Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
sản xuất hàng dệt may của Việt Nam. Tuy nhiên, năng suất lao động trong ngành dệt may
Việt Nam chưa cao. Vì thế không phải lúc nào đây cũng là một lợi thế để chúng ta có thể
cạnh tranh về giá thành sản phẩm.
Thứ ba, các cơ sở dệt may của Việt Nam được phân bố ở các vùng đông dân cư sinh
sống (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Bình Dương, Đồng Nai, Đà Nẵng…). Vì thế có
thể sử dụng lao động tại chỗ và một lần nữa giảm được chi phí sản xuất và tăng tính cạnh
tranh về giá cho hàng dệt may Việt Nam.
Thứ tư, công nghệ sản xuất trong ngành dệt may của Việt Nam vẫn còn rất lạc hậu.
Điều này ảnh hưởng đến sản lượng, chất lượng cũng như năng suất lao động của công
nhân. Rất khó có thể tăng sản lượng một cách nhanh chóng nếu chúng ta không có biện
pháp nhập khẩu hoặc cải tiến trang thiết bị cũng như nâng cao tay nghề của công nhân.
Thứ năm, phần lớn nguyên phụ liệu của Việt Nam phải nhập từ nước ngoài. Điều
này sẽ ảnh hưởng một phần tới quá trình sản xuất. Việc phải nhập khẩu nguyên phụ liệu
cũng làm cho chúng ta mất chủ động trong khâu tổ chức sản xuất vì nguyên phụ liệu bị phụ
thuộc vào nước ngoài. Hơn nữa do thiếu nguyên phụ liệu nên Việt Nam phần lớn là gia
công cho nước ngoài. Do đó chúng ta chỉ lấy công làm lãi. Chính vì điều đó, nhiều Công ty
sản xuất hàng dệt may của Việt Nam không mặn mà lắm và không có sự cố gắng hết sức
trong hoạt động điều hành sản xuất.
Thứ sáu, yếu tố vốn, luật pháp và chính sách quản lý của Nhà nước đối với ngành
dệt may cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất hàng dệt may Việt Nam.
• Theo ông Lê Quốc Ân – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Dệt May Việt Nam
thì dệt may là một ngành có sức hấp dẫn với các nhà đầu tư vì đầu tư vào ngành này chỉ cần
ít vốn mà tỉ suất lợi nhuận lại khá cao và thời gian thu hồi vốn nhanh. Tuy nhiên, ở đa số
các Công ty Dệt may, tỉ lệ vốn vay nhiều và vốn tự có ít nên rất rủi ro. Vì thế có thể nói đây
là một yếu tố bất lợi cho hoạt động sản xuất hàng dệt may Việt Nam một khi có rủi ro xảy
ra. Nếu rủi ro xảy ra, hoạt động sản xuất ngay lập tức sẽ gặp nhiều khó khăn và do đó khó
có thể duy trì và ổn định trong thời gian tiếp theo.
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
5
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
• Chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam hiện nay là thúc đẩy xuất khẩu và dệt may
được xác định là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Do đó hoạt động sản xuất
dệt may cũng gặp nhiều thuận lợi từ các chính sách của Nhà nước.
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Đầu tiên, lại là yếu tố lao động, Việt Nam tuy có lao động dồi dào và giá nhân công
rẻ nhưng chất lượng không cao. Kéo theo đó là năng suất thấp nên giờ công trên một đơn vị
sản phẩm có khi lại còn cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Vì vậy trong xuất khẩu
chúng ta chưa phát huy được tối đa khả năng cạnh tranh về giá thành sản phẩm trên các thị
trường.
Thứ hai, vai trò của các cơ quan xúc tiến thương mại ở Việt Nam cũng như trên các
thị trường nước ngoài chưa được phát huy một cách triệt để. Vì thế nhiều khi các doanh
nghiệp xuất khẩu của Việt Nam không hiểu rõ về thị trường và luật pháp nước bạn nên gặp
phải một số khó khăn. Trong thời gian tới, hàng dệt may của Việt Nam trên thị trường Euro
(EU) và Hoa Kỳ rất có thể sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị kiện bán phá giá. Điều này sẽ gây
khó khăn lớn cho hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam.
Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu thị trường vào loại ít nhất thế giới.
Điều này sẽ gây trở ngại lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu cũng như hoạt động xuất
khẩu dệt may của Việt Nam ra thị trường thế giới nếu có bất cứ một trục trặc nào. Do
chúng ta không nắm rõ luật pháp của nước ngoài và không nghiên cứu kỹ thị trường nên có
thể gặp nhiều rủi ro. Vì thế, Việt Nam sẽ rất dễ bị thua thiệt nếu có xảy ra tranh chấp.
Thứ tư, do nhập khẩu quá nhiều nguyên phụ liệu và phần lớn là gia công thuê cho
nước ngoài, nên tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam rất ít so với kim
ngạch xuất khẩu. Vì thế kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam chưa phản ánh
một cách chính xác năng lực của ngành.
Thứ năm, vấn đề thương hiệu. Hàng dệt may Việt Nam không hề có thương hiệu
trên thế giới. Ở một vài thị trường tuy hàng dệt may có dán nhãn “made in Việt Nam”
nhưng lại không hề được khách hàng để ý đến. Đây chính là một điểm yếu lớn khiến cho
hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu ra các thị trường thế giới không nâng cao được khả
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
6
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
năng cạnh tranh của mình. Đó cũng là một hệ quả của việc thiếu tự chủ trong khâu nguyên
phụ liệu và gia công thuê cho nước ngoài.
Thứ sáu, yếu tố vốn, pháp luật và chính sách quản lý của Nhà nước với hoạt động
xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam:
• Như trên đã nói, ở các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam vốn tự có ít và vốn vay là chủ
yếu nên rất rủi ro. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra thì không những hoạt động sản xuất gặp khó
khăn mà nó còn làm đình trệ hoạt động xuất khẩu.
• Bộ Công thương đã ra thông báo số 6494/TM – XNK ngày 24/12/2004 để hướng dẫn
xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU và Bộ Tài chính cũng ra quyết định số
02/3005/QĐ – BTC về việc bãi bỏ phí hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt, may sang thị trường
EU và Canada. Như vậy, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể xuất khẩu theo khả
năng tối đa của mình sang các thị trường này. Hơn nữa, với sự kiện trở thành thành viên
chính thức của WTO vào ngày 11/01/2007, Việt Nam cũng được Hoa Kỳ dỡ bỏ hạn ngạch.
Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam càng có cơ hội lớn để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt
may sang những thị trường này.
1.3. Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam
1.3.1. Đặc điểm của ngành dệt may
1.3.1.1. Phân loại sản phẩm của ngành
Ngành công nghiệp dệt may bao hàm rất nhiều các ngành hàng: từ khâu đầu cung
cấp nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng là sợi, vải, hàng may mặc, các chuyên ngành phục
vụ cho công nghiệp dệt may như hóa chất, thuốc nhuộm, máy móc thiết bị Ba loại sản
phẩm chính của ngành là sợi, vải, và hàng may mặc.
a. Phân loại sản phẩm sợi theo nguồn gốc
- Sợi có nguồn gốc thực vật:
• Sợi bông (sợi 100% cotton) gồm hai loại: Sợi chải kỹ, chi số cao và sợi chải thô, chi số
thấp.
• Tơ tằm.
• Sợi tổng hợp hay sợi nhân tạo (ví dụ: sợi Polyeste, xơ visco) được sản xuất chủ yếu từ
phụ phẩm của ngành hóa dầu.
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
7
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
• Sợi pha (sợi pha bông với các thành phần khác như PE, PA, PV…).
b. Phân loại sản phẩm vải
- Có thể phân loại theo loại sợi cấu thành vải (tương tự như phân loại sợi ở trên) thành vải
sợi bông, vải sợi tơ tằm, vải sợi tổng hợp… Cũng có thể phân loại theo kiểu dệt như sau:
• Vải dệt thoi
• Vải dệt kim
• Vải không dệt
c. Phân loại hàng may mặc
- Có thể phân loại theo chất liệu vải của sản phẩm, cũng có thể phân loại theo mục đích sử
dụng như sau:
• Hàng mặc mùa đông (các loại áo Jacket, Comple)
• Quần áo thể thao
• Quần âu và sơ mi các loại
• Đồ lót
• Ngoài ra còn có một số loại hàng dệt may khác như: Túi xách, các sản phẩm phục vụ
trang trí nối thất (áo gối, chăn, ga trải giường, thảm…)
1.3.1.2. Nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của ngành lớn
Do các sản phẩm dệt may phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người là nhu cầu
mặc. Mà nhu cầu mặc của con người cũng lại rất phong phú và đa dạng, đòi hỏi phải có
nhiều chủng loại. Hơn nữa, trong thời đại ngày nay, nhu cầu “ăn no mặc ấm” đã chuyển
thành “ăn ngon mặc đẹp” để người ta thể hiện trình độ thẩm mỹ, sự văn minh của bản thân
mình. Vì thế, thị hiếu cũng như nhu cầu với các sản phẩm dệt may ngày càng thay đổi
nhanh chóng, yếu tố mốt cũng được chú trọng và đầu tư, vòng đời của sản phẩm ngày càng
thu hẹp (vòng đời của sản phẩm dệt may ngày nay thường chỉ là một năm, thậm chí còn
ngắn hơn). Do đó, nếu các nhà sản xuất đầu tư thích hợp vào nghiên cứu thị trường, liên tục
đổi mới sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường thì lượng sản phẩm tiêu thụ hàng
năm có thể tăng lên mạnh mẽ.
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
8
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
1.3.1.3. Sử dụng nhiều nhân công
Tỷ lệ lao động sốn trong sản xuất hàng dệt may tương đối cao, đặc biệt là đối với
Việt Nam – một nước có trình độ tự động hóa thấp. Trong các phân ngành sản xuất hàng
dệt may như kéo sợi, dệt vài, may đều cần nhiều khâu sản xuất quan trọng cần phải có sự
tham gia trực tiếp của con người mà máy móc không thể nào thay thế được. Ví dụ như
trong thời đại ngày nay, theo kinh nghiệm cho thấy thì việc thao tác và xử lý nhiều công
đoạn nhỏ, chi tết (cắt, ráp, may) hoàn toàn bằng máy một cách chính xác trên loại nguyên
liệu mềm và dễ xô lệch như vải là rất khó khăn và nếu có làm được thì chi phí cũng rất cao.
Do đó, ngành dệt may là ngành thu hút rất nhiều nhân công, ở Việt Nam số lượng
lao động hoạt dộng trong ngành dệt may lên đến 2 triệu người, tức là khoảng hơn 4% lực
lượng lao động cả nước và chiếm khoảng 27% lao động công nghiệp trên toàn quốc
1.3.1.4. Hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện Việt Nam hiện nay
Công nghiệp dệt may Việt Nam là ngành công nghiệp đòi hỏi vốn đầu tư không lớn,
công nghệ không quá phức tạp, suất đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh rất phù hợp với tổ chức
quy mô vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Dệt may là một ngành công nghiệp nhẹ, vì thế công nghiệp dệt may so với các ngành
công nghiệp khác có suất đầu tư thấp hơn rất nhiều (đặc biệt thấp hơn hàng chục lần so với
các ngành công nghiệp nặng như điện, cơ khí, luyện kim…). So sánh ngay trong ngành
công nghiệp sản xuất ra hàng tiêu dùng, suất đầu tư của ngành dệt may (đặc biệt là ngành
may) cũng thấp hơn nhiều so với các ngành khác như ngành giấy, ngành da giày…
Hơn nữa, do tính đặc thù sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm trong thời gian ngắn
nên thời hạn thu hồi vốn đầu tư đối với ngành dệt may cũng ngắn hơn nhiều so với những
ngành khác. Thông thường, thời gian thu hồi vốn đối với ngành dệt là 12 – 15 năm, ngành
may là 5 – 7 năm, trong khi đó đối với các ngành công nghiệp khác thời gian thu hồi vốn là
trên 15 năm, thậm chí là hàng chục năm, chẳng hạn như công nghiệp thép. Hơn nữa, vòng
đời sản phẩm trong ngành dệt may lại ngắn, thời gian quay vòng vốn nhanh (có thể lên đến
4 – 5 vòng/năm) nên vốn không bị ứ đọng giúp doanh nghiệp tránh được những rủi ro khi
thị trường có nhiều biến động hay đồng tiền bị mất giá.
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
9
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
1.3.2. Vai trò của ngành dệt may Việt Nam trong nền Kinh tế quốc dân
Dệt may là một trong những ngành công nghiệp cực kỳ quan trọng trong thời kỳ đầu
công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nhiều nước trên thế giới nói chung cũng như đối với
Việt Nam nói riêng.
Việt Nam là quốc gia có truyền thống lâu đời ở lĩnh vực dệt may, ngành dệt may
Việt Nam đã chính thức hình thành với sự kiện ra đời của nhà máy dệt Nam Định năm
1889.
Trong thời kỳ đầu hình thành và phát triển, ngành dệt may Việt Nam gặp khá nhiều
khó khăn vì công cụ, máy móc lạc hậu, và quan trọng là chưa được sự quan tâm đầu tư của
Nhà nước. Cho đến Đại hội Đảng VI, vai trò quan trọng của ngành dệt may mới được chỉ ra
và nhận thức một cách nghiêm túc, đúng đắn.
Cho đến nay, dệt may đã trở thành một trong những ngành nhận được sự quan tâm
đặc biệt của Nhà nước Việt Nam. Văn kiện đại hội VIII của Đảng khẳng định: “…phát triển
mạnh công nghiệp nhẹ, nhất là dệt may, da giầy, giấy, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, đầu
tư hiện đại hóa các dây chuyền công nghệ, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản
phẩm; chuyển dần việc nhận gia công dệt may, đồ da sang mua nguyên liệu, vật liệu để sản
xuất hàng xuất khẩu; coi trọng nâng cao năng lực tiếp thị để mở rộng thị trường; khắc phục
sự lạc hậu của ngành sợi – dệt…” Văn kiện đại hội IX của Đảng khẳng định: “…phát triển
các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị trường
về tiêu dùng thiết yếu ở trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu như chế biến nông, lâm, thủy
sản, may mặc, da giầy, điện tử và một số sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng trong toàn
quốc…”
Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người
dân trong nước, mặc dù Việt Nam là một nước đông dân và nhu cầu về hàng may mặc rất
lớn.
• Phục vụ nhu cầu tiêu dùng to lớn trong nước
Việt Nam là quốc gia có dân số đông thứ 13 thế giới (hơn 80 triệu người). Vì thế nhu
cầu về hàng dệt may của Việt Nam vô cùng lớn. Tuy vậy, do thu nhập thấp nên nhu cầu
hàng may mặc của Việt Nam chủ yếu là những loại hàng hóa thông thường, giá phải chăng.
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
10
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
Nắm bắt nhu cầu đó, trong thời gian gần đây, ngành dệt may không ngừng mở rộng sản
xuất, nâng cao năng suất, số lượng và chất lượng cũng như tìm cách hạ giá thành sản phẩm,
thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước.
• Tạo sản phẩm xuất khẩu chủ lực
Phương hướng của hầu hết các nước trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa là phát triển
những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Ngành dệt may Việt Nam đã thể hiện tốt vai trò ngành hàng xuất khẩu chủ lực trong những
năm qua. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong nhiều năm qua tăng trưởng
nhanh và ổn định. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may trong nhiều năm qua luôn
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Không chỉ có đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu, việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng
dệt may còn góp phần mở rộng mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia khác,
tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể tìm hiểu và thâm nhập thị trường các nước xuất
khẩu không chỉ cho hàng dệt may mà còn cho những hàng hóa khác dựa vào mối quan hệ
thương mại do xuất khẩu hàng dệt may mang lại. Hơn nữa còn có thể tìm nguồn cung cấp
máy móc thiết bị cho các ngành sản xuất trong nước.
• Tạo công ăn việc làm
Do đặc thù của ngành, hoạt động sản xuất hàng dệt may thu hút nhiều lao động, lại
không yêu cầu tay nghề cao và thời gian đào tạo không cần dài, như vậy dệt may là một
ngành góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Việt Nam trong điều kiện lao động
Việt Nam rất dồi dào mà trình độ của lao động lại thấp. Đánh giá được tầm quan trọng của
ngành dệt may, hiện nay nước ta đang thực hiện một “chiến lược tăng tốc phát triển ngành
dệt may đến năm 2010” với mục tiêu phát triển tất cả các phân ngành sợi, dệt, may và sẽ
thu hút khoảng 2,5 triệu lao động vào năm 2010.
Tạo công ăn việc làm không chỉ giúp tăng thu nhập, nâng cao mức sống của nhân
dân mà còn ngành góp phần ổn định kinh tế xã hội, làm giảm các tệ nạn xã hội do nạn thất
nghiệp gây ra như cờ bạc, rượu chè, trộm cướp…
• Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
11
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đã xác định là cần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm bớt tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng tỷ
trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế. Với sự phát triển nhanh chóng trong
thời gian qua, ngành dệt may đã đóng góp một phần không nhỏ vào tốc độ tăng trưởng cao
của ngành công nghiệp nước ta, làm tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp so với ngành
nông nghiệp. Ngoài ra, ngành dệt may còn thu hút được nhiều lao động nhàn rỗi từ khu vực
sản xuất nông nghiệp, góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, phát triển ngành dệt may một cách đồng bộ có bao gồm phát triển các
vùng nguyên liệu mà cụ thể ở nước ta là các vùng trồng bông, trồng dâu nuôi tằm. Đây là
những loại cây công nghiệp quan trọng, việc phát triển nó không những đảm bảo nguyên
liệu cho ngành dệt mà còn tạo điều kiện đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, chuyển dịch cơ cấu
cây trồng trong nông nghiệp, vá vỡ tình trạng độc canh về cây lúa, chuyển sang trồng các
loại cây công nghiệp có giá trị cao hơn trong điều kiện tự nhiên của địa phương. Bên cạnh
đó, nghề trồng dâu, nuôi tằm cũng là nghề truyền thống lâu đời của nhân dân ta, vì vậy phát
triển nguyên liệu tơ tằm là hoàn toàn có tính khả thi. Sợi tơ tằm là loại sợi có giá trị cao trên
thị trường cả trong và ngoài nước, phát triển các vùng trồng dâu nuôi tằm không chỉ giúp
chuyển dịch cơ cấu cây trồng, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp mà còn giúp phục hồi
và phát triển các làng nghề truyền thống với những sản phầm dệt may độc đáo, đặc trưng
của vùng và có giá trị rất cao trên thị trường. Ngoài ra phát triển các vùng trồng nguyên liệu
sẽ tạo điều kiện phát triển công nhiệp chế biến nguyên liệu thô như dập, cán bông.
1.4. Giới thiệu chung về thị trường dệt may Hoa Kỳ
1.4.1. Khái quát về nền kinh tế Hoa Kỳ
Trong thời gian đầu và khoảng giữa thế kỷ XX, trong khi nền kinh tế châu Âu và
châu Á bị tàn pháp nặng nề do hậu quả của hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ 2,
thì kinh tế Hoa Kỳ lại phát triển mạnh.
Kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của Hoa Kỳ
chiếm 42% GNP toàn cầu, đồng thời Hoa Kỳ cũng chiếm tới 54.6% về tổng sản lượng công
nghiệp, 24% xuất khẩu và 74% dự trữ vàng so với toàn thế giới.
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
12
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
Nhờ có nền kinh tế hùng mạnh và phát triển, Hoa Kỳ đã bỏ vốn thành lập các tổ
chức tài chính tiền tệ như Ngân hàng thế giới (WB), quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), sau đó
thành lập công ty Tài chính Quốc tế IFC vào năm 1954, Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA)
năm 1960, Ngân hàng Á châu (ADB) vào năm 1966, Công ty đầu tư đa biên (MIGA) năm
1990…
Với sự tài trợ của Hoa Kỳ, nhiều tổ chức hoạt động kinh tế và thương mại ra đời như
GATT, các tổ chức khác của Liên hợp quốc: UNDP, FAO, UNIDO…
a. Về tài chính
Sau một nửa thế kỷ, Hoa Kỳ duy trì sức mạnh và khả năng chuyển đổi tự do đồng
USD, gần 50% tổng sản lượng thanh toán và đầu tư quốc tế được thực hiện qua đồng tiền
này.
Hoa Kỳ cũng thống trị thị trường tài chính tiền tệ thế giới bằng cách đẩy nhanh phát
triển thị trường chứng khoán.
b. Về công nghiệp
Hoa Kỳ đi đầu khám phá và phát triển những ngành công nghiệp tiên phong. Vào
cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đi đầu trong lĩnh vực khai thác và chế biến dầu mỏ. Đến đầu thế
kỷ XX, Hoa Kỳ tập trung sản xuất xe hơi, đóng tầu, máy bay. Khoảng giữa thế kỷ XX thì
lại tập trung vào phát triển công nghiệp điện và điện tử. Và đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ
XXI, Hoa Kỳ tập trung vào phát triển công nghệ thông tin và tin học.
Công nghiệp năng lượng cũng là thế mạnh hàng đầu của Hoa Kỳ, trong lĩnh vực này
Hoa Kỳ có sức phát triển hàng đầu thế giới ở các ngành: dầu mỏ, khí đốt, thủy điện,
uranium. Hoa Kỳ là nước sản xuất nhiều điện nhất thế giới, thứ hai về thủy điện (sau
Canađa), đứng đầu thế giới về năng lượng nguyên tử, về công nghiệp chế tạo…
c. Về nông nghiệp
Hoa Kỳ có một nền nông nghiệp rất phát triển nhờ có lợi thế diện tích rộng lớn, và
nhiều vùng có khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Không những thế Hoa Kỳ còn
là nước áp dụng nhiều công nghệ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp. Trồng trọt, chăn nuôi,
chế biến nông sản của Hoa Kỳ đều rất phát triển. Hoa Kỳ cũng là nước xuất khẩu gạo đứng
thứ ba trên thế giới (sau Thái Lan và Việt Nam).
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
13
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đỗ Thị Hương Sinh viên: Nguyễn Quân Sơn
d. Về dịch vụ
Ngành dịch vụ chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong GDP của Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là
nước chi phối nhiều loại hình dịch vụ trên thế giới như dịch vụ tài chính, thông tin, du lịch,
giải trí (các sản phẩm âm nhạc của Hoa Kỳ chiếm đến 30% tổng giá trị giao dịch các sản
phẩm này trên thế giới), đồ ăn nhanh, giải khát…
e. Chính sách đối ngoại
Hoa Kỳ xây dựng hệ thống thương mại và thị trường thế giới trên cơ sở các nguyên
tắc, sáng kiến của Hoa Kỳ, các nguyên tắc ngày được thể chế hóa bằng các hiệp định của
WTO. Hoa Kỳ dùng cơ chế của WTO buộc các nước khá phải thực hiện các cam kết song
phương và đa phương, thực hiện mở của các thị trường mà Hoa Kỳ có lợi thế cạnh tranh
hoặc Hoa Kỳ độc quyền.
Đối với các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển
đổi như Nga, Việt Nam, Trung Quốc, các nước SNG, các nước Đông Âu cũ… Hoa Kỳ thi
hành chính sách “cây gậy và củ cà rốt”, vừa gây sức ép, vừa có những chính sách hỗ trợ ưu
đãi để thông qua các hiệp định song phương và đa phương buộc các nước này cải tổ nền
kinh tế, phát triển kinh tế thị trường, đẩy nhanh hội nhập để đảm bảo lợi ích ổn định và lâu
dài về tài chính, thương mại, đầu tư cho Hoa Kỳ.
f. Vài nét về thị trường Hoa Kỳ
Có thể nói, Hoa Kỳ là một trong những thị trường lớn nhất toàn cầu, với dân số
đông thứ ba thế giới (sau Trung Quốc và Ấn Độ). Trong năm 2006, thu nhập bình quân đầu
người của Hoa Kỳ đạt khoảng 38.200 USD/người/năm (theo US Cencus Bureau), và với
GDP là 13.194,7 nghìn tỷ USD (theo Bureau of Economic Analysis). Hoa Kỳ là một thị
trường có sức tiêu dùng lớn nhất thế giới.
GDP của Hoa Kỳ trong những năm gần đây tăng trưởng khá ổn định, mặc dù tỷ lệ
tăng trưởng không cao (do GDP của Hoa Kỳ quá lớn), song xét về mặt tuyệt đối, lượng
GDP tăng thêm của Hoa Kỳ trong mỗi năm còn lớn hơn nhiều so với tổng GDP của nhiều
nước trên thế giới.
Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét