Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Tổ chức kế toán nguyên vật liệu ở Công ty 20 - Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng

Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Những người trong phòng kế toán có nhiệm vụ khác nhau khi một
thành viên gặp khó khăn thì sẽ được sự giúp đỡ tận tình trong lãnh đạo và các
thành viên khác.
1.3. Đặc điểm tổ chức bộ sổ kế toán tại Công ty
Hiện nay, Công ty 20 đang áp dụng hình thức kế toán Nhật ký chung.
Đặc trưng cơ bản của hình thức này là tất cả nghiệp vụ kinh tế tài chính phát
sinh đều được ghi vào sổ nhật ký chung theo trình tự thời gian phát sinh và
định khoản kế toán của nghiệp vụ phát sinh đó, sau đó lấy số liệu trên sổ nhật
ký chung để ghi sổ cái theo từng nghiệp vụ phát sinh.
5
Đàm Thị Kim Oanh
Báo cáo thực tập nghiệp vụ
TRÌNH TỰ GHI SỔ KẾ TOÁN THEO HÌNH THỨC NHẬT KÝ CHUNG
Ghi hàng ngày
Ghi định kỳ hoặc cuối tháng
Đối chiếu
1.4. Các chế độ và phương pháp kế toán áp dụng tại Công ty
Công ty 20 là một đơn vị Quốc phòng với nhiệm vụ và ngành nghề kinh
doanh chủ yếu là may đo quân trang quân phục cho cán bộ chiến sĩ trung và
cao cấp trong quân đội nên công tác có những nét đặc thù riêng.
Trước hết, nguồn vốn chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước. Hàng năm
Công ty có nhiệm vụ hoàn thành chỉ tiêu trên giao và nếu có sự thay đổi trong
chế độ chính sách của Nhà nước cũng như về giá các loại vật tư đầu vào,
lương cho cán bộ - CNV thì đều phải rà soát lại tất cả định mức của sản phẩm
để tổng hợp, tính toán và xây dựng lại giá thành (Z) thanh quyết toán với trên.
Sản phẩm hoàn thành cung cấp cho quân đội.
6
Đàm Thị Kim Oanh
Sổ kế toán
chi tiết TK152
Bảng tổng hợp
chi tiết vật liệu
Nhật ký đặc biệt
Báo cáo tài chính
Bảng cân đối
số phát sinh
Sổ cái TK 152
Nhật ký chung
Chứng từ gốc
PNK, PXK
Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Cuối năm, lên bảng cân đối kế toán sau đó thanh toán với trên. Tất cả
sản phẩm được thanh quyết toán xong với cấp trên đều phải thực hiện nghĩa
vụ đối với Nhà nước và Bộ Quốc phòng theo đúng chế độ quy định hiện hành.
Tiền lương của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty được tính
theo hệ số lương theo quy định của Nhà nước với mức lương tối thiểu hiện
nay là 350.000đ - đơn vị tính: VNĐ.
- Hệ thống sổ kế toán của Công ty đang áp dụng gồm:
+ Sổ kế toán tổng hợp: Sổ nhật ký chung, các sổ nhật ký chuyên dùng
(sổ nhật ký thu tiền, sổ nhật ký mua hàng, sổ nhật ký bán hàng) và các sổ cái
tài khoản.
+ Sổ kế toán chi tiết, sổ chi tiết các tài khoản gồm tài khoản 152, 155…
Trình tự ghi sổ:
Hàng ngày khi có nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh căn cứ vào
chứng từ hợp pháp hợp lệ, lập định khoản kế toán ghi vào sổ nhật ký chung
theo thứ tự thời gian, rồi từ sổ nhật ký chung ghi vào sổ cái các tài khoản. Các
nghiệp vụ liên quan cuối tháng từ sổ nhật ký chuyên dùng ghi vào các sổ cái
chứng từ cần hạch toán chi tiết ngoài việc ghi sổ vào nhật ký chung hoặc nhật
ký chuyên dùng, đồng thời được ghi vào sổ kế toán chi tiết.
Cuối tháng lập bảng báo cáo tổng hợp số liệu chi tiết từ các sổ kế toán
chi tiết.
+ Căn cứ vào sổ cái lập bảng cân đối phát sinh.
+ Sau khi đã kiểm tra đối chiếu với số liệu ghi trên sổ cái và bảng tổng
hợp số liệu chi tiết được dùng để lập báo cáo tài chính.
Phòng kế toán chịu sự chỉ đạo chung của Giám đốc và chịu sự chỉ đạo
nghiệp vụ của kế toán trưởng.
Để quản lý tài chính của Công ty có hiệu quả thì phòng Kế toán phải có
liên quan mật thiết với các phòng ban để phối hợp cùng nhau làm tốt nhiệm
vụ.
7
Đàm Thị Kim Oanh
Báo cáo thực tập nghiệp vụ
PHẦN II
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU
Ở CÔNG TY 20
2.1. Đặc điểm chung về nguyên vật liệu sử dụng tại Công ty
Nguyên vật liệu là đối tượng lao động đã được thay đổi do lao động có
ích của con người tác động vò nó là tài sản dự trữ thuộc loại tài sản lưu động.
Nguyên liệu, vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản
xuất (tư liệu lao động, đối tượng lao động, sức lao động) là cơ sở vật chất cấu
thành lên thực thể sản phẩm. Trong mỗi chu kỳ sản xuất, vật liệu không
ngừng chuyển hoá, biến đổi cả về mặt hiện vật và giá trị: Về mặt hiện vật, vật
liệu chỉ tham gia một lần vào chu kỳ sản xuất, khi tham gia vào quá trình sản
xuất nguyên vật liệu được tiêu dùng toàn bộ và dưới tác động của lao động
vật liệu không giữ nguyên hình thái ban đầu; Về mặt giá trị, giá trị của nguyên
vật liệu được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị của sản phẩm mới tạo
ra.
Xét về mặt vốn: Nguyên vật liệu là thành phần quan trọng của vốn lao
động trong doanh nghiệp, đặc biệt là vốn dự trữ. Do vậy, để nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn, cần tăng tốc độ luân chuyển của nguyên vật liệu (cũng chính là
tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động) từ đó tạo ra hiệu quả kinh tế cao.
Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí về nguyên vật liệu thường
chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm. Do vậy nếu có sự
biến động nhỏ về nguyên vật liệu thì cũng ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm,
chi phí về nguyên vật liệu cao hay thấp quyết định trực tiếp đến giá thành sản
phẩm sản xuất ra. Vì vậy tiết kiệm và sử dụng nguyên vật liệu một cách hợp
lý để giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu cho sản phẩm, cải tiến định mức tiêu
hao và định mức dự trữ vật liệu là một yêu cầu cấp thiết của các doanh nghiệp
sản xuất.
8
Đàm Thị Kim Oanh
Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Từ những đặc điểm nêu trên có thể thấy nguyên liệu, vật liệu có vai trò
rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh
nghiệp cần thiết phải tổ chức việc quản lý và hạch toán nguyên vật liệu.
Xuất phát từ vị trí vai trò của kế toán trong quản lý kinh tế, quản lý
nguyên vật liệu của doanh nghiệp sản xuất. Để đáp ứng được yêu cầu quản lý
về nguyên vật liệu, kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp cần thực hiện
tốt những nhiệm vụ sau:
Thực hiện việc đánh giá, phân loại vật liệu phù hợp với các nguyên tắc
yêu cầu quản lý thống nhất của Nhà nước và yêu cầu quản trị doanh nghiệp.
Tổ chức chứng từ, hệ thống tài khoản và hệ thống sổ phù hợp với
phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng trong doanh nghiệp để ghi chép,
phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển, bảo quản; tính
được giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho. Kiểm tra đôn đốc thực hiện kế
hoạch thu mua nhằm đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu về nguyên vật liệu từ khâu
lập chứng từ, luân chuyển chứng từ đến mở sổ kế toán chi tiết.
Theo dõi chặt chẽ sát sao việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ, sử
dụng nguyên vật liệu. Phát hiện ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt, mất mát hoặc
vật liệu kém phẩm chất, đề xuất các biện pháp xử lý nguyên vật liệu trong
trường hợp thừa, thiếu, ứ đọng, kém phẩm chất… Tính toán đúng số lượng
nguyên vật liệu đã tiêu hao thực tế trong quá trình sản xuất kinh doanh, cuối
kỳ tiến hành phân bổ giá trị nguyên vật liệu đã tiêu hao đúng với đối tượng sử
dụng.
Định kỳ tham gia kiểm kê và tiến hành đánh giá lại nguyên vật liệu theo
chế độ quy định, tiến hành lập báo cáo tổng hợp về tình hình thực hiện
nguyên vật liệu phục vụ cho công tác lập kế hoạch thu mua, dự trữ nguyên vật
liệu sao cho có hiệu quả nhất.
Sản phẩm chủ yếu của Công ty 20 là các loại quân trang, quân nhu phục
vụ quân đội như các loại quần áo, mũ, tất, phù cấp hiệu… Ngoài ra Công ty
9
Đàm Thị Kim Oanh
Báo cáo thực tập nghiệp vụ
còn sản xuất các sản phẩm khác theo hợp đồng như khăn mặt, tất… và gia
công xuất khẩu. Do đặc điểm sản phẩm của Công ty đa dạng phong phú về
chủng loại, kích cỡ, quy cách khác nhau như các loại vải (vải phin pêcô, vải
mộc, vải katê…) các loại khuy (khuy 15 ly, khuy 20 ly…)
Trong tổng chi phí sản xuất cấu thành lên giá thánhp của Công ty thì chi
phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng rất lớn đặc biệt là nguyên vật liệu chính. Vì
vậy khi có sự biến động nhỏ về chi phí nguyên vật liệu thì sẽ làm cho tổng chi
phí trong giá thành sản xuất có sự biến đổi theo.
Việc dự trữ nguyên vật liệu của công ty là không nhiều. Đây là điều
kiện thuận lợi của Công ty tránh được tình trạng ứ đọng vốn, giúp cho việc sử
dụng vốn linh hoạt hơn. Sở dĩ công ty dự trữ không nhiều nhưng vẫn ổn định
đáp ứng đủ nhu cầu nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, không làm gián
đoạn quá trình sản xuất là do Công ty có một số đơn vị được chỉ định cung
cấp nguyên vật liệu chủ yếu, thường xuyên ổn định như Công ty 28, dệt Hà
Nội, dệt Hà Nam… Ngoài nhưng đơn vị được chỉ định cung cấp nguyên vật
liệu Công ty còn có quan hệ mua bán với một số bạn hàng khác. Thông
thường những lô hàng lớn thì công ty tổ chức ký kết các hợp đồng kinh tế
mua nguyên vật liệu với các nhà máy. Công ty, xí nghiệp hoặc tổ chức thương
mại nhập nguyên vật liệu từ nước ngoài về. Còn đối với các lô hàng nhỏ
không đòi hỏi chất lượng và số lượng nguyên vật liệu nhiều mà lại có sẵn trên
thị trường thì trước khi tiến hành sản xuất Công ty sẽ mua ngoài thị trường tự
nhiên.
Do đặc điểm và tính chất sản xuất mà nguyên vật liệu của Công ty là
các loại vải và các phụ liệu may mặc cho nên không gây khó khăn cho công
tác bảo quản nhưng đòi hỏi công tác bảo quản cũng phải tiến hành tốt chẳng
hạn vải để trong kho phải được giữ ở độ ẩm phù hợp tránh bị ẩm mốc, mục
nhủn, mối mọt…
Nhiệm vụ sản xuất của Công ty ngày càng được mở rộng do quy mô
sản xuất của công ty hiện nay đã mở rộng rất nhiều và xu hướng ngày càng
10
Đàm Thị Kim Oanh
Báo cáo thực tập nghiệp vụ
mở rộng hơn nữa. Ngoài ký kết hợp đồng may quân trang quan nhu với Tổng
cục Hậu Cần - Bộ Quốc phòng, Công ty còn mở rộng ký kết hợp đồng sản
xuất trong nước và xuất khẩu. Đối với những mặt hàng may hợp đồng với
Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng và hàng may hợp đồng phục vụ nội địa
thì Công ty phải lo khâu đầu vào tính toán lên kế hoạch cung ứng vật tư, mua
sắm nguyên vật liệu theo kế hoạch sản xuất. Đối với hàng gia công thì nguyên
vật liệu chính do bên yêu cầu gia công cung cấp. Công ty chỉ theo dõi phần số
lượng và nguyên vật liệu phụ gia. Vì vậy hiện nay Công ty phải mở sổ theo
dõi riêng phần vật liệu gia công.
2.1.1. Phân loại nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu của Công ty bao gồm nhiều loại, nhiều thứ khác nhau
về công dụng phẩm chất, chất lượng… Để phục vụ có hiệu quả cho yêu cầu
quản lý và hạch toán cũng như hạch toán như nguyên vật liệu, kế toán nguyên
vật liệu tiến hành phân loại nguyên vật liệu theo những tiêu thức nhất định.
Căn cứ vào yêu cầu quản lý, nội dung kinh tế và công dụng của nguyên vật
liệu trong quá trình sản xuất, toàn bộ nguyên vật liệu của Công ty 20 được
chia thành các loại sau:
- Nguyên vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu của Công ty, là
cơ sở vật chất cấu thành lên thực thể sản phẩm bao gồm vải các loại như: Vải
mộc, Gabađin rằn ri, katê mộc, katê kẻ… số lượng, chủng loại vải rất phong
phú với các màu sắc khác nhau.
- Vật liệu phụ: là đối tượng lao động không cấu thành lên thực thể sản
phẩm nhưng nó có tác dụng nhất định và cần thiết trong quá trình sản xuất sản
phẩm, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được tiến hành bình thường bao
gồm: vải lót, khuy, nhãn cỡ số, khoá… vật liệu phụ được kết hợp với vật liệu
chính để hoàn thiện sản phẩm.
- Phụ tùng thay thế: gồm các phụ tùng chi tiết dễ thay thế, sửa chữa
như: dây curoa máy khâu, kim máy khâu, mỏ vịt…
11
Đàm Thị Kim Oanh
Báo cáo thực tập nghiệp vụ
- Phế liệu: là các loại vật liệu ra trong quá trình sản xuất sản phẩm phế
liệu chủ yếu của Công ty là vải vụn các loại.
- Vật liệu khác
Nhiên liệu: là loại vật liệu có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh như: xăng, dầu diezen, than…
Vật liệu khác: như chổi, băng dính, bao bì…
2.1.2. Đánh giá nguyên vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là việc dùng thước đo tiền tệ để tính toán xác
định giá trị nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định đảm bảo tính
thống nhất và trung thực.
Để đáp ứng nhiệm vụ sản xuất, tại Công ty 20 các nghiệp vụ nhập, xuất
nguyên vật liệu diễn ra thường xuyên, giá của nguyên vật liệu trong mỗi lần
nhập là khác nhau. Việc xác định đúng đắn giá trị nguyên vật liệu xuất dùng
là rất cần thiết. Vì vậy Công ty đã sử dụng giá thực tế để đánh giá nguyên vật
liệu và được tiến hành như sau:
a) Đối với nguyên vật liệu nhập kho: bao gồm cả vật liệu mua ngoài và
vật liệu Công ty tự gia công chế biến.
- Với vật liệu mua ngoài: Công ty mua nguyên vật liệu với phương thức
nhận tại kho của Công ty.
Đối với nguyên vật liệu mua của đơn vị nộp thuế GTGT (giá trị gia
tăng) theo phương pháp khấu trừ thì giá vật liệu thực tế nhập kho của Công ty
bao gồm: giá ghi trên hoá đơn không tính đến thuế GTGT + chi phí thu mua,
vận chuyển, bốc dỡ… từ nơi mua về đến Công ty.
Đối với nguyên vật liệu mua của đơn vị nộp thuế GTGT theo phương
pháp trực tiếp thì giá vật liệu thực tế nhập kho của Công ty bao gồm: Giá mua
ghi trên hoá đơn có cả thuế GTGT + chi phí thu mua, vận chuyển, bốc dỡ…
từ nơi mua về đến Công ty.
12
Đàm Thị Kim Oanh
Báo cáo thực tập nghiệp vụ
- Với vật liệu do Công ty tự gia công chế biến thì trị giá thực tế nhập
kho vật liệu là giá thực tế của hiện vật xuất gia công chế biến + chi phí nhân
công và các chi phí khác.
b) Đối với phế liệu thu hồi: Giá thực tế của phế liệu thu hồi thường do
Giám đốc Công ty quyết định.
c) Đối với vật liệu xuất kho: do giá của nguyên vật liệu trong mỗi lần
nhập có sự thay đổi, để phản ánh theo dõi được chặt chẽ, phù hợp khi xuất
kho nguyên vật liệu kế toán tính toán thực tế nguyên vật liệu theo phương
pháp đơn giá bình quân gia quyền trước mỗi lần xuất. Theo phương pháp này
kế toán tiến hành thực hiện như sau: Trước mỗi lần xuất kế toán tính tổng giá
trị nguyên vật liệu tồn đầu kỳ (nếu có) và tổng giá trị nguyên vật liệu nhập
trong kỳ nhưng trước lần đó rồi chia ra tổng số lượng nguyên vật liệu tồn đầu
kỳ và số lượng nguyên vật liệu nhập trong kỳ trước lần xuất đó sẽ được đơn
giá bình quân gia quyền. Lấy đơn giá bình quân gia quyền nhân với số lượng
nguyên vật liệu xuất kho lần đó sẽ được trị giá thực tế của nguyên vật liệu
xuất. Nếu lần xuất đó không xuất hết số lượng tồn đầu kỳ và nhập trước lần
xuất đó thì số dư còn lại như tồn để thực hiện tính đơn giá xuất cho lần sau.
Những lần xuất sau tính tương tự như lần xuất trước.
Việc áp dụng phương pháp này cho phép theo dõi được cả số lượng và
giá trị nguyên vật liệu ngay sau mỗi lần xuất kho mà không phải đợi đến cuối
kỳ hạch toán mới tính giá được.
Mặc dù công ty tiến hành hạch toán theo tháng nhưng công ty lại tính
đơn giá thực tế bình quân gia quyền sau mỗi lần xuất để thuận tiện cho công
tác kế toán nguyên vật liệu. Việc tính toán giá thực tế nguyên vật liệu xuất
kho được thực hiện trên sổ chi tiết nguyên vật liệu đối với từng thứ theo
chương trình máy tính tự động.
Theo phương pháp bình quân gia quyền thì giá thực tế vật liệu xuất kho
được tính như sau:
= x
13
Đàm Thị Kim Oanh
Báo cáo thực tập nghiệp vụ
Đơn giá thực
tế bình quân
=
Trị giá thực tế
NVL tồn đầuk ỳ
+
Trị giá thực tế NVL
tồn trong kỳ
Số lượng NVL
tồn đầu kỳ
+
Số lượng NVL
nhập trong kỳ
Tính giá thực tế xuất kho vải Gabađin len rêu nội - khổ 1,5
Tồn đầu tháng: số lượng 11.778,8m
Ngày 07/06 xuất: số lượng 2000m Tổng tiền 858.507.143
Ngày 08/06 xuất: số lượng 22m
Ngày 10/06 xuất: số lượng 9209,5 m
Ngày 18/06 xuất: số lượng 629,9 m
Ngày 25/06 xuất: số lượng 5000 m
Ngày 27/06 xuất: số lượng 94 m Tổng tiền 6.851.190
Ngày 28/06 xuất: số lượng 1817 m
Trị giá nguyên vật liệu xuất kho được tính như sau:
Trị giá nguyên vật liệu xuất kho ngày 06/06
Đơn giá bình quân gia quyền (G)
79,885.72
8,778.11
143.507.858
==

G
Trị giá thực tế vải xuất kho 06/06 là:
2000 x 72.885,97 = 145.771.580
Trị giá thực tế vải Gabađin len rêu nội khổ 1,5 xuất kho ngày 07/06 là
Đơn giá bình quân gia quyền
41,885.72
3,966.18
484.366.382.1
G
5,209.92220008,778.11
408.234.671487.603.1580.771.145143.507.858
G
==
+++
+++
=


Trị giá thực tế vải xuất kho 18/06:
Trị giá vải Gabađin len rêu nội khổ 1,5 xuất kho ngày 25/06:
5000 x 72.885,41 = 364.427.050
Trị giá vải Gabađin len rêu nội khổ 1,5 xuất kho ngày 28/06:
14
Đàm Thị Kim Oanh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét