Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Luật đất đai

- Thông tư số 30/2004/TT- BTNMT, ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất;
- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005
của cả nước đã được Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI
thông qua tại kỳ họp thứ 5 (Nghị quyết số 29/2004/QH11);
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2006 – 2010) của cả nước.
- Kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 – 2010) của cả nước.
- Quy hoạch sử dụng đất TP.Hồ Chí Minh đến năm 2010 đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 1060/2004/QĐ-TTg, và Kế hoạch sử dụng đất
đai 5 năm (2001 – 2005) TP.Hồ Chí Minh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
tại quyết định số 844/2004/QĐ-TTg;
- Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 18/11/2002 của Bộ Chính trị về phương hướng
nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010;
- Quyết định 146/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về
phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020;
- Nghị quyết 53-NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh
tế - xã hội và đảm bảo và quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam bộ và vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Quyết định số 123/2006/QĐ-TTg ngày 29/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 53-
NQ/TW ngày 29/8/2005 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo
và quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
- Nghị quyết và văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ
VIII;
- Quyết định 123/1998/QĐ-TTg ngày 10/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020.
3.2. Quy hoạch và định hướng của các ngành
- Quy hoạch phát triển hệ thống mạng lưới Chợ – Siêu thị, trung tâm thương
mại của 22 quận, huyện trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010 (Sở
Thương mại);
- Định hướng quy hoạch phát triển công nghiệp TP.Hồ Chí Minh đến năm 2010
có tính đến năm 2020 theo QĐ 188/2004/QĐ-TTg ngày 01/11/2004 của Thủ tướng
Chính phủ;
- Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở vật chất ngành Y tế Thành phố Hồ Chí
Minh đến năm 2020 (Sở Y tế);
- Phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh (Sở Giáo dục
và đào tạo);
- Quy hoạch phát triển mạng lưới ngành thể dục thể thao đến năm 2020 (Sở
Thể dục - Thể thao);
- Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở vật chất ngành văn hóa thông tin đến
năm 2010 (Sở Văn hóa và thông tin);
- Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh đến năm
2020;
- Điều chỉnh quy hoạch đến năm 2010 và Quy hoạch cây xanh đô thị dài hạn
đến năm 2020 (Công ty công viên cây xanh);
- Chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010
(Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn);
- Các quyết định phê duyệt quy hoạch: Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Khu đô thị
Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh;
- Nhiệm vụ quy hoạch chung Khu đô thị Tây bắc và kế hoạch sử dụng đất 5
năm (2006-2010) trên địa bàn Khu đô thị Tây bắc (Ban Quản lý Khu đô thị Tây bắc);
- Tài liệu kiểm kê đất đai năm 2000, năm 2005 của toàn thành phố Hồ Chí
Minh và của các quận huyện;
- Tài liệu đo đạc bản đồ địa chính trên địa bàn các quận huyện.
4. Cơ sở khoa học và phương pháp điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất
Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5
năm 2006 – 2010 của thành phố Hồ Chí Minh được xây dựng theo trình tự từ trên
xuống và kết hợp từ dưới lên; vừa dựa trên nhu cầu chung của Thành phố về sử dụng
đất (bao gồm cả nhu cầu về sử dụng đất của các Bộ, ngành Trung ương), vừa dựa trên
đề xuất về sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực và các quận, huyện trên địa bàn
Thành phố đến năm 2010, đặt Thành phố trong bối cảnh chung của cả nước, của vùng
Đông Nam bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam để dự báo biến động về quỹ đất
gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế, dân số và nhu cầu bảo vệ môi trường cho thời
kỳ đến năm 2010. Phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất được kiểm tra bằng
số liệu quy hoạch sử dụng đất của các quận, huyện của Thành phố, kết hợp với điều
tra bổ sung theo các tuyến. Phương pháp cụ thể như sau:
- Phân tích hiện trạng sử dụng đất của Thành phố tại thời điểm năm 2005, quá
trình sử dụng đất trong thời kỳ 2000 - 2005, kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất
đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2005, điều tra, phân tích,
đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất trong kỳ
quy hoạch sử dụng đất của Thành phố, từ đó xác định xu hướng biến động sử dụng
đất và khả năng thực hiện chuyển đổi quỹ đất đối với một số loại đất cần quan tâm
như đất nông nghiệp, đất ở và đất chuyên dùng.
- Phân tích nhu cầu sử dụng đất theo các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai
đoạn 2006 – 2010 theo quy hoạch phát triển các ngành, các khu vực đã được Chính
phủ và Uỷ ban nhân dân Thành phố xét duyệt trong thời gian qua. Từ đó đưa ra chỉ
tiêu phát triển của từng ngành tại thời điểm 2010 cần phải bố trí và điều chỉnh quỹ
đất.
- Điều chỉnh bố trí quỹ đất đối với từng loại đất để thực hiện các chỉ tiêu phát
triển của từng ngành phù hợp với hiện trạng sử dụng đất năm 2005, khả năng thực
hiện chuyển đổi quỹ đất, định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học và công nghệ có
liên quan đến việc sử dụng đất.
- Kiểm tra phương án điều chỉnh bố trí quỹ đất bằng việc so sánh với phương
án quy hoạch sử dụng đất của các quận, huyện, thị xã của Thành phố.
5. Mục đích, yêu cầu Điều chỉnh quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất Thành
phố:
- Đánh giá thực trạng và tiềm năng đất đai để có kế hoạch và phương án đầu tư,
sử dụng hợp lý các loại đất phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
của Thành phố và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020, đồng thời đảm
bảo sự phù hợp với tiến độ đầu tư giai đoạn 2006 – 2010;
- Định hướng và xây dựng bộ số liệu gốc, làm cơ sở để lập quy hoạch sử dụng
đất cho các quận, huyện; làm cơ sở cho cấp xã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
chi tiết, đồng thời là tiền đề để các ngành xây dựng dự án, lập quy hoạch chi tiết các
công trình, dự án đầu tư.
- Làm cơ sở để quản lý thống nhất đất đai theo quy định của pháp luật, bảo vệ
tài nguyên đất, môi trường sinh thái và nâng cao đời sống xã hội, phát triển kinh tế
phù hợp với việc sử dụng các nguồn tài nguyên một cách bền vững.
Phần I
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ CẢNH QUAN MÔI TRƯỜNG
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc khu vực Nam Bộ, trong vùng phát triển kinh tế
trọng điểm phía Nam, nơi hội lưu của các con sông như sông Đồng Nai và sông Sài
Gòn. Thành phố Hồ Chí Minh trải dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có tọa độ địa lý
từ 10
0
22’13” đến 11
0
22’17” vĩ độ Bắc và 106
0
01’25” đến 107
0
01’10” kinh độ Đông,
giáp ranh với các tỉnh:
- Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai; phía Đông Nam giáp tỉnh Bà
Rịa - Vũng Tàu.
- Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An, Tiền Giang; phía Tây Bắc giáp tỉnh
Tây Ninh.
- Phía Nam giáp biển Đông.
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương.
Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 209.554,47 ha, gồm 19 quận: 1, 2, 3, 4, 5,
6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận, Thủ Đức, Bình Tân,
Tân Phú và 5 huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ.
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất cả nước, một trong những đầu mối
kinh tế lớn hội đủ các điều kiện thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường
sắt, đường hàng không, nối liền với các địa phương trong nước và quốc tế.
Hệ thống thương cảng quốc tế Sài Gòn nối liền với các cảng trong nước và thế
giới (như khu cảng Sài Gòn, khu cảng Nhà Bè, khu cảng Cát Lái ).
Hệ thống đường bộ có Quốc lộ 1A nối liền Thành phố với các tỉnh phía Bắc và các tỉnh Đồng
bằng sông Cửu Long; Quốc lộ 22 đi Tây Ninh nối liền với Campuchia; Quốc lộ 13 qua Bình Dương,
Bình Phước nối liền với Quốc lộ 14 kéo dài suốt Tây nguyên; Quốc lộ 51 nối liền với Đồng Nai và
Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc lộ 50 đi Long An, Tiền Giang và nhiều tỉnh lộ nối trực tiếp với các tỉnh
xung quanh.
Thành phố cũng là đầu mối cuối cùng của đường sắt thống nhất Bắc - Nam.
Sân bay Tân Sơn Nhất là một sân bay quốc tế lớn của nước ta.
Nhìn chung, vị trí của Thành phố có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
thành một đô thị hiện đại, một trung tâm kinh tế lớn và năng động ngang tầm các
nước trong khu vực. Song đó cũng là nhân tố gây sức ép mạnh mẽ đến môi trường
và đất đai của Thành phố.
1.2. Địa hình, địa mạo
Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh phần lớn bằng phẳng, thấp, có một phần diện tích dạng đất
gò ở phía Bắc và Đông Bắc với độ cao giảm dần theo hướng Đông Nam. Địa hình Thành phố có thể
chia thành bốn dạng chính:
- Dạng đất gò cao:
Có độ cao biến thiên từ 4 đến 32 m. Trong đó phần diện tích có độ cao từ 4 – 10
m chiếm khoảng 19% tổng diện tích tự nhiên; phần diện tích có độ cao trên 10 m chiếm
khoảng 11% tổng diện tích tự nhiên. Dạng địa hình này phân bố chủ yếu ở huyện Củ Chi
và một phần ở Quận 9, Thủ Đức.
- Dạng đất bằng thấp:
Chiếm khoảng 15% tổng diện tích tự nhiên. Độ cao 2 - 4 m, điều kiện tiêu thoát
nước tương đối thuận lợi. Phân bố chủ yếu ở các quận nội thành, một phần ở Thủ Đức,
Hóc Môn nằm dọc theo sông Sài Gòn và phía Nam huyện Bình Chánh.
- Dạng trũng thấp, lầy ở phía Tây Nam:
Chiếm khoảng 34% diện tích tự nhiên, độ cao phổ biến từ 1 - 2 m. Phân bố dọc
theo kênh An Hạ, Lê Minh Xuân, Tân Nhựt, Tam Tân, Thái Mỹ kéo dài từ các huyện
Bình Chánh đến Củ Chi, khu vực trung tâm huyện Nhà Bè, Bưng Sáu Xã của Thủ
Đức (cũ) và phía Bắc huyện Cần Giờ.
- Dạng trũng thấp mới hình thành ven biển:
Chiếm khoảng 21% tổng diện tích tự nhiên. Dạng địa hình này có độ cao phổ
biến khoảng 0 - 1 m, nhiều nơi có độ cao thấp hơn mực nước biển, nhìn chung đa số
chịu ảnh hưởng của thuỷ triều hàng ngày.
1.3. Khí hậu
Thành phố nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất cận
xích đạo với hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12
đến tháng 4 năm sau.
- Nhiệt độ:
Nhiệt độ cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình cả năm khoảng 28
0
C
(dao động trong khoảng 26,6 - 30,1
0
C). Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và
tháng lạnh nhất khoảng 4
0
C, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4, thấp nhất là tháng
12.
Lượng bức xạ dồi dào (trung bình khoảng 140 Kcal/cm
2
/năm) nhưng có sự khác
biệt về cấu trúc mùa. Mùa khô có bức xạ mặt trời cao, thời kỳ có bức xạ cao vào
tháng 4 và 5 (đạt 400 - 500 cal/cm
2
/ngày). Mùa mưa có bức xạ mặt trời thấp hơn,
cường độ bức xạ cao nhất đạt 300 - 400 cal/cm
2
/ngày.
- Độ ẩm:
Độ ẩm trung bình cả năm khoảng 75%. Có sự chênh lệch rõ rệt theo mùa.
- Lượng mưa:
Lượng mưa thay đổi theo từng khu vực và phân bố không đều, tập trung chủ yếu
từ tháng 5 đến tháng 11, lớn nhất vào tháng 7 hoặc tháng 10
- Chế độ gió:
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của hai hướng gió
mùa chủ yếu: Từ ngoài biển Đông thổi về theo hướng Đông Nam - Tây Bắc (thịnh
hành trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 4); Từ Ấn Độ Dương thổi về theo
hướng Tây Nam - Đông Bắc (thịnh hành trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng
10).
Ngoài ra còn có hướng gió từ phương Bắc thổi về, đây là hướng gió thịnh hành
trong tháng 11, 12 và tháng 1. Hướng gió hoạt động trong năm có ý nghĩa quan trọng
trong việc bố trí các khu công nghiệp, dân cư, nhất là các ngành công nghiệp có khả
năng gây ô nhiễm không khí.
1.4. Thuỷ văn
Thành phố nằm giữa hai sông lớn là sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và chịu
ảnh hưởng lớn của sông Đồng Nai.
- Sông Đồng Nai:
Là sông lớn nhất trong hệ thống Đồng Nai - Sài Gòn. (Sông Đồng Nai nối
thông qua sông Sài Gòn bằng hệ thống kênh Rạch Chiếc). Tại địa phận Quận 9, sông
rộng 400 - 600 m. Lòng sông không sâu so với các sông khác, độ sâu trung bình 12 -
15 m, dòng chảy trung bình 500 m
3
/s.
- Sông Sài Gòn:
Là sông có độ dốc nhỏ, lòng dẫn hẹp nhưng sâu, ít khu chứa do vậy thuỷ triều
truyền vào rất sâu và mạnh. Chế độ thuỷ văn, dòng chảy của các kênh rạch trong
Thành phố chịu ảnh hưởng chủ yếu của sông Sài Gòn.
- Sông Vàm Cỏ Đông:
Sông Vàm Cỏ Đông có rất nhiều sông nhánh nối với hệ thống kênh rạch khu
vực Tây Nam Thành phố.
- Hệ thống kênh rạch của Thành phố có thể khái quát làm hai hệ thống chính:
Hệ thống các kênh rạch đổ vào sông Sài Gòn với hai nhánh chính là rạch Bến
Cát và kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè.
Hệ thống kênh rạch đổ vào sông Bến Lức và kênh Đôi, kênh Tẻ như rạch Tân
Kiên, rạch Bà Hom, rạch Tân Hoá - Lò Gốm Đặc điểm của các kênh rạch này là chúng
tương đối độc lập và bắt nguồn từ vùng đất cao.
Nét nổi bật chi phối tất cả các chế độ dòng chảy trong khu vực Thành phố là sự
xâm nhập của thuỷ triều. Phân tích biên độ dao động của thuỷ triều tại các trạm Bến
Lức, Gò Dầu Hạ (trên sông Vàm Cỏ Đông), các trạm Nhà Bè, Phú An, Thủ Dầu Một
(trên sông Sài Gòn) cho thấy biên độ dao động thuỷ triều dọc sông Sài Gòn thay đổi
và giảm dần từ cửa sông đến Dầu Tiếng và biên độ dao động của thuỷ triều trên sông
Vàm Cỏ Đông nhỏ hơn trên sông Sài Gòn rất nhiều. Với chế độ dòng triều như vậy
cho nên hầu như các ảnh hưởng và sự trao đổi dòng chảy giữa hai sông Sài Gòn và
Vàm Cỏ Đông rất yếu và đó cũng là nguyên nhân tạo ra các giáp nước (nơi dòng
chảy đổi chiều, tốc độ dòng chảy bằng 0 hoặc gần bằng 0) trên sông Bến Lức và kênh
Thầy Cai.
2. Các nguồn tài nguyên
2.1. Tài nguyên đất
Theo tài liệu khảo sát thổ nhưỡng, trên địa bàn các huyện và quận ven Thành
phố Hồ Chí Minh, có 6 loại đất chính sau đây:
2.1.1. Đất cát:
Đất cát có diện tích 6.704 ha, chiếm 3,2% diện tích tự nhiên. Phân bố ở huyện
Cần Giờ.
Đất có tỷ lệ cấp hạt cát cao (76 - 85%), trong đó cấp hạt cát mịn chiếm tỷ trọng
lớn nhất trong tổng số các cấp hạt (47 - 53%), tỷ lệ cấp hạt sét và limon rất thấp (15 -
17%). Đất cát nghèo mùn, đạm, lân và kali.
2.1.2. Đất mặn:
Với diện tích 25.559 ha, chiếm khoảng 12,2% diện tích tự nhiên. Phân bố tập
trung ở huyện Cần Giờ.
Loại đất này hình thành trên trầm tích sông, biển và đầm lầy biển bị xâm nhập
mặn hơi chua ở tầng mặt (pH < 5), các tầng ở dưới ít chua đến trung tính, đạt trị số
pH 6,5 - 7 ở độ sâu trên 100 cm.
Đất có thành phần cơ giới nặng; Các chỉ tiêu độ phì ở mức trung bình khá,
hàm lượng chất hữu cơ giàu (2,5 - 3,5%), hàm lượng đạm tổng số tương đối cao
(0,2%). Đất mặn thích hợp cho việc trồng rừng, đặc biệt đối với cây đước, sú,
vẹt,
2.1.3. Đất phèn:
Chủ yếu là đất phèn tiềm tàng, diện tích khoảng 57.613 ha, chiếm 27,5% diện tích tự nhiên.
Phân bố ở các vùng thấp, trũng, tiêu thoát nước kém như: phía Nam huyện Bình Chánh, Nhà Bè, ven
sông Đồng Nai, Sài Gòn và phía Bắc huyện Cần Giờ.
Đất phèn được hình thành trên trầm tích đầm lầy biển (đầm mặn). Trong điều kiện
yếm khí phèn ở dạng tiềm tàng, trong phẫu diện chỉ có tầng Pyrite. Khi có quá trình thoát
thuỷ, tạo ra môi trường oxy hoá, tầng Pyrite chuyển thành tầng Jarosite làm cho đất chua
đồng thời giải phóng nhôm gây độc hại cho cây trồng.
Tầng sinh phèn và tầng phèn thường rất nông, nhiều nơi phát hiện ngay ở tầng
đất mặt, hàm lượng lưu huỳnh và các độc tố Fe
2+
, Fe
3+
, Al
3+
rất cao. Nhìn chung đất
có độ pH thấp, hàm lượng Cl
-
và các muối tan rất cao vì đất thường xuyên chịu ảnh
hưởng của nước biển làm cho đất phèn trở nên phức tạp và diễn biến nhanh chóng
theo chiều hướng bất lợi cho sản xuất cũng như môi trường. Mg
2+
và Na
2+
chiếm vai
trò chính trong thành phần các cation trao đổi.
Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng, cùng với sự tích luỹ muối
phá vỡ các keo đất làm cho đất dính dẻo khi ướt, nứt nẻ và cứng khi khô. Do đất phèn
được hình thành trên trầm tích Holocen, cùng với quá trình trầm tích là quá trình vùi
lấp các thân xác thực vật biển trong điều kiện yếm khí nên đất phèn thường rất giầu
các hợp chất hữu cơ (5 - 12%).
Các loại đất phèn có tầng sinh phèn sâu, không còn chịu ảnh hưởng của nước
biển và thường có nguồn nước tưới. Hiện nay, đất phèn đã được khai thác trồng lúa 2
- 3 vụ, rau màu và các loại cây ăn quả. Còn lại một diện tích lớn các đất phèn có tầng
sinh phèn nông, còn chịu ảnh hưởng của thuỷ triều được sử dụng cho việc trồng và
bảo vệ rừng ngập mặn.
2.1.4. Đất phù sa:
Có diện tích khoảng 26.397 ha, chiếm 12,6% diện tích tự nhiên, trong đó loại
đất phù sa ngọt chỉ chiếm khoảng 2,5%. Phân bố chủ yếu ở vùng Nam Bình Chánh và
một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn, độ cao khoảng 1,5 m. Các chất dinh dưỡng về mùn,
đạm, lân và kali rất giàu. Đây là loại đất tốt, cần thiết phải được cung cấp nước tưới,
ưu tiên sản xuất lúa nước 2 - 3 vụ và sử dụng một phần diện tích cho việc trồng cây ăn
trái.
2.1.5. Đất xám:
Có diện tích khoảng 40.434 ha, chiếm khoảng 19,3% diện tích tự nhiên. Phân
bố chủ yếu trên vùng đất cao, gò ở huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận Thủ Đức,
quận 9 và phía Bắc huyện Bình Chánh.
Đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu hình thành trên mẫu chất phù sa
cổ. Tầng đất thường rất dầy, thành phần cơ giới nhẹ. Đất có phản ứng chua; hàm
lượng mùn, đạm tầng đất mặt khá nhưng rất nghèo kali do vậy trong sản xuất nông
nghiệp phải đầu tư nhiều phân bón.
Loại đất này dễ thoát nước, thuận lợi cho cơ giới hoá và thích hợp với loại cây
hàng năm và cây công nghiệp ngắn ngày. Trong sử dụng phải chú ý biện pháp chống
xói mòn và rửa trôi, tăng cường bón phân bổ sung dinh dưỡng nhất là phân hữu cơ.
2.1.6. Đất đỏ vàng:
Có diện tích khoảng 3.143 ha, chiếm 1,5% diện tích tự nhiên. Phân bố trên
vùng gò ở huyện Củ Chi và quận Thủ Đức, quận 9.
Đất hình thành trên các sản phẩm phong hoá của các loại đá mẹ và mẫu chất
khác nhau. Đặc điểm chung của nhóm đất này là chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp
phụ không cao, khoáng sét phổ biến là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là fuvic, chất hoà
tan dễ bị rửa trôi. Nên ưu tiên sử dụng cho việc trồng các cây như cao su, điều vì có
khả năng bảo vệ và cải tạo đất tốt.
2.2. Các loại tài nguyên khác
2.2.1 Tài nguyên nước
2.2.1.1 Nước mặt
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng hạ lưu của hệ sông Đồng Nai - Sài
Gòn, giáp với biển Đông, nên nguồn nước ngọt của sông Đồng Nai là nguồn nước
ngọt chính với diện tích lưu vực khoảng 45.000 km
2
, hàng năm cung cấp 15 tỷ m
3
nước. Trong thời gian qua, một số các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện được xây dựng
chỉ làm thay đổi lượng nước theo mùa nhưng không thay đổi về tổng lượng nói
chung.
Nước mặt trên địa bàn Thành phố hiện nay chủ yếu sử dụng cho nông nghiệp
và nuôi trồng thủy sản tại các huyện Hóc Môn, Củ Chi, Bình Chánh, Nhà Bè và Cần
Giờ với lưu lượng khoảng 100 triệu m
3
/năm.
2.2.1.2. Nước dưới đất
Nguồn nước dưới đất phân bố khá rộng, nước dưới đất ngọt phân bố chủ yếu ở
các tầng chứa nước Pliocen ở độ sâu 100 - 300 m, cá biệt có nơi 20 - 50 m. Tập trung tại
các huyện Củ Chi, Hóc Môn, phía Bắc huyện Bình Chánh, các quận Tân Bình, Gò
Vấp trữ lượng khai thác ước tính 300 - 400 m
3
/ngày.
Nước dưới đất đã được khai thác và sử dụng từ những năm đầu thế kỷ XX và bùng nổ việc
khai thác từ sau năm 1991. Tổng lưu lượng nước hiện đang khai thác khoảng 600.000 m
3
/ngày, chiếm
trên 30% nhu cầu nước sinh hoạt của Thành phố. Hiện nay, Thành phố đang mở rộng mạng lưới cấp
nước, tăng khai thác nước mặt để dần dần giảm khai thác lượng nước dưới đất.
2.2.2. Tài nguyên rừng
Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 33.857,86
ha đất lâm nghiệp; chiếm 16,16% diện tích đất tự nhiên.
Rừng phân bố tập trung ở Cần Giờ, Bình Chánh và Củ Chi, trong đó chủ yếu là
diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ (chiếm khoảng 94% diện tích rừng). Số diện tích
còn lại phân bố ở Bình Chánh và Củ Chi dưới dạng rừng thứ sinh tự nhiên và rừng
trồng, với các loại thực vật chủ yếu là bạch đàn và keo lá tràm.
Rừng Cần Giờ không những là rừng phòng hộ mà còn là khu dự trữ sinh quyển
được UNESCO công nhận. Động thực vật chủ yếu là các chủng loại chịu mặn (đước,
sú, vẹt, ; khỉ, chim, cá, ).
2.2.3. Tài nguyên biển
Thành phố Hồ Chí Minh duy nhất ở huyện Cần Giờ là có biển với chiều dài bờ
biển khoảng 15 km kéo dài từ tỉnh Tiền Giang đến giáp ranh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
(ngược) với hai vịnh lớn nhất là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái.
Nguồn lợi từ biển chủ yếu là nuôi trồng thủy hải sản, đánh bắt gần bờ và khai thác muối.
Việc khai thác, đánh bắt xa bờ còn hạn chế do đầu tư chưa đúng mức.
Hiện nay Thành phố đang có chủ trương tận dụng các bãi biển và chuyển đổi
cơ cấu từ lúa năng suất thấp đất làm muối năng suất không ổn định sang nuôi trồng
thuỷ hải sản, đồng thời đầu tư tàu công suất lớn phục vụ khai thác, đánh bắt xa bờ.
Tuy nhiên, vấn đề này cần phải được xem xét nghiêm túc tránh tình trạng xảy ra hiện
tượng xâm mặn.
2.2.4. Tài nguyên khoáng sản
Theo các tài liệu hiện có về tiềm năng khoáng sản và hiện trạng khai thác mỏ,
Thành phố Hồ Chí Minh có các loại khoáng sản sau:
- Than bùn: Là một dạng nhiên liệu hóa thạch gồm mùn hữu cơ và bùn sét.
Phân bố rải rác ở Láng Le (Bình Chánh), Nhị Bình (Hóc Môn), Tam Tân (Củ Chi),
Long Phước, Tăng Nhơn Phú (Quận 9) và các điểm than bùn ở huyện Cần Giờ. Tổng
trữ lượng tài nguyên dự báo khoảng 3.390.000 tấn.
- Kaolin: Loại đất sét mịn, trắng, là nguyên liệu chính để sản xuất gốm, sứ,
gạch men, sản xuất sơn, giấy, chất độn cho một số dược phẩm, thuốc trừ sâu,… và có
thể chế biến tạo thành zeolit. Phân bố ở khu vực huyện Củ Chi, Thủ Đức với chất
lượng không đồng đều, độ thu hồi từ 20 - 80%, tinh quặng kaolin có chất lượng chủ
yếu thuộc hạng IV. Trữ lượng thăm dò cho các mỏ Rạch Sơn, Bàu Chứa, Linh Xuân
(cấp B + C1): 4.223.168 tấn. Tổng trữ lượng tài nguyên dự báo (cấp P): 12.734.340
tấn.
- Đá xây dựng: Phân bố rải rác ở một số nơi như ấp Hàm Luông, bến đò Long
Bình và ấp Giồng Chùa. Tổng trữ lượng tiềm năng khoảng 25 triệu m
3
. Mỏ đá Long
Bình đã khai thác được khoảng 1 triệu m
3
.
- Cát xây dựng: Chủ yếu từ các thành tạo trầm tích Pleistocen muộn và
Pleistocen giữa - muộn ở các khu vực Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn và trên các tuyến
sông. Cát xây dựng chưa được đánh giá trữ lượng. Riêng đoạn sông từ cầu Đồng Nai
đến ngã ba sông Sài Gòn (ngã ba Đèn đỏ) với chiều dài khoảng 40 km, tổng trữ lượng
tài nguyên cấp C là 37.500.000 m
3
.
- Sét gạch ngói: Phân bố nhiều nơi trên địa bàn tThành phố với 2 kiểu nguồn

Xem chi tiết: Luật đất đai


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét