Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Đầu tư phát triển nông nghiệp Hà Tây

Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
• Theo phân cấp quản lí
+ Dự án nhómA do thủ tướng quản lí
+Dự án nhóm B,C do bộ ,cơ quan ngang bộ hoặc UBND các tỉnh, thành
phố quản lí
• Theo nguồn vốn huy động
+ Vốn huy động trong nước
+Vốn huy động từ nước ngoài.
• Theo thời gian :
+ Đầu tư ngắn hạn
+ Đầu tư trung hạn
+ Đầu tư dài hạn
• Theo vùng lãnh thổ: phản ánh tình hình đầu tư của từng vùng kinh tế, từng
tỉnh
Ngoài các hình thức phân loại trên , còn có các hình thức phân loại khác mà
không được nêu trong bài này. Do vậy tuỳ theo mục đích mà người ta có thể
lựa chọn sử dụng từng cách phân loại cho phù hợp
3.Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế
Từ trước tới nay khi nói về đầu tư, không một nhà kinh tế học nào và
không một lí thuyết kinh tế nào lại không nói đến vai trò to lớn của đầu tư đối
với nền kinh tế . Có thể nói rằng đầu tư là cốt lõi là động lực cho sự tăng
truởng và phát triển nền kinh tế
3.1 Tác động tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế.
Đầu tư tác động mạnh tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Mức độ
tác động cũng như thời gian ảnh hưởng là khác nhau.
Đối với tổng cầu: Đầu tư là một yếu tố cực kì quan trọng cấu thành tổng
cầu. Bởi vì , đầu tư một mặt tạo ra các sản phẩm mới cho nền kinh tế mặt
khác nó lại tiêu thụ và sử dụng một khối lượng lớn hàng hoá và dịch vụ trong
quá trình thực hiện đầu tư. Do vậy, xét về mặt ngắn hạn đầu tư tác động trực
5
Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
tiếp tới tổng cầu theo một tỉ lệ thuận- Mỗi sự thay đổi của đầu tư đều ảnh
hưởng tới ổn định của tổng cầu nền kinh tế.
Đối với tổng cung: Ta biết rằng,tiến hành một công cuộc đầu tư đòi hỏi
một nguồn lực, một khối lượng vốn lớn , thành quả (hay các sản phẩm và dịch
vụ mới của nền kinh tế) của các công cuộc đầu tư đòi hỏi một thời gian khá
dài mới có thể phát huy tác dụng . Do vậy, khi các thành quả này phát huy tác
dụng làm cho sản lượng của nền kinh tế tăng lên. Như vậy , đầu tư có tính
chất lâu dài và nó sẽ làm cho đường tổng cung dài hạn của nền kinh tế tăng
lên .
Qua sự phân tích trên ta thầy rằng , đầu tư ảnh hưởng mạnh tới cả tổng
cung và tổng cầu. Bởi vì, xét về mặt cầu thì đầu tư tiêu thụ một khối lượng lớn
hàng hoá và dịch vụ cho nền kinh tế nhưng đứng về mặt cung thì nó làm cho
sản xuất gia tăng, giả cả giảm, tạo công ăn việc làm và làm tăng thu nhập từ đó
kích thích tiêu dùng. Mà sản xuất phát triển chính là nguồn gốc của phát triển
kinh tế xã hội, là điều kiện để cải thiện đời sống con người.Như vậy đầu tư là
nhân tố cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế.
3.2 Ảnh hưởng hai mặt tới sự ổn định nền kinh tế.
Khi nghiên cứu về đầu tư ai cũng hiểu rằng đầu tư luôn có một độ trễ nhất
định, tức là "đầu tư hôm nay , thành quả mai sau”. Ngoài ra do đầu tư có ảnh
hưởng tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế không ăn khớp về thời gian do
vậy nó có thể phá vỡ sự ổn định của một nền kinh tế.Nếu đầu tư tốt nó có thể
giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển . Ví dụ như các nước NICs, do
có đầu tư hiệu quả nên từ những nước còn nghèo đã trở thành những nước
công nghiệp với nền kinh tế công nghiệp tương đối phát triển.
Giả sử bây giờ ta tăng đầu tư trong nước, khi đó làm cho nhu cầu tiêu thụ
hàng hoá và dịch vụ liên quan đến công cuộc đầu tư như máy móc , thiết bị sức
lao động, nguyên vật liệu tăng theo . Điều đó làm cho tổng cầu của nền kinh
tế của những loại hàng hoá này tăng lên, theo qui luật cung cầu của kinh tế dẫn
đến giả cả của những hàng hoá này cũng tăng lên một cách mạnh mẽ, và đến
một mức độ nào đó có thì dẫn tới lạm phát ,với tỷ lệ có thể là rất cao. Khi lạm
phát xảy ra, giá cả tăng vọt, dẫn đến các chi phí đầu vào cho sản xuất tăng lên
6
Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
dấn đến sản xuất bị đình trệ, và người lao động thất nghiệp , nền kinh tế bị
giảm thu nhập và đời sống của các tầng lớp dân cư bị gảm sút. Tất cả những
điều đó làm cho nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trì trệ và làm giảm tốc độ
phát triển. Tuy nhiên nếu các quốc gia điều tiết đầu tư thì không những khắc
phục được những ảnh hưởng tiêu cực mà còn làm cho nó trở thành động lực
cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
3.3 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế .
Ta thấy rõ rằng đầu tư có ảnh hưởng đến tổng cung và tổng cầu và tác
động đến sự ổn định của nền kinh tế . Như vậy, sự tăng trưởng và phát triển
của nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn của đầu tư .
Để xem xét cụ thể ta có thể sử dụng hàm Harrod- Domar để minh hoạ mối
quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và vốn đầu tư .
i
k =
g
Trong đó: + k: hệ số gia tăng vốn trên sản lượng hay hệ số ICOR
+ i: Vốn đầu tư
+ g: Mức tăng GDP

i
Từ đó suy ra : g =
k
Như vậy, nếu ICOR không đổi thì tốc độ tăng trưởng GDP hoàn toàn phụ
thuộc vào vốn đầu tư hay nói cách khác đầu tư quyết định sự tăng truởng của
nền kinh tế.
Đối với mỗi quốc gia khác nhau ICOR cũng khác nhau ,nó tuỳ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và cơ chế chính sách của nhà nước .Đối
với các nước đang phát triển có ICOR thấp còn các nước phát triển ngược lại .
Đồng thời chỉ số ICOR của nhiều ngành kinh tế là khác nhau , trong đó ICOR
trong nông nghiệp thường là rất thấp tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp cũng
không cao.
7
Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
Ngoài ra đầu tư còn làm tăng năng suất lao động,chất lượng sản phẩm
,năng lực sản xuất do vậy thay đổi tốc độ phát triển kinh tế . Vì vậy đối với mỗi
quốc gia cần có một chính sách thích hợp để huy động vốn và đầu tư có hiệu
quả nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế nước mình .
3.4 Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
Một quốc gia được coi là phát triển khi cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp -dịch vụ -nông nghiệp trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm một tỷ lệ
cao trong GDP của nước đó . Bởi vì nông nghiệp do nhiều hạn chế về điều kiện
tự nhiên và khả năng sinh học của cây trồng vật nuôi nên chỉ có tốc độ tăng
trưởng tối đa từ 5-6% .Do vậy khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao , nó
có khả năng đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước đó lên cao 9-10% năm .
Muốn vậy chúng ta phải chính sách đầu tư thoả đáng .Mỗi nước cần tăng
cường tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ và có nhiều chính sách phát huy
hiệu quả của đầu tư có vậy thì mới có công nghiệp và dịch vụ phát triển .
Trong nông nghiệp ta cũng nên đầu tư nhiều hơn cho chăn nuôi bởi chăn
nuôi thường có tỷ lệ tăng trưởng mạnh hơn trồng trọt .
Còn đối với cơ cấu vùng lãnh thổ một quốc gia phát triển thường có cơ cấu
kinh tế lãnh thổ cân đối và đồng đều giữa các vùng trong cả nước .Do vậy bên
cạnh việc đầu tư trọng điểm để phát triển thành thị và các vùng đồng bằng
chúng ta cũng cần có chính sách để đầu tư phát triển kinh tế các vùng núi và
nông thôn để vừa phát triển kinh tế xã hội vừa tạo sự cân bằng ổn định trong
nước.
3.5. Đầu tư góp phần nâng cao trình độ khoa học công nghệ :
Ta biết rằng khoa học công nghệ là trung tâm của đời sống kinh tế xã hội
hiện đại. Một đất nước, một quốc gia chỉ phát triển được khi có khoa học công
nghệ tiên tiến và hiện đại. Ở các nước phát triển, họ có mức đầu tư lớn, có quá
trình phát triển lâu dài nên trình độ khoa học công nghệ của họ hơn hẳn các
nước khác trên thế giới. Khi họ áp dụng các thành tựu này làm cho nền kinh tế
có mức độ tăng trưởng mạnh mẽ, đời sống nhân dân nâng cao. Còn đối với các
nước đang phát triển, do công nghệ nghèo làn, lạc hậu lại không có điều kiện
để nghiên cứu phát triển khoa học kĩ thuật nền kinh tế phát triển rất thấp, sản
8
Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
xuất kém phát triển và bị phụ thuộc vào các nước công nghiệp . Muốn thoát
khỏi tình trạng này thì các nước phải tăng cường đầu tư và tìm cách thu hút đầu
tư từ bên ngoài vào trong nền kinh tế. Đầu tư ở đây được hiểu là các nước này
thu hút công nghệ hiện đại bên ngoài phù hợp đồng thời tổ chức nghiên cứu để
phát minh ra các công nghệ mới hiện đại hơn. Quá trình công nghiệp hoá hiện
đại của các nước này có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc
đầu tư phát triển khoa học công nghệ.Có thể khẳng định rằng đầu tư khoa học
công nghệ là một chính sách cực kì quan trọng trong quá trình phát triển kinh
tế xã hội.
• Ngoài các vai trò chính yếu trên,đầu tư còn có một vài vai trò khác như
làm tăng ngân sách cho chính phủ, góp phần làm ổn định đất nước, mở
rộng ảnh hưởng của quốc gia
Qua việc phân tích trên ta có thể khẳng định rằng đầu tư là chìa khoá cho
sự phát triển của mỗi quốc gia và cho toàn thế giới.
4.Quản lí đầu tư.
Đây là hoạt động có ảnh hưởng rất mạnh tới kết quả và hiệu quả đầu tư của
một đất nước nói chung, của một ngành kinh tế nói riêng
4.1 Khái niệm
Quản lí đầu tư chính là sự tác động liên tục , có tổ chức, có định hướng
quá trình đầu tư ( bao gồm công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận
hành kết quả đầu tư cho đến khi thanh lí tài sản do đầu tư tạo ra ) bằng một hệ
thống đồng bộ các biện pháp kinh tế xã hội và tổ chức kĩ thuật cùng các biện
pháp khác nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao trong những điều kiên cụ
thể và trên cơ sở vận dụng sáng tạo những qui luật kinh tế.
4.2 Mục tiêu của quản lí đầu tư : được xem xét dưới hai góc độ
• Vĩ mô:
+ Đáp úng tốt nhất việc thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển
ngành trong từng thời kì nhất định
+ Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài
nước
9
Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
+ Đảm bảo quá trình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình theo đúng
qui hoạch, kiến trúc định ra
• Vi mô
Đó là việc đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất với chi phí bỏ ra thấp
nhất trong một giai đoạn nhất định. Mục tiêu này được cụ thể trong từng giai
đoạn của quá trình đầu tư . Mục tiêu này ở các cơ sở, nếu thực hiện tốt sẽ làm
cho các công cuộc đầu tư của nó đạt kết quả cao và thúc đẩy cơ sở đó đi lên
4.3 Các nguyên tắc
• Thống nhất giữa lãnh đạo chính trị, kinh tế; kết hợp hài hoà giữa hai mặt
kinh tế và xã hội. Nguyên tắc này đòi hỏi ngành kinh tế vừa phải phát triển
nhưng mặt khác nó phải theo định hướng chung của Đảng và nhà nước và
tạo công ăn việc làm , tăng thu nhập cho người lao động
• Tập trung dân chủ:Đòi hỏi mỗi ngành kinh tế phải được đạt dưới một sự
lãnh đạo thống nhất của nhà nước nhưng những ddịnh hướng , chiến lược
chúng phải nhận được sự đóng góp của cấp dưới. Bên cạnh hướng phát
triển chung thì mỗi ngành kinh tế ở mỗi địa phương có thể tuỳ theo đặc
điểm của mình mà có những chính sách phát triển phù hợp
• Quản lí theo ngành kết hợp với quản lí theo địa phương , vùng lãnh thổ.
Đòi hỏi tại mỗi địa phương , từng ngành phải phát triển trong tổng thể chung
của địa phương đó, dảm bảo sự phát triển toàn diện các ngành kinh tế ở địa
phương.
• Kết hợp hài hoà giữa các loại lợi ích : nó đòi hỏi mỗi công cuộc đầu tư
không chỉ đáp ứng đơn thuần là lợi ích tài chính mà còn phải đáp ứng cả
lợi ích xã hôi, lợi ích cộng đồng.
• Tiết kiệm và hiệu quả: đòi hỏi một ngành với vốn đầu tư nhất định, ít các
chi phí mà thu được hiệu quả cac nhất
• Phải đảm bảo thực hiện đúng trình tự đầu tư và xây dựng
Quản lí hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự thanh công của
các công cuộc đầu tư ở mỗi ngành, mỗi địa phương và trên cả đất nước.
10
Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
5. Kế hoạch hoá đầu tư :
Nó vừa là nội dung, vừa là một công cụ để quản lí hoạt động đầu tư. Công tác
kế hoạch hoá đầu tư có tính chất hướng dẫn ,địn hướng cho việc thực hiện đầu
tư sau đó
5.1 Các nguyên tắc
+ Kế hoạch đầu tư của ngành phải xuất phát từ yêu cầu chung của đường lối
phát triển ngành đó, của cả nền kinh tế và nhu cầu của thị trường trong và
ngoài nước.
+ Phải đảm bảo qui luật khách quan, khoa học và tính hiện thực của các
phương án.
+ Kết hợp tốt về các mặt trong ngành kinh tế đó: tạo điều kiện khai thác hết
các tiềm năng của ngành, để nó phát triển toàn diện hơn
+Kế hoạch hoá ở cấp cao sẽ mang tính định hướng, kế hoạch ở các địa phương
sẽ cụ thể hoá , thực hiện đường lối đó: Điều này sẽ bảo đảm kế hoạch được
thực hiện thống nhất từ trên xuống và không bị chồng chéo
+ Phải có độ tin cậy cao va tối ưu
5.2 .Trình tự lập kế hoạch đầu tư:
Kế hoạch đầu tư ở đây được lập chủ yếu cho ngân sách nhà nước đầu tư vào
ngành kinh tế; theo trình tự sau
-Xác định nhu cầu về chủng loại và khối lượng sản phẩm . dịch vụ cho sản
xuất và tiêu dùng của kỳ kế hoạch mà ngành kinh tế phải đảm nhiệm
- Xác định khả năng đáp ứng nhu cầu của với các điều kiện hiện có ở đầu kì
kế
hoạch để xem khả năng của ngành đó ra sao
- Xác định các năng lực và dịch vụ mới cần tăng thêm trong kì
- Tiến hành lập kế họch đầu tư để đáp ứng năng lực mới tăng thêm cho kì kế
hoạch thông qua các dự án đầu tư. Việc lập kế hoạch đầu tư theo dự án lại được
tiến hành theo các bước sau đây:
+ Kế hoạch cho điều tra, khảo sát
+ Kế hoạch chuẩn bị đầu tư
11
Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
+ Kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án đầu tư
+ Kế hoạch thực hiện dự án.
5.3 Các điều kiện được ghi dự án vào kế hoạch đầu tư:
+ Phải nằm trong qui hoạch ngành
+ phải có quyết định đầu tư ( mới được ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện
dự án)
+ Phải có thiết kế kĩ thuật và tổng dự toán hay thiết kế kĩ thuât và dự toán cho
các giai đoạn đầu tư đối với các công trình lớn.
II. Đầu tư- nhân tố quyết định đối với sự phát triển nông nghiệp
1. Giới thiệu về nông nghiệp
1.1 Khái niệm.
Con người sinh ra trên đời không thể không ăn mà vẫn có thể tồn tại và
phát triển được,cho nên nhu cầu về lương thực thực phẩm là nhu cầu cấp thiết
của loài người. Muốn có lương thực và thực phẩm phải hình thành và phát triển
ngành nông nghiệp.Do vậy mà nông nghiệp xuất hiện từ rất sớm trong đời sống
loài người. Trong suốt một thời gian dài lịch sử nhân loại, ở phương Đông
cũng như phươngTây,nông nghiệp là một ngành cực kì quan trọng, không một
ngành nào có thể sánh được. Ngày nay, nông nghiệp không còn có được vị trí
như trước nữa và cũng là ngành có trình độ phát triển thấp kém hơn so với các
ngành khác trong nền kinh tế vì vậy phát triển nền nông nghiệp mạnh vẫn là
đòi hỏi thiết yếu của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm nông - lâm- ngư nghiệp,
phát triển nông nghiệp cũng có nghĩa là phát triển nông - lâm - ngư nghiệp.
Ngoài ra phát triển nông nghiệp còn gắn liền với phát triển nông thôn và nâng
12
Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
cao các điều kiện sinh hoạt ở nông thôn. Nông nghiệp được hiểu theo nghĩa
hẹp chỉ bao gồm hai nghành trồng trọt và chăn nuôi.
Việt Nam chúng ta là một nông nghiệp lâu đời với truyền thống hàng
nghìn năm trồng lúa nước .Có thể nói nước ta có nhiều điều kiện về tự nhiên và
con người rất thuân lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp vững mạnh
Tuy rằng, nông nghiệp chiếm một vị trí ngày càng thấp kém trong nền kinh tế
nhưng trong giai đoạn này nó vẫn là một ngành kinh tế quan trọng , góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xuất khẩu và thu ngoại tệ cho đất nước, cải thiện
đời sống nhân dân Phát triển nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết của đất nước
trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
1.2 Đặc điểm của nông nghiệp nói chung
Từ việc nghiên cứu tình hình thực tế và những kinh nghiệm của người đi
trước, người ta thấy rằng ngành nông nghiệp có một vài đặc điểm sau:

a.Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu.
Đây là một đặc điểm cực kì quan trọng và khác biệt của nông nghiệp.
Trong nông nghiệp, đặt biệt trong trồng trọt thì đất là một yếu tố sản xuất
không thể thiếu được, đất vừa là nơi sản xuất cũng chính là yếu tố quyết định
cho sự sinh tồn của cây trồng , như vậy đất là không thể thiếu cho nông nghiệp.
Cùng với các yếu tố khác như sự chăm sóc của con người, tưới tiêu và thời
tiết, chất lượng đất đai có ảnh hưởng mạnh tới năng suất chất lượng sản phẩm
nông nghiệp và thành quả lao động của người nông dân, Vì thế , muốn nông
nhgiệp đạt kết quả cao thì phải có những biện pháp tác động và đất đai.Tuy
nhiên đất là do tự nhiên tạo ra cho nên ta không thể thay đổi hoàn toàn những
điều kiện của đất. Do đặc điểm này mà mức độ tác động của con người trong
sản xuất nông nghiệp là rất hạn chế, mức độ áp dụng tiến bộ khoa học cũng
không thật nhiều nên nông nghiệp là ngành có tốc độ phát triển không cao và
nhanh như các ngành kinh tế khác.Tuy vậy, đối với một số lĩnh vực chăn nuôi
đất đai cũng chỉ là mặt bằng để tiến hành sản xuất như các ngành kinh tế khác
và nó không chịu nhiều ảnh hưởng của đất.
13
Luận văn tốt nghiệp Đầu tư K39
b.Đối tượng sản suất là những cơ thể sống
Một đặc điểm khác nữa của nông nghiệp so với các ngành kinh tế khác là
đối với các ngành này thì đối tượng sản xuất là những sản phẩm hàng hoá còn
đối tượng sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống , đó là nhưng cây trồng
vật nuôi có sẵn trong tự nhiên được con người đem về thuần dưỡng. Những đối
tượng này thường có những qui luật tăng trưởng và phát triển nhất định, mặc
dù đã được con người thay đổi ít nhiều, chúng cũng chịu ảnh hưởng rất mạnh
mẽ của các điều kiện tự nhiên và cũng không thể tăng trưởng quá mức cho
phép của qui luật tự nhiên. Vì những đặc trưng trên mà ngành nông nghiệp có
tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên ,tốc độ
tăng trưởng nông nghiệp có thể đạt cao hơn nếu con người tác động vào các cơ
thể sống này thông qua việc phát triển công nghiệp sinh học để tạo ra những
giống cât trồng mới với năng suất và chất lượng sản phẩm cao hơn. Chúng ta
cũng cần tìm hiểu các qui luật phát triển của các đối tượng sống này để tìm ra
các biện pháp chăm sóc kịp thời và có các loại phân bón tốt nhất vào các thời
điểm cụ thể.
c.Nông nghiệp là ngành sản xuất chịu ảnh hưởng mạnh của các điều kiện tự
nhiên.
Do vậy mỗi sự thay đổi nhỏ của tự nhiên đều ảnh hưởng tới nông nghiệp;
đối với các ngành kinh tế khác, thì mức độ phụ thuộc này là không lớn; như
công nghiệp,thì dù trời có đổ mưa hay có gió lớn thì người ta vẫn tiến hành sản
xuất bình thường và sự thay dổi trong kế hoạch sản xuất là không đáng kể.
Nhưng đối với ngành nông nghiệp thì khác hẳn, mọi sự thay đổi đều có ảnh
hưởng, như đất tốt hay xấu đều ảnh hưởng tới năng suất chất lượng sản phẩm.
Nếu thời tiết tốt, phù hợp với yêu cầu , chúng ta đạt được một vụ mùa bội thu
còn nếu thời tiết xấu thì ngược lại. Vì vậy trong nông nghiệp chúng ta cần hạn
chế các ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên hoặc phải có những biện pháp khai
thác tự nhiên tốt nhất thì chúng ta với thu được các kết quả cao và giúp cho sản
xuất nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định.
d.Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ cao.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét