Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp việt nam vào lào .doc

thái rộng 300 hecta tại Cây số 4 huyện Pakson mang tên “Thiên đàng hoa
Hướng dương” với tham vọng trồng nhiều loại để lấy hạt giống bán ngược về
Canada và Mỹ.
Triển vọng lớn cho DNVN đầu tư
Đất nước Lào với gần 250 ngàn km2, chỉ với hơn 6,5 triệu dân là một
vùng đất còn rất nhiều rộng mở cho các hướng phát triển mới, Lào là một
vùng đất tiềm năng, tạo ra sức thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp nước ngoài.
Điểm thuận lợi tự nhiên là đặc tính dân tộc của người Lào. Người Lào là một
dân tộc hòa bình, không thích cạnh tranh đua chen với bất cứ ai. Đến nước
Lào để đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài có thể an tâm do tính hòa bình và ổn
định lâu dài của đất nước này. Riêng các nhà đầu tư Việt Nam lại càng an tâm
hơn vì giữa người Lào và người Việt đã có một sự gắn kết lâu dài về tình
cảm, về lịch sử, đã có nhiều mối dây ràng buộc về kinh tế và văn hóa truyền
thống.
Những cơ hội lớn mở ra cho các doanh nghiệp Việt Nam trong thời
gian tới, nhất là ở 3 lĩnh vực thế mạnh Việt Nam đầu tư sang Lào (trồng cao
su, thuỷ điện, thăm dò khai khoáng). Như thoả thuận giữa hai chính phủ về
việc Lào cấp cho Việt Nam 10 vạn ha trồng cây cao su, đến nay Lào đã cấp
cho Việt Nam được 7 vạn ha (70%) nhưng Việt Nam mới trồng được 3 vạn,
chưa đầy 50% số đất họ cấp.
Về phát triển thuỷ điện, theo thống kê của phía Lào, có 78 điểm khả thi
xây dựng thuỷ điện. Thuỷ điện lớn nhất Việt Nam ký được là Luang Prabang
1.410 MW tương đương với 8,5% tổng công suất tiềm năng sông Mekong.
Về thăm dò khoáng sản, Lào mới khảo sát 60% tổng diện tích tự nhiên
đã có 500 điểm có khả năng khoáng sản trong đó phát hiện 232 điểm quặng
gồm than, sắt, thiếc, vàng, đồng, chì, kẽm, muối mỏ, thạch cao, sét, đá quý
Đến tháng 7/2008, Lào đã cấp 20/30 mỏ cho Việt Nam.
Việt Nam và Lào đã ký kết nhiều hiệp định quan trọng tạo điều kiện
pháp lý cho thúc đẩy đầu tư của Việt Nam vào Lào và ngược lại như hiệp
định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hiệp định quá cảnh, hiệp định hợp tác
lao động, hiệp định tránh đánh thuế trùng Tuy nhiên, thị trường này cũng có
nhiều thách thức đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải làm ăn bài bản, chuyên
nghiệp, giữ đúng cam kết đã ký với Chính phủ Lào, tôn trọng luật pháp và
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của doanh nghiệp. Tiềm năng ở Lào còn nhiều
nhưng doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ chú trọng đến thủy điện, khai khoáng
và trồng cao su. Các doanh nghiệp đi sau nên tham khảo kinh nghiệm của các
đơn vị đi trước và tìm hiểu kỹ về tập quán, văn hóa của Lào để tránh rủi ro.
CHƯƠNG 2
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM VÀO LÀO
A. Nhân tố quốc gia
I. Đối với nước đi đầu tư
1. Khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN
Luật Đầu tư năm 2005
Luật Đầu tư năm 2005 quy định: Nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài và bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
Việt Nam ở nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư được tiếp cận các nguồn vốn
tín dụng trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các thành phần
kinh tế; bảo lãnh vay vốn đối với các dự án đầu tư ra nước ngoài trong các
lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư. Nhà nước Việt Nam khuyến khích các
tổ chức kinh tế tại Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đối với lĩnh vực xuất khẩu
nhiều lao động; phát huy có hiệu quả các ngành nghề truyền thống của Việt
Nam; mở rộng thị trường, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại nước đầu
tư; tăng khả năng xuất khẩu, thu ngoại tệ. Tư tưởng của các quy định trên
khẳng định một chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế.
Điều kiện đầu tư ra nước ngoài được quy định tại Điều 76: Để được
đầu tư ra nước ngoài theo hình thức đầu tư trực tiếp, nhà đầu tư cần phải có
các điều kiện sau đây: Có dự án đầu tư ra nước ngoài; Thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Việt Nam; Được cơ quan nhà nước quản
lý đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư; Việc đầu tư ra nước ngoài theo hình
thức gián tiếp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về ngân hàng, chứng
khoán và các quy định khác của pháp luật có liên quan; Việc sử dụng vốn của
nhà nước để đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ quy định của pháp luật về
quản lý, sử dụng vốn nhà nước.
Trong đó quy định rõ quyền của nhà đầu tư ra nước ngoài: Chuyển vốn
đầu tư bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài để thực hiện đầu
tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối sau khi dự án đầu tư được
cơ quan thẩm quyền của nước, vùng lãnh thổ đầu tư chấp thuận; Được hưởng
các ưu đãi về đầu tư theo quy định của pháp luật; Tuyển dụng lao động Việt
Nam sang làm việc tại cơ sở sản xuất, kinh doanh do nhà đầu tư thành lập ở
nước ngoài.
Về nghĩa vụ của nhà đầu tư ra nước ngoài, Luật quy định: Tuân thủ
pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư; Chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập
từ việc đầu tư ra nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật; Thực hiện
chế độ báo cáo định kỳ về tài chính và hoạt động đầu tư ở nước ngoài; Thực
hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Việt Nam; Khi kết thúc
đầu tư ở nước ngoài, chuyển toàn bộ vốn, tài sản hợp pháp về nước theo quy
định của pháp luật; Trường hợp nhà đầu tư chưa chuyển về nước vốn, tài sản,
lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài phải được sự
đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, chúng ta thấy rõ tư tưởng của các quy định của pháp luật về
quyền lợi và nghĩa vụ đầu tư ra nước ngoài là rõ ràng và thể hiện thế chủ
động.
Nghị định của Chính phủ về đầu tư ra nước ngoài
Nghị định số 22/1999/NĐ-CP quy định đầu tư ra nước ngoài của doanh
nghiệp Việt Nam, theo đó là Thông tư số 05/2001/TT-BKH của Bộ Kế hoạch
và Đầu tư hướng dẫn hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt
Nam và Thông tư số 01/2001/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước hướng
dẫn quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Có thể nói đây
là những văn bản quy phạm pháp luật cơ bản hình thành cơ sở pháp lý cần
thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam khi đầu tư ra nước ngoài.
Tuy nhiên, trải qua thực tế đã bộc lộ rõ nhiều quy định còn thiếu cụ thể
do chưa lường hết được các vấn đề mới nảy sinh, vì vậy nhiều điểm còn thiếu
đồng bộ, chưa nhất quán. Đặc biệt là có nhiều điều khoản của văn bản không
phù hợp với thực tế. Trong khi đó, không ít quy định can thiệp quá sâu vào
quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đến khi Luật Đầu
tư ban hành năm 2005 với các quy định về đầu tư ra nước ngoài của doanh
nghiệp Việt Nam đã khắc phục được những hạn chế nêu trên.
Với quan điểm tích cực tiếp thu và sửa đổi, bổ sung để tạo điều kiện tốt
nhất cho các nhà đầu tư đầu tư ra nước ngoài, ngày 9 tháng 8 năm 2006 Chính
phủ ban hành Nghị định số 78/2006/NĐ-CP quy định về đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài. Đây là văn bản hướng dẫn cụ thể chi tiết Luật Đầu tư. Trong đó
nói rõ: Các nhà đầu tư tại Việt Nam (sau đây gọi là nhà đầu tư) gồm: Công ty
trách nhiệm hữu hạn; Công ty cổ phần; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư
nhân được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp;
Doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp nhà nước chưa đăng ký
lại theo Luật Doanh nghiệp; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được
thành lập theo Luật Đầu tư nước ngoài chưa đăng ký lại theo Luật Doanh
nghiệp và Luật Đầu tư; Doanh nghiệp thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp; Hợp tác xã, Liên hiệp
hợp tác xã được thành lập theo Luật Hợp tác xã; Cơ sở dịch vụ y tế, giáo dục,
khoa học, văn hoá, thể thao và các cơ sở dịch vụ khác có hoạt động đầu tư
sinh lợi; Hộ kinh doanh, cá nhân Việt Nam.
Bên cạnh Nghị định số 78/2006/NĐ-CP còn có Nghị định số 121/2007/
NĐ-CP ngày 25 tháng 7 năm 2007 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
trong hoạt động dầu khí. Có thể nói hoạt động dầu khí là một trong những thế
mạnh của ta. Bởi đây là hoạt động hình thành và hoạt động thực hiện dự án
dầu khí về tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ, khai thác dầu khí, kể cả hoạt
động vận chuyển bằng đường ống, xử lý dầu thô và các hoạt động khác phục
vụ trực tiếp cho các hoạt động này.
Trong nhiều năm qua, chúng ta đã khẳng định được đội ngũ chuyên
môn giỏi, có đủ khả năng đảm trách được nhiều dự án lớn về dầu khí, mang
lại nguồn lợi lớn cho đất nước. Ta giàu lên và ta cũng muốn các nước giàu lên
từ dầu khí. Xuất phát từ quan điểm này, Chính phủ đã có một Nghị định riêng
về đầu tư ra nước ngoài cho lĩnh vực hoạt động dầu khí. Như vậy có thể thấy
từng bước một chúng ta luôn sát với thực tế, mở rộng hành lang pháp lý để
các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội phát huy tiềm năng đầu tư ra nước
ngoài.
Với khuôn khổ pháp lý mới thì các thủ tục đầu tư ra nước ngoài được
đơn giản hóa hơn, cộng với nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng “đẻ” thêm nhiều
doanh nghiệp có khả hăng tài chính để “quay vốn” bằng cách đầu tư ra nước
ngoài. Và một trong những sự kiện tiêu biểu nhất năm nay là Việt Nam gia
nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn
cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.
2 Thủ tục hành chính
2.1. Những thay đổi tích cực
Tháng 2 - 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định giao cho
Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 78 theo
hướng tiếp tục đơn giản hoá thủ tục hành chính và tăng cường quản lý dòng
vốn và hiệu quả vốn ĐTRNN. Như vậy, chính phủ đã có những sửa đổi về
luật pháp tạo ra điều kiện thuận lợi và khuyến khích các doanh nghiệp Việt
Nam ra nước ngoài.
Các cơ quan quản lý nhà nước đang tiếp tục cải tiến thủ tục hành chính
đối với đầu tư ra nước ngoài theo hướng đơn giản thuận tiện, mở rộng hơn
nữa các dự án thuộc diện đăng ký, giảm bớt sự can thiệp bằng các biện pháp
hành chính ngay cả đối với dự án sử dụng vốn nhà nước, tăng quyền chủ
động, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Từng bước phân cấp việc cấp
giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài.
Công tác thẩm tra, cấp phép cho các dự án đầu tư ra nước ngoài cũng
được cải thiện đáng kể. Mối liên hệ giữa cơ quan đại diện ngoại giao và
thương vụ ta ở nước ngoài với các doanh nghiệp nước ngoài từng bước chặt
chẽ hơn.
2.2. Những vướng mắc
Xét từ góc độ doanh nghiệp, quy trình thủ tục ĐTRNN hiện nay vẫn
còn phức tạp. Đồng thời, Nhà nước cũng chưa có những chính sách hỗ trợ
hữu hiệu cho các doanh nghiệp ĐTRNN trong hoạt động làm ăn xa xứ.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép cho các dự án theo từng giai
đoạn
Vướng mắc trong đầu tư ra nước ngoài của ngành dầu khí là các văn
bản pháp lý quy định đầu tư thường lạc hậu so với thực tế đầu tư, là sự phân
cấp chưa rõ ràng, “nên cái gì cũng phải xin”. Đặc biệt trong đặc thù của ngành
dầu khí phải quyết định nhanh, khi đã có hợp đồng phải thực hiện cam kết
ngay. Thực tế đòi hỏi Nhà nước cần có những chính sách linh hoạt hơn, nhất
là đối với một số lĩnh vực đặc biệt.
Các doanh nghiệp Việt Nam cho rằng đầu tư ra nước ngoài hiện nay
đang gặp nhiều khó khăn từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Tập đoàn dầu khí
quốc gia Petro Việt Nam cơ quan có nhiều dự án đầu tư ra nước ngoài nhất
để thăm dò, khai thác dầu khí cũng than phiền rằng họ vướng rất nhiều cơ
chế, mà đặc biệt là thủ tục chuyển tiền ra nước ngoài. Thông thường, khi
muốn mua một mỏ dầu, Petro Việt Nam phải lập dự án, rồi chờ các cơ quan
nhà nước phê duyệt, trong khi vẫn phải đàm phán với đối tác nước ngoài. Quá
trình này tốn rất nhiều thời gian. Chúng tôi muốn một mỏ dầu trị giá 100 triệu
USD, thì phải xin phép nhiều cấp. Khi xong được thủ tục, giá của mỏ đó đã
cao lên, hoặc công ty nước ngoài khác đã mua xong rồi và thế là dự án không
thành. Như vậy ta có thể thấy hành lang pháp lý của Việt Nam trong việc đầu
tư ra nước ngoài nói chung và ngành dầu khí nói riêng còn quá chặt chẽ.
Các quan chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thừa nhận hiện nay chúng ta
chưa có được một kế hoạch tổng thể xây dựng chiến lược đầu tư ra nước
ngoài của doanh nghiệp Việt Nam và việc đầu tư này nhìn chung còn dựa trên
mối quan hệ giữa các chính phủ hoặc các địa phương.
- Không chỉ khó khăn ở khâu chờ dự án được cấp phép, các doanh
nghiệp còn bức xúc về việc chuyển tiền ra nước ngoài và chuyển lợi nhuận về.
Theo quy định, lợi nhuận của các dự án đầu tư phải chuyển về nước
chậm nhất là 6 tháng khi năm tài chính kết thúc, nhưng lại chưa có quy định
rõ ràng lợi nhuận bao gồm cụ thể những gì. Chủ đầu tư VN muốn chuyển lợi
nhuận thành vốn đầu tư tiếp để khỏi phải chuyển tiền đầu tư ra cũng không
phải là chuyện đơn giản.
Việc chuyển tiền ra nước ngoài cũng đang làm đau đầu không ít doanh
nghiệp. Đại diện một doanh nghiệp cho biết, thường thì các ngân hàng "săm
soi quá kỹ" nên việc chuyển tiền không phải lúc nào cũng đơn giản. Cầm giấy
phép đầu tư ra nước ngoài do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp đã nhiều tuần,
nhưng các nhà đầu tư ở Công ty cổ phần Cao su Việt Lào chưa thể trở thành
nhà đầu tư ở nước ngoài vì tiền vẫn còn nằm ở trong nước.
Công tác quản lý đầu tư ra nước ngoài của VN còn gặp nhiều khó khăn
do việc thực hiện chế độ báo cáo của các dự án đầu tư ra nước ngoài chưa đầy
đủ. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng của các cơ quan trong việc quản
lý các dự án đầu tư ra nước ngoài cũng còn hạn chế, chưa thành lập được
đoàn khảo sát tại chỗ để đánh giá sâu hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước
ngoài. Mối liên hệ giữa cơ quan đại diện ngoại giao và thương vụ của VN ở
nước ngoài với các doanh nghiệp còn lỏng lẻo nên khi có vụ việc tranh chấp
xảy ra sẽ không tranh thủ được tối đa sự hỗ trợ của Nhà nước.
Một số doanh nghiệp cho rằng, chính những vướng mắc trong thủ tục
như trên đã khiến họ rất nản lòng, không muốn mở rộng đầu tư ra nước ngoài
và chờ đợi một sự thay đổi.
- Thủ tục vẫn nhiêu khê
Quy định là vậy, nhưng trong thực tế việc đầu tư ra nước ngoài đang
vấp phải nhiều khó khăn do những thủ tục quản lý từ phía cơ quan Nhà nước.
Thứ nhất, việc cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài chưa được
phân cấp, còn tập trung ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Các doanh nghiệp ở địa
phương muốn đầu tư ra nước ngoài đều phải tốn thời gian đến Bộ Kế hoạch
và Đầu tư để xin phép. Tính ra, doanh nghiệp muốn hoàn thiện thủ tục để có
được giấy phép đầu tư ra nước ngoài phải qua 11 đầu mối các cơ quan quản lý
trong nước.
Khó khăn thứ hai, các doanh nghiệp trong nước muốn có giấy phép đầu
tư ra nước ngoài phải có văn bản cho phép hoặc thoả thuận với bên nước
ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia lại có quy định chỉ được phép đầu tư vào
quốc gia đó khi đã được sự cho phép của quốc gia mà doanh nghiệp đầu tư
mang quốc tịch. Điều này để tránh được nạn “rửa tiền” thông qua việc đầu tư
ra nước ngoài, quốc gia tiếp nhận đầu tư muốn những đồng tiền “sạch” chảy
vào thị trường của mình.
Sự trái nhau về những quy định cấp phép đầu tư này sẽ gây không ít
khó khăn cho doanh nghiệp muốn đem vốn ra nước ngoài kinh doanh.
Thứ ba, vướng mắc nhiều nhất hiện nay là vấn đề chuyển vốn ra nước
ngoài để thực hiện đầu tư. Thông tư số 01/2001/TT- NHNN ngày 19/1/2001
của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực
tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.
Theo đó, doanh nghiệp phải mở một tài khoản tại ngân hàng được phép
hoạt động tại Việt Nam và mọi giao dịch chuyển tiền ra nước ngoài và vào
Việt Nam liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp phải được thực hiện
thông qua tài khoản này. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải làm thủ tục đăng ký
với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tại địa phương mình có trụ sở chính về
việc mở tài khoản ngoại tệ và tiến độ chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài. Như
vậy, cùng một việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài doanh nghiệp phải hai
lần đăng ký mở tài khoản, với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và với ngân
hàng thương mại khác hoạt động tại Việt Nam. Doanh nghiệp chỉ được phép
sử dụng nguồn ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi ngoại tệ của mình mở tại ngân
hàng được phép để chuyển ra nước ngoài góp vốn đầu tư trên cơ sở quy định
tại giấy phép đầu tư do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Ngoài ra, để mở được tài khoản tại ngân hàng phục vụ việc chuyển tiền
ra nước ngoài đầu tư doanh nghiệp phải chứng minh được dự án đầu tư, giấy
phép đầu tư do nước ngoài cấp
Như vậy giai đoạn làm khảo sát, thăm dò, thiết kế dự án của doanh
nghiệp tại nước ngoài sẽ không được chuyển tiền ra nước ngoài. Đây sẽ là
khó khăn cho doanh nghiệp khi hoạt động chuẩn bị cho dự án đầu tư, trong
khi đây là giai đoạn cần thiết để có được giấy phép chấp thuận đầu tư của
nước doanh nghiệp muốn đầu tư.
Khó khăn thứ tư là doanh nghiệp Việt Nam thiếu thông tin về địa bàn
đầu tư, về các quy định pháp lý về đầu tư Thường thì các doanh nghiệp tự
tìm hiểu, nhưng đây là một điều khó khăn cần các cơ quan chức năng, cơ
quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại các thị trường cung cấp cho doanh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét