Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
Thực trạng quản lý các nhiệm vụ công tác của giảng viên ở trường ĐH Tôn Đức Thắng
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giảng viên để hoàn thành tốt nhiệm vụ
trong nhà trường.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Giảng viên trường đại học Tôn Đức Thắng chia làm ba đối tượng quản lý: cơ hữu, bán cơ hữu và
thỉnh giảng. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý đối với giảng viên cơ hữu, trên
cơ sở thực hiện 3 nhiệm vụ chính: giảng dạy, nghiên cứu khoa
học, và tham gia các hoạt động khác
trong nhà trường; không bàn sâu đến các khía cạnh khác của giảng viên. Chủ yếu nghiên cứu về công
tác quản lý giảng viên trong thời gian từ năm 2004 đến nay, từ khi nhà trường đặt nhiệm vụ trọng tâm
về tuyển dụng, xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1 Các quan điểm phương pháp luận:
- Quan điểm hệ thống – cấu trúc
- Quan điểm lịch sử trong nghiên cứu khoa học
- Quan điểm thực tiễn trong nghi
ên cứu khoa học
7.2 Phương pháp nghiên cứu:
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Thu thập tài liệu, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài. Phân tích, tổng
hợp những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu:
- Xây dựng bảng câu hỏi điều tra trên cơ sở lý luận và mục đích nghiê
n cứu, nhằm khảo sát
thực trạng đội ngũ giảng viên và sự tác động của quản lý đối với giảng viên trong việc thực hiện nhiệm
vụ.
- Đối tượng điều tra: Chủ thể quản lý (ban giám hiệu, lãnh đạo các phòng chức năng, lãnh đạo
khoa, chủ nhiệm ngành, bộ môn); Đối tượng quản lý (giảng viên cơ hữu của nhà trường).
7.2.
3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng:
- Dựa vào các báo cáo tổng kết hàng năm, các văn bản qui định của trường để tổng hợp tình
hình phát triển đội ngũ GVCH, phân tích làm rõ về kết quả thực hiện nhiệm vụ của GV và các biện
pháp quản lý GV đã được áp dụng trong trường.
- Tổng kết về khối lượng giờ giảng dạy mà giảng viên cơ hữu đảm
trách hàng năm.
- Số đề tài nghiên cứu khoa học đã được giảng viên đăng ký và thực hiện, các hoạt động dịch,
viết báo, hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học.
- Các bản nhận xét về kết quả thực hiện công việc của giảng viên hàng năm của các khoa.
7.2.4 Phương pháp thống kê:
Dùng phương pháp thống kê để phân tích và xử lý kết quả các số liệu thu được nhằm định lượng
kết quả nghiên cứu.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC
CỦA GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Chỉ thị 40 CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào
tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn
Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan
trọng” [1, tr.1].
Nhận thức tầm
quan trọng của vấn đề này nhiều tác giả đã nghiên cứu và công bố các đề tài
hoặc bài báo trong các hội nghị, hội thảo. Một số nghiên cứu có liên quan đã được thực hiện thời gian
qua, như sau:
- Luận văn tốt nghiệp lớp Chính trị cao cấp, với tên đề tài “Hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý
Đại học Kinh tế Quốc dân”, của tác giả Mai Văn Bưu, đề tài hoà
n thành năm 2002. Nội dung tập trung
làm rõ thực trạng về cơ cấu tổ chức quản lý của Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, đề ra những quan điểm
và giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý đến năm 2005 và 2010 của nhà trường, đáp ứng mục
tiêu xây dựng trường trọng điểm quốc gia, đa ngành, đa lĩnh vực, hội nhập với
khu vực và quốc tế.
- Luận văn tốt nghiệp lớp Chính trị cao cấp, với tên đề tài “Qui hoạch đội ngũ cán bộ chuyên
môn và cán bộ quản lý Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn – Thực trạng và giải pháp”, của
tác giả Phạm Xuân Hằng, đề tài hoàn thành năm 2003. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực
trạng đội ngũ cán bộ của nhà trường khi tách ra khỏi Trường ĐH Tổng hợp để thành lập Trường ĐH
Khoa học Xã hội và Nhân văn t
huộc Đại học Quốc gia Hà Nội; Đề ra giải pháp ổn định đội ngũ và
nâng cao chất lượng qui hoạch cán bộ của trường. Nội dung nghiên cứu khẳng định khâu cán bộ và
chất lượng cán bộ là nhân tố quan trọng tác động đến hiệu quả các hoạt động trong nhà trường. Qui
hoạch cán bộ (chuyên môn và quản lý) là nhiệm vụ then chốt trong chiến lược phát triển trường ĐH
Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm T
hị Phương Trang, với tên đề tài: “Thực trạng và một số
giải pháp về quản lý quá trình đào tạo tại Trường Đại học Mở bán công TPHCM”, được hoàn thành
năm 2002. Đề tài nghiên cứu về quản lý quá trình đào tạo của Trường ĐH Mở bán công TPHCM, cụ
thể phâ
n tích thực trạng quản lý ở các mặt công tác: quản lý đầu vào theo mục tiêu, quản lý quá trình
dạy và học, quản lý nghiên cứu khoa học, quản lý công tác chính trị-sinh viên, quản lý các phương tiện
kỹ thuật và tài chính phục vụ công tác đào tạo. Từ đó, đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện quá trình
quản lý của nhà trường, như: Phương thức tuyển sinh; Đổi mới chương trình đào tạo và phương pháp
giảng dạy nhằm phát huy năng lực thực hành, khả năng tư duy sáng tạo của sinh viên; tăng cường việc
giáo dục chính trị và quản lý sinh viên, đưa v
iệc dạy và học vào nề nếp; Xây dựng đội ngũ cán bộ,
nhân viên gắn bó nghĩa vụ và quyền lợi lâu dài với nhà trường; Tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật, trước mắt tập trung phục vụ cho mục tiêu công tác đào tạo.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy, với tên
đề tài “Một số giải pháp xây dựng
và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Đại học bán công Tôn Đức Thắng”, đề tài hoàn
thành năm 2003. Nội dung chủ yếu trình bày một số vấn đề chung về giáo dục-đào tạo, hệ thống giáo
dục quốc dân; Vai trò của đội ngũ giảng viên và việc xây dựng đội ngũ GV; Phân tích, đánh giá về
Trường ĐH bán công Tôn Đức Thắng, thực trạng đội ngũ giảng viên của trường sau 5 năm hoạt động
(1997-2002); Đề xuất một số giải pháp xâ
y dựng đội ngũ và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
(gồm cả 3 đối tượng GV cơ hữu, bán cơ hữu và thỉnh giảng).
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Mạnh Khương, với tên đề tài “Một số biện pháp của Hiệu
trưởng Trường cao đẳng sư phạm T
PHCM quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và
sinh viên từ 1995 đến 2000”, hoàn thành năm 2002. Đề tài đã xác định mục tiêu và các yêu cầu đối với
công tác NCKH từ đó phân tích thực trạng quản lý hoạt động này của Hiệu trưởng trường cao đẳng sư
phạm TPHCM, và đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động NCKH của GV và sinh viên để nâng
cao hiệu quả hoạt động NCKH.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Bạt Sơn, với tên đề tài “Thực trạng và giải phá
p quản lý đội
ngũ giảng viên ở Trường cao đẳng sư phạm Phú Yên”, đề tài hoàn thành năm 2006. Trên cơ sở nhiệm
vụ chính trị của nhà trường tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý giảng viên của
trường cao đẳng sư phạm Phú Yên, từ đó đề xuất các giải pháp trong công tác quản lý đội ngũ GV của
trường, đáp ứng yê
u cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
- Hội thảo về “Công tác quản lý giáo viên”, do Ban liên lạc các trường đại học Việt Nam tổ
chức tại Trường ĐH Cần Thơ tháng 01/2002. Đã có 22 bài tham luận xoay quanh vấn đề phát huy hiệu
quả làm việc của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước tr
ong thời đại toàn cầu hóa. Chuyển đào tạo theo phương
châm lấy sinh viên làm trung tâm, phát triển các chương trình đào tạo tiên tiến, cải tiến phương pháp
giảng dạy và từ đó thúc đẩy sinh viên cải tiến phương pháp học tập, nâng cao hiệu quả quản lý trường
và không ngừng tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của trường.
- Hội thảo quốc gia “Đánh giá hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên”, do
Trung tâm đảm bảo chất lượng đào
tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ
chức tại Ninh Thuận vào tháng 6/2007. Gồm có 18 bài báo cáo bàn về các phương thức đánh giá hoạt
động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của GV ở nước ta hiện nay, cũng như tìm hiểu kinh nghiệm
đánh giá GV ở một số nước phát triển.
Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các tập san chuyên
ngành như: Tạp chí Giáo dục, Giáo dục và thời đại. Những công trình này thực sự nghiên cứu những
mảng đề tài hết sức thiết thực trong công tác giáo dục - đào tạo bậc cao đẳng và đại học. Tuy nhiê
n,
chưa có các nghiên cứu đi sâu vào công tác quản lý đối với việc thực hiện các nhiệm vụ công tác của
giảng viên ở một trường đại học cụ thể.
Ở Trường Đại học Tôn Đức Thắng, vấn đề quản lý giảng viên cơ hữu đặc biệt là giảng viên trẻ
để giảng viên phát huy hết sức mạnh của m
ình, gắn bó với các hoạt động trong nhà trường là yêu cầu
cần thiết. Do đó, đối tượng này cần được nghiên cứu khách quan từ thực trạng quản lý công tác của
giảng viên nhà trường hiện nay, để từng bước củng cố, đào tạo bồi dưỡng lực lượng này trở thành lực
lượng chủ yếu quyết định sự phát triển của trường trong thời gian tới.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ QUẢN LÝ, QUẢN LÝ GIÁO DỤC, QUẢN LÝ NHÀ TRƯỜNG:
1.2.
1 Khái niệm về quản lý:
Quản lý là một khái niệm chung, tổng quát, có thể định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy
theo từng lĩnh vực, từng ngành, có thể chia ra các loại quá trình quản lý như: quản lý xã hội, quản lý
giáo dục, quản lý kinh tế.
Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội loài người trong mọi giai đoạn phát triển của nó.
Nga
y từ buổi sơ khai của xã hội loài người, để đương đầu với sức mạnh to lớn của tự nhiên, để duy trì
sự tồn tại của mình, con người phải lao động chung, kết hợp lại thành tập thể. Điều đó đòi hỏi phải có
sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động tức là phải có quản lý. Như vậy, quản lý ra
đời cùng với sự xuất hiện của hợp tác và phân công lao động.
Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao
động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô
tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực
hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất… Một người chơi vĩ cầm
thì tự điều khiển lấy m
ình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [22, tr.1].
Từ xưa tới nay có rất nhiều cách hiểu về quản lý. Thuật ngữ quản lý được nhiều nhà nghiên cứu
đề cập tới. Sau đây là một số định nghĩa:
- Theo F.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu
đư
ợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [16, tr.21].
- Theo Henry Fayol: “Quản lý nghĩa là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra” [16,
tr.22].
- Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một
môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật
chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22, tr.2].
- Từ điển tiếng Việt do Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội xuất bản 1992, quản lý có nghĩa là:
Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; Tổ chức và điều khiển các hoạt động t
heo những
yêu cầu nhất định [22, tr.2].
- Tác giả Nguyễn Bá Sơn định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con
người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [16, tr.8].
- Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy
động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong
và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao
nhất [16, tr.8].
Các khái niệm trên đây thuộc lĩnh vực quản lý xã hội, tuy có khác nhau, song chúng có các yếu
tố cơ bản chung của hoạt động quản lý là:
-
Hoạt động quản lý là những tác động hướng tới mục tiêu.
- Hoạt động quản lý được thực hiện bởi con người, tác động phối hợp các cá nhân nhằm đạt mục
tiêu của tổ chức.
- Hoạt động quản lý được thực hiện bê
n trong một tổ chức nhất định.
Nói một cách khái quát: Quản lý là hoạt động, là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục
đích của tổ chức.
Trên nền tảng khoa học quản lý, xuất hiện nhiều loại hình quản lý chuyên ngành, một trong
những l
oại đó là Quản lý giáo dục.
1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường:
Cũng giống như các khái niệm về quản lý xã hội nói chung, khái niệm về quản lý giáo dục cũng
có nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc cấp độ quản lý và vị trí của chủ thể quản lý.
- Theo nghĩa tổng quát, Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội
nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
- Giáo sư Nguyễn N
gọc Quang cho rằng: “Quản lý giáo dục và quản lý hệ thống giáo dục là
những khái niệm thống nhất. Nếu hệ thống giáo dục bao gồm toàn ngành giáo dục cả nước thì ta có
quản lý ngành giáo dục với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, nếu hệ thống giáo dục bao gồm các tổ
chức giáo dục ở một địa bàn lãnh thổ thì ta sẽ có quản lý giáo dục cấp tỉnh, cấp huyện, trường là tổ
chức giáo dục cơ sở…”. Ông đã đưa ra định nghĩa quản l
ý giáo dục như sau: “Quản lý giáo dục nói
chung và quản lý trường học nói riêng là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui
luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục
của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu, tiến lên trạng thá
i mới về vật
chất” [37, tr.23].
- Giáo sư Phạm Minh Hạc đã đưa ra một nội dung khái quát nhưng vẫn cụ thể, hợp lý về quản lý
giáo dục: “Quản lý giáo dục cũng còn được hiểu là quản lý trường học, quản lý nhà trường là thực hiện
đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào
tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ
trẻ và với từng học sinh” [37, tr.23].
Ngày nay, với quan điểm học thường xuyên, học suốt đời, công tác giáo dục không chỉ giới hạn
ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc
dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiê
u: nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Quản lý giáo dục được diễn ra trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ (tỉnh, huyện) và
quản lý đơn vị cơ sở giáo dục (quản lý nhà trường). Quản lý giáo dục có nhiều cấp độ, dù ở cấp độ nào
quản lý giáo dục đều gồm 4 yếu tố cơ bản, đó là: chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý, khách t
hể quản
lý và mục tiêu quản lý. Các yếu tố này có mối quan hệ tương tác gắn bó với nhau.
Tóm lại: Quản lý giáo dục có thể hiểu là một chuỗi tác động mang tính tổ chức – sư phạm của
chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham
gia vào hoạt động của nhà trường nhằm làm
cho qui trình vận hành tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến.
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong hệ thống quản lý giáo dục. Trường học là tổ chức
giáo dục cơ sở mang tính nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc giáo dục toàn
diện cho thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu nâ
ng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Trường học vừa là khách thể cơ bản của các cấp quản lý giáo
dục, vừa là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Do đó, quản lý trường học nhất thiết phải vừa có
tính chất nhà nước vừa có tính chất xã hội.
Quản lý trường học là một dạng quản lý có tính chất đặc
thù, làm cho nó phân biệt với mọi loại
quản lý xã hội khác, được qui định trước hết là bản chất lao động sư phạm của giáo viên, bản chất quá
trình dạy học – giáo dục, trong đó học sinh vừa bị quản lý lại vừa tự giác hoạt động học tập của bản
thân.
Quản lý nhà trường là sự quản lý của Hiệu trưởng trường đó đối với toàn bộ những con người,
những hoạt động, những tổ chức và những phương tiện vật chất, kỹ thuật, tài chính của trường để đạt
cho được mục tiêu của sự giáo dục-đào tạo học sinh loại trường đó.
1.2.3 Các chức năng của Quản lý Giáo dục:
Chức năng quản lý là một loại hoạt động quản lý đặc biệt, thông qua đó c
hủ thể quản lý tác
động vào đối tượng quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định. Thực chất, chức năng quản lý là
hình thức tồn tại của các tác động quản lý.
Sự xuất hiện của các chức năng quản lý là khách quan, phản ánh logic bên trong của quá trình
quản lý, là sản phẩm của quá trình phân công và hợp tác lao động của đối tượng quản l
ý và sự phân
công của lao động quản lý theo hướng chuyên môn hóa.
Các nhà nghiên cứu có quan niệm khác nhau về phân loại chức năng quản lý, tuy nhiên đều đề
cập đến 4 chức năng chủ yếu là: Kế hoạch hóa – Tổ chức – Điều khiển – Kiểm tra.
1.2.3.1 Kế hoạch hóa: Lập kế hoạch là ra quyết định, xác định và hình thành mục tiêu đối với tổ
chức; xác định và bảo đảm chắc chắn về các nguồn lực, lựa chọn phương pháp, biện phá
p tối ưu để đạt
mục tiêu.
1.2.3.2 Tổ chức: Thực hiện chức năng này, người quản lý phải hình thành bộ máy, cơ cấu các
bộ phận. Tùy theo tính chất công việc có thể phân công phân nhiệm cho các cá nhân, qui định chức
năng, nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng. Nhà quản lý điều phối các nguồn lực để đảm
bảo t
hực hiện tốt kế hoạch đã đề ra. Năng lực của chủ thể quản lý có ý nghĩa quyết định đối với việc
chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực.
1.2.3.3 Điều khiển (Chỉ đạo): Là nhiệm vụ tiếp theo của người quản lý, là khâu quan trọng tạo
nên thành công của kế hoạch dự kiến, đòi hỏi người quản lý phải vận dụng khéo léo các phương pháp
và nghệ thuật quản lý. Do đặc trưng của quản lý giáo dục thực chất là quản lý con người. Yếu tố con
người là động cơ thúc đẩy sự lãnh đạo và sự giao tiếp, là các thành tố làm nên sự thành công của công
tác chỉ đạo.
1.2.
3.4 Kiểm tra: Nhằm xem xét đánh giá thực trạng, phát hiện những sai lệch và điều chỉnh
đưa tổ chức đạt tới mục tiêu đề ra. N
hờ kiểm tra chủ thể quản lý tự đánh giá được các quyết định quản
lý của mình và thúc đẩy những người dưới quyền làm việc nghiêm túc để đạt được mục tiêu.
Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin có mặt trong suốt quá trình
quản lý, nó giữ vai trò cơ bản, là điều kiện, phương tiện không thể thiếu được cho mọi hoạt động quản
lý. Thông tin đầy đủ, kịp t
hời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch; thông tin
cũng là cơ sở cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chất liệu tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ
chức; thông tin chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn tiến
hoạt động của tổ chức; và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp cho người quản lý xem xét
mức độ đạt mục tiêu của toàn hệ thống.
Các chức năng nêu trên tạo thành chu trình quản lý, tác giả Trần Kiểm đã mô tả qua sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý
Chức
năng kế
hoạch
hóa
Chức
năng tổ
chức
Chức
năng
điều
khiển
Thông tin phục vụ quản lý
Chức
năng
kiểm tra
1.3. N
HIỆM VỤ CÔNG TÁC CỦA GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC:
1.3.1 Khái niệm về Nhiệm vụ công tác của giản
g viên:
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Công tác là công việc của nhà nước hoặc của
đoàn thể. Có thể hiểu Công tác của giảng viên là công việc người giảng viên phải thực hiện hay chức
trách nhiệm vụ của giảng viên được qui định bởi Chủ thể quản lý.
Luật giáo dục 2005, điều 72 qui định nhiệm vụ của nhà giáo như sau:
1. Giá
o dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng
chương trình giáo dục;
2. Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật và điều lệ nhà trường;
3. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử
công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đá
ng của người học;
4. Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên
môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;
5. Các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật.
Điều lệ trường đại học ban hành theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ tháng 7/2003,
tại điều 46 đ qui định nhiệm vụ công tác của g
iảng viên:
- Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học được qui định theo giờ chuẩn do Bộ
giáo dục và đào tạo ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng;
- Giảng dạy theo nội dung, chương trình đã được Bộ giáo dục và đào tạo, trường đại học qui
định. Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy - học tập theo sự phân công của các cấp
quản lý;
- Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng
cao chất lượng đào
tạo;
- Tham gia và chủ trì các đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học và
công nghệ, và các hoạt động khoa học và công nghệ khác;
- Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và nghiên
cứu khoa học;
- Hướng dẫn, giúp đỡ người học trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện tư tưởng, đạo
đức, tác phong, lối sống.
Bộ giáo dục và đào tạo đã nêu những nhiệm vụ đối với giảng viên trực tiếp giảng dạy, là
m
việc toàn thời gian trong các cơ sở giáo dục đại học (công văn số 113457/BGD-ĐT-NG ngày
25/10/2007):
Ngoài những nhiệm vụ chung của nhà giáo theo qui định của Luật giáo dục, giảng viên ở cơ sở
giáo dục đại học có nhiệm vụ:
1. Giảng dạy và giáo dục đại học
2. Nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
3. Tham gia công tác quản lý đào tạo, quản lý khoa học và công nghệ tại cơ sở giáo dục đại học.
4. Thường xuyê
n học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ mọi mặt theo tiêu chuẩn nghiệp vụ của
giảng viên.
5. Tham gia các hoạt động xã hội theo trách nhiệm, nghĩa vụ công dân.
Như vậy, có thể khái quát nhiệm vụ công tác của giảng viên ở 3 công tác chính
sau đây:
1. Công tác giảng dạy,
2. Công tác nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng và nâng cao trình độ,
3. Các công tác dịch vụ xã hội khác.
Tùy chuyên môn, điều kiện, hoàn cảnh trong những thời điểm khác nhau và đặc thù của mỗi
trường mà đặt trọng tâm từng nhiệm vụ công tác.
Trường đại học Tôn Đức Thắng là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan chủ quản theo
quyết định của Thủ tướng c
hính phủ, đồng thời là một đơn vị cơ sở chịu sự quản lý nhà nước về giáo
dục của Bộ GD&ĐT. Giảng viên của nhà trường bao gồm: 3 nhóm GV cơ hữu, GV bán cơ hữu và GV
thỉnh giảng. Nhà trường đã qui định nhiệm vụ công tác cho nhóm GV cơ hữu làm việc toàn thời gian
tại trường (qui định 551/TĐT-QĐ, ngày 25/7/2007):
1. Giảng dạy;
2. Nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học kỹ th
uật; Viết giáo trình; Học tập nâng cao trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị. Giảng viên cơ hữu chưa có văn bằng sau đại học, sau 4 năm công tác
tại trường phải có bằng thạc sĩ;
3. Hoạt động đoàn thể, công tác xã hội và các hoạt động khác do trường, khoa tổ chức.
Và định mức khối lượng công việc hàng năm cho các hoạt động như sau:
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét