Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Thực trạng thu - chi quỹ BHXH tại phòng BHXH huyện Giao Thuỷ (Nam Định).doc

Sự góp phần này tác động trực tiếp đến việc nâng cao năng suất lao động cá nhân,
đồng thời góp phần tích cực của mình vào việc nâng cao năng suất lao động xã hội.
Với sự trợ giúp của người lao động khi gặp phải rủi ro bằng cách tạo ra thu nhập
thay thế thì BHXH đã gián tiếp tác động đến chính sách tiêu dùng quốc gia làm tăng
sự tiêu dùng cho xã hội.
Thứ ba, với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung, BHXH tác động mạnh mẽ tới
hệ thống tài chính ngân sách Nhà nước, tới hệ thống tín dụng tiền tệ ngân hàng.
Chính vì vậy, đặt ra một yêu cầu cho quỹ BHXH phải tự bảo tồn và phát triển quỹ
bằng nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức đầu tư phát triển phần “ nhàn
rỗi” của quỹ. Phần này có tác động không nhỏ tới sự phát triển đất nước, góp phần
tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới góp phần quan trọng
trong việc tạo ra việc làm cho người lao đông. Từ đó góp phần giải quyết tình trạng
thất nghiệp của đất nước, góp phần tăng thu nhập cá nhân cho người lao động nói
riêng và tăng tổng sản phẩm quốc nội cũng như tổng sản phẩm quốc dân nói chung.
Thứ tư, BHXH góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội, là công cụ phân
phối lại thu nhập giữa những nguời tham gia BHXH. Sự phân phối lại thu nhập này
được tiến hành thông qua hai cách: Phân phối lại theo chiều ngang giữa người khoẻ
và người già, người đang làm việc với người đã nghỉ hưu, người trẻ tuổi với người
lớn tuổi, giữa nam với nữ, người đang hưởng trợ cấp với người chưa hưởng trợ cấp;
phân phối lại theo chiều ngang là mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế xã hội,
giữa những người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp. BHXH không bao
hàm ý phân phối bình quân, cũng không hàm ý lấy của người giàu chia cho người
nghèo một cách võ đoán. Ý tưởng của BHXH nhiễu điều phủ lấy giá gương, là đoàn
kết tương trợ, phát huy tính tự thân, sống hoà nhập có tình có nghĩa giữa các nhóm,
các giới bạn trong cùng cộng đồng với nhau mà vốn là tiềm lực của dân tộc ta đã
được lịch sử chứng minh.

2 – Những nguyên tắc của BHXH
2.1) Mọi ngưòi lao động trong mọi trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao
động hoặc mất việc làm đều có quyền được BHXH .
Trang 5
Quyền đựơc BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện cụ thể
của quyền con người. Nhưng khi muốn xây dựng hệ thống BHXH thì đầu tiên Nhà
nước phải tạo điều kiện và môi trường kinh tế xã hội, về chính sách và luật pháp, về
tổ chức và cơ chế quản lý cần thiết. Đồng thời, những người sử dụng lao động và
người lao động phải thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính của mình. Không
phải là cái có sẵn nên trước hết phải tìm cách tạo ra nó. Ở mỗi nước không có sự
đóng góp này thì chính sách BHXH có hay đến mấy cũng không bao giờ có BHXH
trong thực tiễn. Vì vậy, thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chính BHXH là điều
kiện cơ bản nhất để người lao động được hưởng quyền BHXH.
2.2) Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải BHXH đối với
người lao động, người lao động cũng phải tự bảo hiểm cho mình.
Đây là mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường, trong đó Nhà nước có
vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế xã hội trên phạm vi cả nước. Với vai trò
này Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vật chất của toàn xã hội, đồng thời cũng có
mọi công cụ cần thiết để thực hiện vai trò của mình. Cùng với sự tăng trưởng sự
phát triển kinh tế xã hội, cũng có những kết quả bất lợi không mong muốn. Những
kết quả bất lợi này trực tiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho người lao
động. Khi xảy ra tình trạng như vậy nếu không có BHXH thì Nhà nước vẫn phải chi
Ngân sách để giúp đỡ người lao động dưới một dạng khác. Sự giúp đỡ đó chẳng
những làm cho đời sống người lao động ổn định mà còn làm cho sản xuất kinh tế xã
hội của đất nước ổn định. Vì vậy, khi trong xã hội loài người xuất hiện BHXH –
một dạng đảm bảo đời sống tiến bộ hơn đối với người lao động- so với các dạng
giúp đỡ truyền thống thì Nhà nước càng có điều kiện và càng có trách nhiệm tổ chức
và tham gia dạng hoạt động đó.
Đối với người sử dụng lao động, mọi khía cạnh đặt ra cũng tương tự như trên
nhưng chỉ trong phạm vi một số doanh nghiệp. Ở đó giữa người lao động và người
sử dụng lao động có mối quan hệ rất chặt chẽ. Người sử dụng lao động muốn ổn
định và sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu tư để có máy móc thiết bị
hịên đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và đời sống của người lao
động mà mình sử dụng. Khi người lao động làm việc bình thường thì phải trả lương
(trả công) thoả đáng cho người lao động. Khi họ gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn lao
Trang 6
động, bệnh nghề nghiệp trong đó có rất nhiều trường hợp gắn với quá trình lao
động, với những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì phải có trách
nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có như vậy người lao động mới yên tâm tích cực lao
động sản xuất góp phần tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế cho doanh
nghiệp.
Đối với người lao động khi gặp những rủi ro không muốn và không phải hoàn
toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi ro của bản thân. Vì
thế, nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn
trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì tự mình phải gánh chịu trực tiếp và
trước hết đã Điều đó có nghĩa là bản thân người lao động phải có trách nhiệm tham
gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
2.3) BHXH phải dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia để hình thành lên
quỹ BHXH
Ở nguyên tắc trên đã thấy rõ tính khách quan của trách nhiệm phải tham gia
BHXH đối với người lao động của cả ba bên (Nhà nước, người sử dụng lao động và
người lao động) trong nền kinh tế thị trường. Biểu hiện cụ thể của trách nhiệm này
là đóng phí BHXH đầu kỳ. Nhờ sự đóng góp đó mà phương thức riêng có của
BHXH là dàn trải rủi ro theo nhiều chiều, tạo điều kiện để phân phối thu nhập theo
cả chiều dọc và chiều ngang mới được thực hiện. Hơn nữa nó còn tạo ra mối quan
hệ ràng buộc chặt chẽ giữa trách nhiệm với quyền lợi góp phần phòng chống những
hiện tượng nhiễu trong hệ thống hoạt động mang lại nhiều lợi ích cho mọi người có
liên quan này.
2.4) Phải tuân theo quy luật số lớn
BHXH là một trong các nguyên tắc, các cơ chế an toàn xã hội, trước hết là sự
trợ giúp cho người lao động trong các trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập tạm
thời khi họ bị ốm đau, thai sản… hoặc hết tuổi lao động theo quy định của pháp
luật. Trong cả cuộc đời của người lao động thường thì thời gian lao động dài hơn
thời gian người lao động bị tạm thời mất khả năng lao động hoặc thời gian từ khi
hết tuổi lao động đến lúc chết. Vả lại tất cả những người tham gia BHXH cùng một
lúc có nhu cầu bảo hiểm, vì vậy nguyên tắc trước hết của BHXH là lấy số đông bù
Trang 7
số ít, lấy quãng đời lao động có thu nhập để bảo hiểm cho khi giảm hoặc mất khả
năng lao động.
2.5) Kết hợp giữa các loại lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu
BHXH
Trong BHXH cả ba bên tham gia: Người sử dụng lao động, người lao động và
Nhà nước đều nhận được nhiều lợi ích. Nhưng lợi ích nhận được không phải luôn
luôn như nhau, thống nhất với nhau mà trái lại có lợi ích có lúc lại mâu thuẫn với
nhau. Chẳng hạn việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thời hạn nghỉ làm việc và hưởng
trợ cấp BHXH sẽ rất có lợi cho người lao động nhưng lại gây khó khăn cho người
chủ sử dụng lao động, nếu giảm hậu quả bất lợi cho người sử dụng lao động thì Nhà
nước lại phải gánh chịu.
2.6) Mức trợ cấp BHXH phải đảm bảo thấp hơn tiền lương khi đang đi làm,
nhưng cũng phải lớn hơn mức lương tối thiểu
Trợ cấp BHXH nói ở đây là loại trợ cấp thay thế cho tiền lương như trợ cấp ốm
đau, thai sản, hưu trí tuổi già chứ không phải là trợ cấp bù đắp hoặc trợ cấp BHXH.
Như đã biết, tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao
động khi họ thực hiện công việc nhất định. Nghĩa là, chỉ người lao động có sức khoẻ
bình thường, có việc làm bình thường và thực hiện công việc nhất định mới có tiền
lương. Khi đã bị ốm đau, tai nạn hay tuổi già không thực hiện được công việc nhất
định hoặc không việc làm mà trước đó có tham gia BHXH thì chỉ có trợ cấp BHXH
và trợ cấp đó không thể bằng tiền lương tạo ra được. Còn nếu cố tìm cách trả trợ cấp
BHXH bằng hoặc cao hơn tiền lương thì không một người lao động nào phải cố
gắng có việc làm và tích cực làm việc để có lương mà ngược lại họ sẽ cố gắng ốm
đau, thai sản để hưởng trợ cấp. Hơn nữa cách lập quỹ, phương thức dàn trải rủi ro
của BHXH cũng không cho phép trả trợ cấp BHXH bằng tiền lương lúc đang đi
làm. Vì trả trợ cấp bằng tiền lương thì chẳng khác gì bị rủi ro đem rủi ro của mình
dàn trải hết cho những người khác.
Như vậy, mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức tiền lương lúc đang đi làm.
Tuy nhiên do mục đích, bản chất và cách làm của BHXH thì mức trợ cấp thấp nhất
cũng không thể thấp hơn mức sống tối thiểu hàng ngày. Chỉ khi đó BHXH mới có
tính nhân văn cao cả.
Trang 8
2.7) Kết hợp giữa BHXH bắt buộc với BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội áp dụng hình thức bắt buộc để đảm bảo quy luật số lớn và số
có hệ số an toàn cao nhằm đảm bảo cuộc sống của người lao động. Tuy nhiên, có
những trường hợp, người lao động muốn hưởng trợ cấp hưu trí ở mức cao hơn mức
được hưởng dưới hình thức bắt buộc, hoặc khi cân nhắc thấy họ đóng thêm vào
BHXH cũng là một hình thức gửi tiền tiết kiệm, và có khi còn lợi hơn gửi vào ngân
hàng, thì họ sẽ có nhu cầu đóng phí BHXH nhiều hơn mức quy định. Chính vì vậy,
khi đáp ứng nhu cầu đó cũng thực hiện được đảm bảo tốt hơn cuộc sống cho người
lao động đồng thời quy luật số lớn vẫn được tôn trọng.
2.8) Phải đảm bảo tính thống nhất BHXH trên phạm vi cả nước, đồng thời phải
phát huy tính đa dạng, năng động của các bộ phận cấu thành
Hệ thống BHXH của một nước thường gồm nhiều bộ phận cấu thành. Trong đó
bộ phận lớn nhất do Nhà nước tổ chức và bảo hộ đặc biệt bao trùm toàn bộ những
người hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước và những người lao động thuộc những
khu vực kinh tế quan trọng của đất nước. Các bộ phận nhỏ hơn do các đơn vị kinh tế
và tư nhân tổ chức ra để bảo hiểm cho một số đối tượng hạn chế do pháp luật quy
định. Trong bộ phận do Nhà nước tổ chức còn có thể có một số bộ phận BHXH
chuyên ngành như: BHXH đối với công chức, BHXH đối với quân nhân hưởng
lương và một số bộ phận BHXH theo ngành kinh tế có tính chất đặc thù (đường sắt,
khai thác mỏ ). Các bộ phận BHXH đựơc tổ chức như thế nào, nhiều hay ít là do đi
ều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và do Nhà nước quy định. Ở nước ta do những diều
kiện kinh tế xã hội chưa cho phép các tổ chức và cá nhân thực hiện BHXH mà chỉ
có BHXH của Nhà nước.
Để BHXH hoạt động có hiệu quả nhất thiết phải bảo đảm tính thống nhất trên
những vấn đề lớn hoặc cơ bản nhất để tránh tuỳ tiện, tính cục bộ hoặc những mâu
thuẫn nảy sinh. Đồng thời cũng phải có cơ chế để mỗi bộ phận cấu thành có thể
năng động trong hoạt động để chúng có thể bù đắp, bổ xung những ưu điểm cho
nhau.
2.9) BHXH phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế
xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển cụ thể
Trang 9
BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điều kiện kinh
tế xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý đặc biệt là với sự điều chỉnh, sự đồng bộ
của nền pháp chế của nước đó. Trong tình hình nước ta, kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN đang hình thành, nhiều mặt kinh tế xã hội đang chuyển động mạnh.
Vì vậy, việc xây dựng và phát triển BHXH phải bảo đảm chắc chắn, tính toán thận
trọng và có bước đi phù hợp.
III. QUỸ BHXH
1 – Vai trò của quỹ BHXH
Trong đời sống kinh tế xã hội, có rất nhiều loại quỹ khác nhau như: quỹ tiêu
dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lương, quỹ tiền thưởng, quỹ phúc lợi,
quỹ tiết kiệm Tất cả các loại quỹ này đều có một điểm chung là tập hợp các
phương tiện tài chính cho những hoạt động nào đó theo mục tiêu định trước. Quỹ
lớn hay quỹ nhỏ biểu thị khả năng về mặt phương tiện và vật chất để thực hiện công
việc cần làm.
Tất cả các quỹ đều không chỉ tồn tại với một khối lượng tĩnh tại một thời điểm
mà luôn biến động tăng lên ở đầu vào với các nguồn thu và giảm đi ở đầu ra với các
khoản chi như một dòng chảy liên tục. Để đảm bảo cho đầu ra ổn định, người ta
thiết lập một lượng dự trữ. Bởi vậy, để nắm và điều hành được một quỹ nào đó thì
không phải chỉ nắm được khối lượng của nó tại một thời điểm nhất định, mà quan
trọng hơn là phải nắm được lưu lượng của nó trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo những quan niệm về quỹ nói chung như trên, thì quỹ BHXH là tập hợp
những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH hình thành một quỹ tài
chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân sách Nhà nước để chi trả cho những người
được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất
khả năng lao động, mất việc làm.
Như vậy, quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời là một quỹ dự phòng, nó
vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật
chất quan trọng đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi ro
của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc dàn trải rủi ro
Trang 10
được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm tối
thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả ngân sách
Nhà nước và ngân sách gia đình.
2 – Nguồn quỹ BHXH
Quỹ BHXH tập trung những đóng góp bằng tiền của những người tham gia
BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được hưởng
BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng
lao động hoặc mất việc làm.
Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng; nó
vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật
chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo khả năng giải quyết những rủi ro
của tất cả những người tham gia với tổng dự trữ ít nhất, giúp cho việc giàn trải rủi
ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm
thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi cho cả Ngân sách
nhà nướcvà ngân sách gia đình.
Quỹ được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:
- Thứ nhất, đó là phần đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và
Nhà nước, đây là nguồn chiếm tỉ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ.
- Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ được tổ chức
BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động sinh lời.
- Thứ ba, là phần nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế vi phạm luật lệ về
BHXH. Phần lớn các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các
nguồn nêu trên. Tuy nhiên phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên
tham gia có khác nhau.
2 - Mục đích sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho hai mực đich sau đây:
- Chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH
Trang 11
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH được sử
dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc sống cho
bản thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia BHXH gặp rủi ro. Thực chất là trợ
cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong công ước 102 tháng 6 năm 1952
tại Giơnevơ:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
5. Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp
6. Trợ cấp gia đình
7. Trợ cấp sinh đẻ
8. Trợ cấp khi tàn phế
9. Trợ cấp cho người còn sống ( trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
9 chế độ trên hình thành một hệ thống các chế độ BHXH . Tuỳ điều kiện kinh tế xã
hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thực hiện khuyến nghị đó ở mức độ
khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được ba chế độ. Trong đó, ít nhất phải có
một trong năm chế độ: (3), (4), (5), (8), (9). Mỗi chế độ trong hệ thống trên khi xây
dựng đều dựa trên những cơ sở kinh tế xã hội tài chính, thu nhập, tiền lương .v.v…
Đồng thời tuỳ từng chế độ khi xây dựng còn phải tính đến các yếu tố sinh học; tuổi
thọ bình quân của quốc gia, nhu cầu dinh dưỡng; xác suất tử vong…
Tuy nhiên, cơ sở để xác định điều kiện hưởng BHXH phải tính đến một loạt
các yếu tố liên quan đến toàn bộ hệ thống các chế độ cũng như từng chế độ BHXH
cụ thể. Chẳng hạn khi xác định điều kiện hưởng trợ cấp BHXH tuổi già phải dựa
vào cơ sở sinh học là tuổi đời và giới tính, của người lao động là chủ yếu. Bởi vì
tuổi già để hưởng trợ cấp hưu trí của mỗi giới, mỗi vùng, mỗi quốc gia có những
khác biệt nhất định. Do đó, co những nước quy định: Nam 60 tuổi và Nữ 55 tuổi sẽ
được nghỉ hưu. Nhưng cũng có những nước quy định: Nam 65 tuổi và Nữ 60
tuổi.v.v…Hoặc khi xác định điều kiện hưởng trợ cấp cho chê độ tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp phải tính đến các yếu tố như: Điều kiện và môi trường lao động;
bảo hộ lao động v.v…Các yếu tố này thường có quan hệ và tác động qua lại với
Trang 12
nhau ít nhiều ảnh hưởng đến điều kiện BHXH của từng chế độ và toàn bộ hệ thống
các chế độ BHXH.
Thời gian hưởng trợ cấp và mức hưởng trợ cấp BHXH nói chung phụ thuộc
vào từng trường hợp cụ thể và thời gian đóng phí BHXH của người lao động trên cơ
sở tương ứng giữa đóng và hưởng. Đồng thời mức trợ cấp còn phụ thuộc vào khả
năng thanh toán chung của từng quỹ tài chính BHXH; mức sống chung của các tầng
lớp dân cư và người lao động. Nhưng về nguyên tắc, mức trợ cấp này không cao
hơn mức tiền lương hoặc tiền công khi người lao động đang làm việc và nó chỉ bằng
một tỷ lệ phần trăm nhất định so với mức tiền lương hay tiền công. Ở các nước kinh
tế phát triển do mức lương cao nên tỷ lệ này thường thấp và ngược lại ở những nước
đang phát triển do mức tiền lêong còn thấp nên phải áp dụng một tỷ lệ khá cao. Ví
dụ, ở pháp mức trợ cấp hưu trí chỉ bằng 50% mức lương cao nhất ( với điều kiện
đóng BHXH đủ 37,5 năm ), ốm đau được hưởng trợ cấp bằng 50% tiền lương, thời
gian nghỉ ốm được hưởng trợ cấp không quá 12 tháng. Sinh con được hưởng trợ cấp
BHXH bằng 90% tiền lương trong vòng 16 tuần v.v…Còn ở Philipin, mức trợ cấp
hưu trí từ 42% đến 102%, tuỳ thuộc từng nhóm lương khác nhau, ốm đau được
hưởng 65%, sinh con được nghỉ 45 ngày và được trợ cấp bằng 100% tiền lương
v.v…
Tuy vậy, việc các nước quy định trợ cấp BHXH bằng tỷ lệ phần trăm so với
tiền lương hay tiền công thường dẫn đến bội chi quỹ BHXH. Vì vậy, một số nước
đã phải tìm cách khắc phục như: trả ngay 1 lần khi nghỉ hưu, hoặc suốt đời đóng
theo tỷ lệ phần trăm của một mức thu nhập quy định và hưởng cũng theo tỷ lệ phần
trăm của mức quy định.
Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn được sử
dụng cho chi phí quản lý như: Tiền lương cho những người làm việc trong hệ thông
BHXH; khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác…
Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lợi. Mục đích đầu tư quỹ BHXH là
nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ. Quá trình đầu tư quỹ BHXH phải đảm
bảo nguyên tắc: an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi ích
kinh tế- xã hội.
Trang 13
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH THU CHI QUỸ BHXH
TẠI PHÒNG BHXH HUYỆN GIAO THUỶ
I . VÀI NÉT GIỚI THIỆU VỀ BHXH HUYỆN GIAO THUỶ
Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 9 năm 1995
cùng với sự chia cắt hành chính của huyện Xuân Thuỷ thành huyện Xuân Trường và huyện Giao
Thuỷ. Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ chủ yếu thực hiện việc thu – chi thuần tuý mà không kinh
doanh loại hình bảo hiểm nào.
Phòng BHXH huyện Giao Thuỷ có tất cả 7 cán bộ viên chức, trong đó ông Nguyễn Công
Hoan là Giám Đốc, bà Chu Thị Vân Ánh là Kế toán kiêm bộ phận chi, bà Đặng Thị Dung phụ
trách bộ phận hành chính, bà Phạm Thị Vóc và ông Nguyễn Thành Lý phụ trách bộ phận thu, ông
Trần Hải Triều phụ trách bộ phận chính sách, ông Trần Mạnh Hùng phụ trách bộ phận y tế tự
nguyện.
BHXH huyện Giao Thuỷ chịu sự quản lý trực tiếp của BHXH tỉnh Nam Định, có con dấu và
tài khoản riêng.
Trang 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét