Luận văn tốt nghiệp
nghiệp đều chấp nhận trả công lao động theo năng suất cá biệt hoặc theo
mức độ thực hiện của từng cá nhân.
b. Năng suất của doanh nghiệp.
Năng suất của doanh nghiệp là tỷ số giữa tổng đầu ra của doanh nghiệp
với tổng đầu vào có điều chỉnh hệ số lạm phát trong một khoảng thời gian
nhất định. Vì thế, cạnh tranh scủa doanh nghiệp phụ thuộc vào chi phí và chất
lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Chi phí thấp với chất lượng cao
của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra tạo ra sự cạnh tranh của doanh
nghiệp.
c. Năng suất quốc gia.
Năng suất quốc gia phản ánh tổng giá trị sản xuất trên một lao động ở một
nước cụ thể. Năng suất quốc gia tạo ra sức mạnh kinh tế của một đất nước và
là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá tiêu chuẩn sống. Năng suất quốc gia là
chỉ số của nền kinh tế quốc dân nói chung và chỉ số để so sánh giữa các nước.
III. NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN.
1. Mối quan hệ giữa năng suất và hiệu quả kính tế
Hiệu quả được hiểu là mối tương quan giữa đầu ra và đầu vào. Hiệu
quả là phạm trù rộng bao trùm mọi vấn đề. Hiệu quả của các hoạt động kinh
tế cuả doanh nghiệp không chỉ phản ánh thông qua các chỉ tiêu tài chính mà
bao gồm cả các kết quả xã hội mà nó mang lại. Hiện nay, theo khái niệm của
các nước, khái niệm năng suất rộng hơn và sẽ bao trùm cả hiệu quả. Năng
suất được hiểu hai mặt là hiệu quả và tính hiệu quả. Hiệu quả là nói về mức
độ sử dụng các nguồn lực và tính hiệu quả của chi phí hay hiệu qủa của việc
khai thác, huy động sử dụng các nguồn lực đầu vào, nó gắn với lợi nhuận hơn.
Tính hiệu qủa chủ yếu đề cập đến mặt chất của đầu ra như tính hữu ích, mức
độ thoả mãn người tiêu dùng, mức độ bảo đảm các yêu cầu về xã hội.
Đối với các doanh nghiệp, tăng năng suất là phạm trù rộng hơn hiệu
quả, bao gồm đồng thời việc hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng và
nguồn lực để tăng lợi nhuận lẫn việc mở rộng số lượng và chủng loại hàng
5
Luận văn tốt nghiệp
hoá, nâng cao không ngừng chất lượng và dịch vụ của hàng hoá nhằm tăng
thoả mãn của hàng hoá đối với người tiêu dùng và cả xã hội. Nâng cao năng
suất cần thiết phải bảo đảm sử dụng nhiều lao động hơn với chất lượng lao
động cao hơn.
2. Mối quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh.
Quan hệ giữa năng suất và khả năng cạnh tranh là mối quan hệ nhân
quả, tác động qua lại lẫn nhau.
Trong mối quan hệ năng suất và cạnh tranh thì năng suất là cơ sở cho
cạnh tranh lâu dài và bền vững. Năng suất có tác động mạnh tới khả năng
cạnh tranh do:
Tài sản cạnh tranh kết hợp với quá trình cạnh tranh tạo ra khả năng
cạnh tranh.
Trước kia, người ta coi khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào lợi thế so
sánh về tài nguyên và nhân lực. Điều này không thể giải thích được tại sao
những nước có nguồn tài nguyên nghèo nàn nhưng khả năng cạnh tranh lại
cao. Vì vậy khả năng cạnh tranh cần tạo ra từ năng lực quản lý, sử dụng tối ưu
các nguồn lực.
Do giữa năng suất và khả năng cạnh tranh có mối quan hệ qua lại nên
khả năng cạnh tranh cũng có tác động ngược trở lại. Khi tài sản và quá trình
được quản lý một cách có hiệu quả, nhờ đó chuyển thành năng suất cao hơn,
chi phí lao động trên một đơn vị GDP giảm xuống trong khi sản phẩm vẫn đạt
hoặc vượt mức đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Khả năng cạnh tranh tăng lên phụ thuộc vào cả hai yếu tố giảm chi phí
và tăng mức thỏa mãn nhu cầu. Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất
phản ánh khả năng cạnh tranh là chi phí lao động cho một đơn vị sản phẩm
hoặc trong giá trị gia tăng.
Việc tăng khả năng cạnh tranh lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị phần, tăng quy mô
sản xuất, chất lượng sản phẩm và trình độ tay nghề người lao động được nâng cao, tăng khả năng đầu tư vào
mở rộng sản xuất. Nhờ đó lại tạo điều kiện cho tăng năng suất và nó lại tiếp tục làm tăng khả năng cạnh
tranh. Đây là mối quan hệ trong trạng thái phát triển không ngừng.
6
Luận văn tốt nghiệp
3. Mối quan hệ giữa năng suất với tăng trưởng kinh tế và việc làm.
Nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tăng năng suất và tăng việc làm.
Thực tế cho thấy, nếu không có khả năng tổ chức phát triển tốt, tăng năng suất
không dẫn đến giảm việc làm. Hầu hết các nước có trình độ năng suất cao lại
là những nước giải quyết tốt vấn đề việc làm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế với tăng năng suất và việc làm như sau:
GDP = (GDP/Việc làm)*Việc làm.
Do GDP/Việc làm = Năng suất lao động
Vì vậy GDP= Năng suất lao động*Việc làm
Từ đó, ta cũng có thể biểu hiện tăng trưởng kinh tế qua công thức sau:
Tăng trưởng kinh tế = tăng năng suất lao động + tăng việc làm
Trên phạm vi quốc gia, sự thay đổi năng suất không chỉ phản ánh sự
thay đổi đầu ra trên một lao động trong từng khu vực kinh tế mà còn thể hiện
sự chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng từ tái phân bố lao động từ những
khu vực có năng suất thấp đến các khu vực có năng suất cao.
Trong doanh nghiệp, sự thay đổi phản ánh trong: thay đổi sản phẩm, lao
động, thị phần.
4. Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương.
Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tiền lương là một chỉ số rất cơ bản và là thước đo hiệu quả
sử dụng lao động của doanh nghiệp. Về nguyên tắc, tốc độ tăng năng suất lao động của doanh nghiệp phải
lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân. Bởi vì:
a. Do yêu cầu tăng cường khả năng cạnh tranh.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện thông qua tổng mức
chi phí lao động bình quân cho một đơn vị sản phẩm (ULC). Nâng cao năng
suất lao động sẽ cho phép giảm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm.
ULC = tổng chi phí lao động/tổng sản phẩm
Chia cả tử và mẫu cho số lao động bình quân ta có:
ULC = (tổng chi phí lao động/lao động)/ (tổng sản phẩm/lao động)
7
Luận văn tốt nghiệp
= Mức tiền lương bình quân/năng suất lao động
Từ đó ta có:
Tốc độ tăng mức chi phí lao động/sản phẩm = (tốc độ tăng tiền lương)
– (tốc độ tăng năng suất lao động)
Để tăng tính cạnh tranh, thì (tốc độ tăng chi phí lao động/sản phẩm) < 0
hay ta có:
Tốc độ tăng năng suất lao động > tốc độ tăng tiền lương
b. Năng suất lao động chỉ là một bộ phận của tổng năng suất chung.
Một mặt, tăng năng suất lao động có phần đóng góp của người lao động
như nâng cao trình độ lành nghề, nâng cao kiến thức, tổ chức kỷ luật, sáng
tạo…Tuy nhiên, năng suất lao động cá nhân và xã hội còn tăng lên do các
nhân tố khách quan khác (áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên…). Như vậy, tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có khả năng
khách quan lớn hơn tốc độ tăng của tiền lương bình quân.
c. Do yêu cầu của tích luỹ.
Yêu cầu tốc độ tăng tiền lương thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động
còn thể hiện mối quan hệ lớn nhất trong xã hội. Đó là quan hệ giữa đầu tư và
tiêu dùng. Chúng ta biết rằng, phát triển kinh tế dựa trên hai yếu tố là tăng số
thời gian làm việc và tăng năng suất lao động thông qua việc tăng cường cơ
sở vật chất kỹ thuật. Điều này đòi hỏi sản phẩm làm ra không phải đem toàn
bộ dùng để nâng cao tiền lương thực tế mà còn phải tích lũy càng cao thì tốc
độ tăng năng suất lao động càng cao.
Tóm lại, trong phạm vi nền kinh tế quốc dân cũng như nội bộ doanh
nghiệp, muốn hạ giá thành sản phẩm, tăng tích lũy thì cần duy trì tốc độ tăng
năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân. Nhưng mối
8
Luận văn tốt nghiệp
quan hệ giữa tốc độ tăng (∆t) năng suất lao động lớn hơn tốc độ tăng tiền
lương bình quân bao nhiêu là hợp lý, lại còn phụ thuộc vào một số điều kiện
kinh tế và chính sách tiền lương của từng thời kỳ, từng ngành và doanh
nghiệp cụ thể và được xác định bằng công thức sau đây.
∆t = (I
tl
-1)/ (I
w
– 1)
Trong đó : ∆t : là số % tiền lương bình quân tăng lên khi 1% năng suất
lao động tăng lên.
I
Tl
: Là chỉ số tiền lương giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
I
W
: là chỉ số năng suất giữa 2 thời kỳ TH/KH hoặc KH/BC.
IV. CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có nhiều loại chỉ tiêu tính năng suất lao động. Lựa chọn chỉ tiêu nào
phụ thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp. Có ba loại chỉ tiêu chủ yếu
sau: năng suất lao động tính bằng hiện vật; năng suất lao động tính bằng giá
trị; năng suất lao động tính bằng thời gian lao động.
1. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiện vật.
Là chỉ tiêu dùng sản lượng hiện vật của từng loại sản phẩm để biểu hiện
mức năng suất lao động cuả một công nhân hoặc một công nhân viên.
Công thức tính: W = Q/ T
Trong đó:
W là mức năng suất lao động một công nhân hay một công nhân viên.
Q là tổng sản lượng tính bằng hiện vật.
T là tổng số công nhân hoặc công nhân viên.
9
Luận văn tốt nghiệp
Ưu điểm cuả chỉ tiêu này là biểu hiện mức năng suất lao động một cách
cụ thể, chính xác, không chịu ảnh hưởng của sự biến động về giá cả, có thể so
sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp hoặc các nước khác nhau
theo một loại sản phẩm được sản xuất ra.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm như: chỉ có thể sử
dụng để tính cho một loại sản phẩm nhất định nào đó, không thể làm chỉ tiêu
tổng hợp cho nhiều loại sản phẩm khác nhau. Chỉ tiêu này không dùng để tính
cho sản phẩm dở dang được.
2. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng giá trị.
Chỉ tiêu này dùng sản lượng tính bằng tiền (theo giá trị cố định)của tất
cả các loại sản phẩm thuộc doanh nghiệp (hoặc ngành) sản xuất ra để biểu
hiện mức năng suất lao động của một công nhân (hoặc một công nhân viên).
Công thức tính:
W =Q/T
Trong đó:
W là mức năng suất lao động của công nhân (hay một công nhân viên)
tính bằng tuổi.
Q là tổng sản lượng tính bằng tiền.
T là tổng số công nhân (hoặc công nhân viên).
Chỉ tiêu này có ưu điểm là có thể dùng tính cho các loại sản phẩm khác nhau, khắc phục được
nhược điểm của chỉ tiêu tính bằng hiện vật. Chỉ tiêu này được áp dụng cho các cấp doanh nghiệp và quốc gia,
có thể dùng để so sánh mức năng suất lao động giữa các doanh nghiệp sản xuất, giữa các ngành với nhau.
Tuy nhiên chỉ tiêu này cũng có một số nhược điểm như không khuyến khích
tiết kiệm vật tư và dùng vật tư rẻ, chịu ảnh hưởng của cách tính tổng sản
lượng theo phương pháp phân xưởng. Nếu lượng sản phẩm hiệp tác với ngoài
nhiều, cơ cấu sản phẩm thay đổi sẽ làm sai lệch mức năng suất lao động của
doanh nghiệp. Dùng chỉ tiêu này trong trường hợp cấu thành sản phẩm sản
xuất không thay đổi hoặc thay đổi ít vì cấu thành sản xuất sản phẩm thay đổi
sẽ làm thay đổi mức và tốc độ tăng năng suất lao động.
10
Luận văn tốt nghiệp
3. Chỉ tiêu tính năng năng suất lao động bằng thời gian lao động.
Chỉ tiêu này dùng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản
phẩm (hoặc hoàn thành một công việc) để biểu hiện năng suất lao động.
Công thức tính là:
L=T/Q
Trong đó L là lượng lao động của sản phẩm (tính theo đơn vị thời gian).
T là thời gian lao động đã hao phí.
Q là số lượng sản phẩm.
Thời gian lao động đã hao phí được tính bằng cách tính thời gian hao phí của các bước công việc,
các chi tiết của sản phẩm và được phân chia thành: lượng lao động công nghệ (L
cn
), lượng lao động
chung(L
ch
), lượng lao động sản xuất (L
sx
),lượng lao động đầy đủ (L
đđ
)và được biểu hiện theo công thức sau:
L
ch
= L
cn
+ L
pv
L
sx
= L
ch
+ L
qvs
L
đđ
= L
sx
+ L
ql
L
đđ
= L
cn
+ L
pv
+ L
pvs
+ L
ql
Trong đó, L
pv
là lượng lao động phục vụ quá trình công nghệ, L
qvs
là
lượng lao động phục vụ quá trình sản xuất, L
ql
là lượng lao động quản lý sản
xuất bao gồm lượng thời gian lao động hao phí của cán bộ kỹ thuật, nhân viên
quản lý doanh nghiệp và các phân xưởng, tạp vụ, chữa cháy, bảo vệ.
Chỉ tiêu này có ưu điểm là thể hiện một cách rõ ràng thời gian lao động hao phí của từng bước công
việc cũng như từng chi tiết sản phẩm.
Tuy nhiên, nhược điểm của nó là công việc thống kê để xác định thời
gian hao phí cho từng bước công việc, từng chi tiết sản phẩm là rất khó. Chỉ
tiêu này không dùng để tính cho năng suất lao động của một ngành hay một
doanh nghiệp có nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Ngoài ba loại chỉ tiêu chủ yếu trên, còn có một số loại chỉ tiêu tính
năng suất lao động khác. Tuy nhiên, mức độ phổ biến của nó chưa rộng. Việc
lựa chọn chỉ tiêu nào là tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và thực tế từng
doanh nghiệp.
11
Luận văn tốt nghiệp
V. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.
Có những cách phân loại khác nhau về các yếu tố tác động tới năng
suất lao động. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lao động có thể được chia
thành ba nhóm sau: các yếu tố gắn liền với con người và quản lý con người;
các yếu tố gắn liền với phát triển và sử dụng các tư liệu sản xuất; các yếu tố
gắn liền với điều kiện thiên nhiên.
Chúng ta phải thừa nhận rằng, máy móc hiện đại là yếu tố mạnh mẽ
nhất làm tăng năng suất lao động. Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội
thường bắt đầu từ sự thay đổi và phát triển của công cụ sản xuất, lấy máy móc
thay thế cho lao động thủ công, lấy máy móc hiện đại thay thế cho các náy
móc cũ.
Cùng với quá trình phát triển và sử dụng các tư liệu sản xuất, trình
độ sáng chế và sử dụng các đối tượng lao động ngày một được nâng cao, các
nguyên vật liệu mới với các tính năng đa dạng, tiện lợi và hữu ích hơn ngày
một xuất hiện nhiều thay thế cho các nguyên vật liệu cũ đã kéo theo sự gia
tăng năng suất lao động xã hội ngày một cao, khoảng cách giữa năng suất lao
động trước kia và ngày nay càng một xa hơn.
Con người và quản lý con người tác động rất lớn đến năng suất lao
động. Để đạt năng suất tối đa cần tạo ra môi trường tốt nhất cho phối hợp giữa
quản lý, lao động và yếu tố công nghệ. Mối quan hệ đó bản thân nó là kết quả
của năng suất. Xây dựng tốt mối quan hệ giữa người quản lý và người lao
động, hình thành tinh thần quản lý mới trong đó luôn tôn trọng và khuyến
khích tính tự chủ, sáng tạo của lực lượng lao động tao ra sức mạnh tổng hợp
phát huy hiệu quả của các yếu tố sản suất, đặc biệt là con người.
Cũng như quản lý, lao động là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất tác
động tới năng suất lao động. Năng suất của mỗi quốc gia, ngành và doanh
nghiệp phụ thuộc vào trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề, kỹ năng và
năng lực của đội ngũ lao động. Nêú không có sự phối hợp phát triển tốt nguồn
nhân lực thì các yếu tố vốn, công nghệ khó có thể phát huy tác dụng.
12
Luận văn tốt nghiệp
Trong một doanh nghiệp, khi xét đến các nhân tố tác động tới năng suất
lao động thì người ta thường đề cập đến các nhân tố như:
+ Biến động về mức và tốc độ năng suất lao động qua một số năm.
+ Kết cấu công nhân viên ảnh hưởng tới năng suất lao động của doanh
nghiệp như thế nào.
+ Khả năng giảm lượng lao động của sản phẩm để tăng năng suất lao
động được thực hiện như thế nào (bao gồm khả năng giảm lượng lao động
năm thực hiện so với kế hoạch và khả năng giảm lượng lao động hao phí cho
một triệu đồng giá trị sản lượng).
+ Khả năng sử dụng hợp lý thời gian lao động công nhân để tăng năng
suất lao động (bao gồm việc sử dụng quỹ thời gian lao động ngày, tháng và
năm).
+ Phân tích quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tăng tiền lương bình quân qua một số
năm.
Ngoài ra, người ta có thể dùng một số nhân tố khác để phân tích về
năng suất lao động của doanh nghiệp. Việc phân tích những nhân tố nào là tùy
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp và tùy thuộc vào mục đích
nghiên cứu.
Các yếu tố gắn liền với điều kiện thiên nhiên ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất lao động. Sự ảnh
hưởng của yếu tố này tới năng suất lao động là một khách quan. Điều kiện thiên nhiên của mỗi quốc gia khác
nhau rất khác nhau và tác động đến năng suất lao động cũng không giống nhau. Điều kiện đó tạo ra những
thuận lợi và khó khăn riêng và con người cần phát huy lợi thế và hạn chế sự ảnh hưởng không có lợi của tự
nhiên. Điều kiện khí hậu nóng lạnh khác nhau đã tạo ra những sản phẩm khác nhau với giá trị không giống
nhau. Nếu như đất đai ảnh hưởng đến nông nghiệp rất lớn, tạo ra năng suất và chủng loại cây trồng khác nhau
thì sự giàu có về tài nguyên khoáng sản và địa hình thuận lợi đã tạo điều kiện rất tốt cho công nghiệp khai
khoáng với giá thành rẻ hơn và năng suất khai thác cao hơn.
Con người đã khai thác những nguồn năng tiềm tàng của tự nhiên để
phục vụ cho cuộc sống với hiệu quả khai thác và sử dụng ngày càng cao. Và
việc hạn chế những tác hại của tự nhiên cũng đã được tiến hành từ khi xuất
hiện loài người. Tuy nhiên, con người vẫn chưa ngăn ngừa hoàn toàn được sự
tác hại của tự nhiên đối với sản xuất, cũng như chưa thể khai thác hết tiềm
13
Luận văn tốt nghiệp
năng của tự nhiên. Vì vậy, sự tác động của tự nhiên tới năng suất lao động vẫn
tồn tại một cách khách quan.
PHẦN II
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
TẠI CÔNG TY CƠ KHÍ CHÍNH XÁC SỐ I THANH XUÂN HÀ NỘI
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG TẠI CÔNG TY.
1. Quá trình hình thành và phát triển.
1.1. Quá trình hình thành, phát triển và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của
Công ty.
* Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty cơ khí chính xác số I có trụ sở chính ở số 275 đường Nguyễn
Trãi quận Thanh Xuân – Hà Nội. Điện thoại liên lạc: 8584387 và 8581694
Tổng diện tích mặt bằng nhà máy là 21750 m
2
. Trong đó, diện tích văn
phòng và cửa hàng là 5950 m
2
, diện tích kho và nhà xưởng là 15800 m
2
.
Công ty cơ khí chính xác số I là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc
Tổng công ty máy động lực, máy nông nghiệp thuộc bộ công nghiệp, có tư
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét