ngân sách Nhà nước, khoảng từ 3.000 tỷ đồng đến 5.000
tỷ đồng (năm 2004 là 4.900 tỷ và năm 2005 là 5.000 tỷ), đứng thứ 3 cả nước sau
ngành dầu khí và điện l
ực. Tỷ lệ đóng góp trong GDP cũng tăng một cách khả quan
từ 1,9% năm 2001 lên 2,3% năm 2002 và hơn 4% năm 2005.
1.2.2. Phục vụ phát triển kinh tế - xã hội:
Thông tin liên lạc chính là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của các
doanh nghiệp và là nhu cầu không thể thiếu của con người trong thời đại ngày nay.
Với đặc điểm truyền đạt thông tin một cách nhanh chóng, an toàn, tiện lợi, bất kể
thời gian, dị
ch vụ viễn thông giúp nâng cao hiệu quả giao dịch giữa các đối tác bất
kể khoảng cách địa lý. Chính vì tầm quan trọng của dịch vụ viễn thông, các chỉ số
về hạ tầng viễn thông, về khả năng tiếp cận dịch vụ viễn thông của một quốc gia
được xem là một trong những yếu tố để đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia
đó.
Đối với xã h
ội, dịch vụ viễn thông vừa thỏa mãn nhu cầu thông tin liên lạc -
một nhu cầu cố hữu - của con người, vừa góp phần nâng cao trình độ dân trí. Đặc
biệt, dịch vụ truy cập internet đã đem một luồng ánh sáng mới cho văn minh nhân
loại vì nó cho phép mọi người tiếp cận một kho tàng thông tin và kiến thức khổng lồ
chỉ với một chiếc máy tính. Dịch vụ viễn thông cũng cung cấp cho xã hội mộ
t kênh
giải trí phong phú với nhiều loại hình như trò chơi trực tuyến, xem phim và nghe
nhạc trực tuyến, “game show” v.v. Cuối cùng, một mô hình quản lý hành chánh
công và kinh doanh thông qua môi trường dịch vụ viễn thông - đã rất phổ biến ở các
nước phát triển - đã và đang được ứng dụng tại Việt Nam, đó là chính phủ điện tử
(E-Government) và thuơng mại điện tử (E-Commerce). Chính phủ điện tử là giải
pháp h
ữu hiệu để nâng cao hiệu quả của hệ thống hành chánh công, tiết kiệm thời
gian giao dịch, giảm tiêu cực trong quá trình cấp phép v.v Thương mại điện tử giúp
4
doanh nghiệp có thêm một kênh phân phối và quảng bá thương hiệu, nhanh chóng
tiếp cận khách hàng trong nước và quốc tế v.v.
1.2.3. Góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, phòng chống thiên tai, cứu nạn:
Ngay từ khi mới thành lập, ngành Bưu chính Viễn thông đã đóng vai trò quan
trọng trong các cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam bảo vệ độc lập và chủ
quyền của đất nước. Nhiệm vụ góp phần đảm bảo an ninh quốc gia tiếp tụ
c duy trì
cho đến hiện nay khi đất nước đã bước sang thời bình. Việc phủ sóng đến các vùng
biên giới, hải đảo luôn được Nhà nước quan tâm, đóng góp tích cực vào sự nghiệp
bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia, nhanh chóng phát hiện và ngăn ngừa tội
phạm, góp phần gìn giữ trật tự an toàn xã hội.
Bên cạnh đó, hoạt động phòng chống thiên tai, cứu nạn rất cần hạ tầng viễn
thông. Hiện nay, Công ty
Điện tử Viễn thông Hàng hải (Vishipel) đang có mạng
lưới chuyên phục vụ hoạt động này.
1.2.4. Phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc vùng sâu, vùng xa, nơi có điều kiện
kinh tế khó khăn:
Cách đây 6 năm, mô hình Bưu điện Văn hoá xã (BĐVHX) ra đời - mô hình kết
hợp giữa kinh doanh và phát triển văn hoá tại vùng nông thôn - mở ra triển vọng
đưa nhiều dịch vụ bưu chính viễn thông, Internet xuống cộng
đồng, góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn, miền núi, hải đảo.
Từ khi có các điểm BĐVHX, khoảng cách bình quân tới các điểm giao dịch
bưu điện của người nông dân đã giảm từ 8 – 10km xuống còn 1,6 km, tạo điều kiện
thuận lợi để bà con sử dụng dịch vụ viễn thông, nâng cao chất lượng cuộc sống và
mở mang kiến thức.
Năm 2004, d
ự án “Đưa Internet về các vùng nông thôn” đã được VNPT triển
khai tại các điểm BĐVHX. Sau 1 năm VNPT triển khai giai đoạn I, với tổng kinh
phí gần 28 tỷ đồng, đã có 2.000 điểm BĐVHX có dịch vụ Internet với 2.200 máy
tính nối mạng, trong đó, 1.800 điểm sử dụng hình thức Internet quay số trực tiếp,
200 điểm sử dụng đường truyền tốc độ cao ADSL.
Tháng 5/2005, Thủ tướng Chính phủ
đã phê duyệt Chương trình cung cấp dịch
vụ viễn thông công ích trên phạm vi toàn quốc từ nay đến năm 2010. Chương trình
5
cung cấp dịch vụ viễn thông công ích này nhằm đẩy nhanh việc phổ cập dịch vụ
viễn thông và Internet đến mọi người dân trên cả nước, trong đó tập trung phát triển
phổ cập dịch vụ cho các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế xã
hội khó khăn. Theo đó, đến năm 2010, chương trình sẽ đảm bảo 100% số xã có
điểm truy nhập dịch vụ điện thoại công cộng và có 70% số
xã trên toàn quốc có
điểm truy nhập dịch vụ Internet công cộng. Các dịch vụ viễn thông phổ cập bao
gồm: dịch vụ điện thoại tiêu chuẩn; dịch vụ truy nhập Internet theo tiêu chuẩn. Dịch
vụ viễn thông bắt buộc bao gồm: Dịch vụ liên lạc khẩn cấp như y tế, an ninh - trật
tự xã hội, cứu hoả; Dịch vụ viễn thông phục vụ tìm kiếm, cứu nạ
n, phòng chống
thiên tai theo quy định của cấp có thẩm quyền; Dịch vụ trợ giúp tra cứu số điện
thoại cố định; Các dịch vụ viễn thông phục vụ các hoạt động khẩn cấp của Nhà
nước theo quy định của cấp có thẩm quyền. Đến năm 2010, mật độ điện thoại tại
các vùng được cung cấp dịch vụ viễn thông công ích cũng sẽ phải
đạt trên 5
máy/100 dân, riêng các dịch vụ viễn thông bắt buộc (điện thoại khẩn cấp như y tế,
an ninh – trật tự xã hội, cứu hoả; phục vụ tìm kiếm, cứu nạn, phòng chống thiên tai
theo quy định của cấp có thẩm quyền ) được hỗ trợ trên phạm vi toàn quốc. Nguồn
kinh phí thực hiện chương trình này ước tính khoảng 5.200 tỷ đồng. Trong đó, kinh
phí từ Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Vi
ệt Nam là 5.100 tỷ đồng (do các doanh
nghiệp viễn thông đóng góp), còn lại là các nguồn vốn khác.

1.3. Quá trình phát triển ngành viễn thông Việt Nam:
1.3.1. Độc quyền:
Trước năm 1945, Bưu điện Việt Nam nằm trong tay thực dân Pháp, tập trung
chủ yếu ở các thành phố lớn, thị xã để phục vụ chính sách xâm lược và khai thác
thuộc địa, bảo vệ chính quyền thực dân, đồng thời để đàn áp phong trào cách mạng
của nhân dân ta.
Năm 1945, Cách mạng Tháng tám thành công, toàn bộ hệ thống tổ chức Bưu
điệ
n của chế độ cũ thuộc về chính quyền cách mạng. Nhiệm vụ của ngành Bưu điện
thời kỳ này là phục vụ sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước để hoàn thành hai nhiệm
vụ chiến lược là kháng chiến và kiến quốc.
6
Đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, theo Nghị định của Chính phủ số 480/TTg
ngày 8/3/1955, Tổng cục Bưu điện Việt Nam thuộc Bộ Giao thông Bưu điện ra đời
trên cơ sở đổi tên Nha Bưu điện-Vô tuyến điện Việt Nam. Từ đây, hoạt động của
Ngành từ quản lý hành chính sự nghiệp bắt đầu chuyển sang hoạt động có kinh
doanh.
Để tạ
o điều kiện thuận lợi cho ngành Bưu điện hoàn thành nhiệm vụ của mình,
góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, ngày 13/5/1961 Hội
đồng Chính phủ ra Quyết định số 63/CP tách Tổng cục Bưu điện ra khỏi Bộ Giao
thông và Bưu điện, đặt thành cơ quan trực thuộc Chính phủ.
Năm 1976, Tổng cục Bưu điện đ
ã chính thức tham gia 2 tổ chức quốc tế là:
Liên minh Bưu chính thế giới (UPU) và Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) và
tăng cường mở rộng quan hệ quốc tế với nhiều nước trên thế giới.
Ngày 15/8/1987, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 121-HĐBT ban hành
Điều lệ Bưu chính và Viễn thông, xác định: “Mạng lưới bưu chính và viễn thông
quốc gia là mạng lưới thông tin liên lạc tập trung thống nhất trong c
ả nước, do Nhà
nước độc quyền tổ chức và giao cho ngành Bưu điện quản lý, khai thác để phục vụ
nhu cầu truyền tin của các cơ quan Đảng, Nhà nước các cấp, các lực lượng vũ trang,
các tổ chức kinh tế, xã hội và nhân dân theo phương thức kinh doanh xã hội chủ
nghĩa và chế độ hạch toán kinh tế.”
Ngày 7/4/1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 115/HĐBT chuyển Tổng
cụ
c Bưu điện thành Tổng Công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam, thuộc Bộ
Giao thông vận tải và Bưu điện. Tuy nhiên, sau hai năm hoạt động theo mô hình tổ
chức mới đã xuất hiện nhiều bất cập trong công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực
bưu chính-viễn thông và sản xuất kinh doanh. Để tháo gỡ những vướng mắc trong
cơ cấu tổ chức, ngày 26/10/1992, Chính phủ ra Nghị định số 03/CP v
ề việc thành
lập Tổng cục Bưu điện là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có chức năng quản lý nhà
nước về Bưu chính Viễn thông, kỹ thuật truyền dẫn tín hiệu Phát thanh Truyền hình
và công nghiệp Bưu điện trong cả nước.
Để thay đổi cơ chế sao cho phù hợp hơn với chức năng sản xuất kinh doanh,
công tác quản lý Nhà nước từng bước tách ra khỏi công tác quản lý đ
iều hành sản
7
xuất kinh doanh. Ngày 7/5/1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 91/TTg
chuyển Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam thành tập đoàn kinh doanh
của Nhà nước.
Như vậy, cho đến thời điểm này, Việt Nam chỉ có một tổ chức cung cấp dịch
vụ viễn thông là Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
1.3.2. Từ độc quyền sang cạnh tranh với sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới:
N
ăm 1995, thị trường viễn thông Việt Nam khởi động cạnh tranh với việc
thành lập hai doanh nghiệp mới là Công ty cổ phần dịch vụ BCVT Sài Gòn (SPT)
và Công ty Viễn thông Quân Đội (Viettel). Tuy nhiên, thị trường vẫn chưa có gì
thay đổi do các công ty này chưa thực sự cung cấp dịch vụ.
Ngày 11/11/2002, Chính phủ ra Nghị định số 90/2002/NĐ-CP quy định chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ B
ưu chính, Viễn thông. Bộ
Bưu chính, Viễn thông là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, điện tử, internet, truyền dẫn
phát sóng, tần số vô tuyến điện và cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia trong phạm vi cả
nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vố
n
của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong lĩnh vực bưu chính, viễn
thông và công nghệ thông tin theo quy định của pháp luật.
Năm 2003, ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam thực sự bắt đầu chuyển từ
độc quyền nhà nước sang cạnh tranh trên tất cả các loại dịch vụ. Thêm nhiều thành
phần kinh tế được tham gia thị trường này. Đến nay, có tổng số 7 công ty hạ tầng
mạng được thiết lậ
p mạng lưới và cung cấp dịch vụ: Tập đoàn Bưu chính Viễn
thông Việt Nam (VNPT), Tổng Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel), Công ty
Viễn thông Điện lực (EVN), Công ty Cổ phần Dịch vụ BCVT Sài Gòn (SPT), Công
ty Cổ phần viễn thông Hà Nội (Hanoi Telecom), Công ty Thông tin điện tử Hàng
Hải (Vishipel), Công ty Cổ phần Viễn thông FPT (FPT Telecom). Trong đó, VNPT,
Viettel và EVN được thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông cố định quốc
tế. Có 6 công ty được thiết l
ập mạng và cung cấp dịch vụ thông tin di động gồm:
VMS, Vinaphone, Viettel, SPT, EVN và Hanoi Telecom. Có 6 doanh nghiệp được
cấp phép cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP), trong đó có 5 doanh nghiệp đã
8
chính thức hoạt động và 9 nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) được cấp phép và
chính thức hoạt động đã làm cho thị trường BCVT trở nên rất sôi động.
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới đã chấm dứt thời kỳ độc quyền của
VNPT. Trong giai đoạn đầu, cuộc cạnh tranh vẫn còn là cuộc chiến không cân sức
giữa một bên là một doanh nghiệp có quá nhiều lợi thế về h
ạ tầng mạng, thị phần,
vốn đầu tư, kinh nghiệm và một bên là các doanh nghiệp mới yếu thế hơn. Tuy
nhiên, với sự năng động và quyết tâm của nguời đi sau, cùng với một số chính sách
hỗ trợ doanh nghiệp mới của Nhà nước, chỉ trong khoảng thời gian ngắn từ năm
2003, các doanh nghiệp mới đã dần làm thay đổi cục diện thị trường và dành được
ch
ỗ đứng nhất định. Đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ điện thoại di động, chỉ sau 2
năm khai trương dịch vụ, Viettel đã chiếm 30% thị phần xét về số lượng thuê bao.
Trong lĩnh vực internet, Viettel và FPT đã chiếm trên gần 50% thị phần dịch vụ.
Cạnh tranh mang lại cho người sử dụng nhiều lợi ích: giá dịch vụ viễn thông
giảm khoảng 30% - 50% so với thờ
i kỳ trước cạnh tranh; các nhà cung cấp dịch vụ
quan tâm hơn đến công tác chăm sóc khách hàng; khách hàng có nhiều dịch vụ mới,
dịch vụ giá trị gia tăng và gói cước để lựa chọn v.v. Giá giảm đáng kể giúp người
dân dễ dàng tiếp cận dịch vụ viễn thông. Nhờ đó, mật độ điện thoại đã tăng từ 1%
năm 1995 lên 9% năm 2003, 12% năm 2004 và hiện nay đạt 25%. Số người s

dụng internet cũng tăng đáng kể
2
.
Trong hai năm gần đây, ngành viễn thông Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kỷ
lục. Trong khi mức phát triển bình quân của khu vực châu Á chỉ vào khoảng 38% -
39% thì Việt Nam đạt khoảng 60%. Trong đó, dịch vụ internet và điện thoại di động
tăng trên 100% trong năm 2005.
1.3.3. Trước thềm hội nhập:
Không bao lâu nữa, Việt Nam sẽ trở thành một thành viên của WTO. Khi đó,
các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông Việ
t Nam có thể sẽ phải chia sẻ thị phần với
các công ty nước ngoài và sự cạnh tranh diễn ra càng gay gắt. Đón đầu xu hướng
hội nhập, Chính phủ và Bộ BCVT đã xác định giai đoạn 2001 – 2010 là giai đoạn
hội nhập phát triển của ngành Bưu chính Viễn thông và đề ra một số chính sách

2
PHỤ LỤC B, Hình 1.2, Hình 1.3

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét