Chuyên đề tốt nghiệp
đầu. Với sự “ đi tắt đón đầu” Công ty xi măng Hoàng Mai là đơn vị đầu tiên của
Tổng công ty xi măng Việt Nam áp dụng mô hình tiêu thụ sản phẩm qua nhà
phân phối chính. Hiện nay Công ty đã có tới 33 nhà phân phối chính trên toàn
quốc, trong đó có 3 nhà phân phối dự án.
Công ty xi măng Hoàng Mai đã cung cấp xi măng xây dựng công trình và
các dự án lớn như: Cầu Vĩnh Tuy ( Hà Nội ), Thủy điện Bản vẻ ( Nghệ An)
thủy điện Hương Sơn ( Hà Tĩnh ), trung tâm hội nghị quốc gia Hà Nội v.v…
Với mục tiêu chất lượng là hàng đầu, lấy việc phục vụ khách hàng là tiền
quyết, xi măng Hoàng Mai đã được người tiêu dùng tin tưởng và đạt được nhiều
danh hiệu cao quý do người tiêu dùng bình chọn .
Tháng 8 năm 2004, Công ty đã được Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu
chuẩn thuộc tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng cấp giấy chứng nhận phù
hợp tiêu chuẩn ISO 9001: 2000và ISO14001:1996. Sản phẩm của Công ty đã
đạt nhiều huy chương vàng tại các hội chợ triển lãm tổ chức tại Hà Nội, thành
phố Vinh, Nha Trang, thành phố Hồ Chí Minh, giải thưởng sao vàng đất Việt
năm 2004, giải thưởng chất lượng Việt Nam năm 2004, giải thưởng vàng chất
lượng năm 2005 và nhiều bằng khen cao quý của Thủ Tướng chính phủ cấp.
Cùng với sự phấn đấu bền bỉ trong những năm qua, Công ty xi măng
Hoàng Mai đã được tỉnh Nghệ An, Bộ xây dựng, Tổng Công ty xi măng Việt
Nam tặng nhiều cờ thưởng thi đua. Với nhiều thành tích đã đạt được trong công
tác cũng như góp phần vào sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ
quốc, ngày 21/09/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 993/QĐ.TTg
tặng bằng khen cho Công ty xi măng Hoàng Mai.
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Được chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1995- 1999:
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Thị trấn Hoàng Mai nằm ở phía bắc của tỉnh Nghệ An, là một vùng đất có
nhiều tiềm năng về sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là sản xuất xi măng. Để
khai thác thế mạnh trên địa bàn, đáp ứng nhu cầu xi măng ngày càng cao của sự
nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, tạo việc làm cho nhân dân, tăng
nguồn thu ngân sách.Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ
An đã có chủ trương xây dựng một nhà máy xi măng với thiết bị hiện đại, công
nghệ tiên tiến, công suất lớn.
Ngày 07 tháng 10 năm 1995, Công ty xi măng Nghệ An ( tiền thân của
Công ty xi măng Hoàng Mai ngày nay) được thành lập. Sau các bước triển khai
theo định về đầu tư xây dựng, ngày 15 tháng 4 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ
đã ký quyết định số 216/TTg phê duyệt đầu tư dự án nhà máy xi măng Hoàng
Mai- Nghệ An công suất 4000 tấn clinker/ngày( tương đương 1,4 triệu tấn xi
măng/ năm).
- Giai đoạn 1999- 2002:
Những tháng đầu năm 1999, Công ty đã khởi công xây dựng đồng loạt
những hạng mục công trình chính, chạy thử đơn động, liên động với sự hướng
dẫn, chuyển giao công nghệ của chuyên gia hãng FCB ( Cộng hòa Pháp ) và
sự giám sát của tư vấn quốc tế Jurong (Singapo). Ngày 06 tháng 03 năm 2002,
ngay từ lần đốt lò đầu tiên, những tấn clinker chính phẩm đã ra lò, đánh dấu
một chặng đường mới trên con đường phát triển của Công ty xi măng Hoàng
Mai. Là đơn vị đầu tiên của Tổng Công ty xi măng Việt Nam áp dụng mô hình
tiêu thụ sản phẩm qua nhà phân phối chính, xi măng Hoàng Mai đã tận dụng
được năng lực của xã hội trong tiêu thụ sản phẩm và xác lập lợi ích hài hòa giữa
nhà sản xuất và nhà phân phối. Hiện nay Công ty có 33 nhà phân phối chính
trên toàn quốc, trong đó có 3 nhà phân phối dự án.
- Giai đoạn 2002 đến nay:
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Công ty đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, sản phẩm của công ty hầu
hết đều có mặt trên thị trường nội địa, song song với sự phát triển về số lượng
thì chất lương của sản phẩm cũng không ngừng ngày một nâng cao hơn,điều đó
được thể hiện qua việc sản phẩm của Công ty đã đạt nhiều danh hiệu cao quý
do tổng cục đo lường tiêu chuẩn chất lượng cấp giấy chứng nhận phù hợp tiêu
chuẩn ISO 9001 và ISO 14001
1.1.3. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của Công ty
Sơ đồ tổ chức
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
7
GIÁM ĐỐC
PGĐ CÔNG
NGHỆ
PGĐ KINH
DOANH
PGĐ CƠ ĐIỆN
P. Công
nghệ
P. Thí
nghiệm
X. Xi
măng
P. KT cơ
điện
X. Cơ khí
X. Điện
TĐH
X. Hệ
Thống
X. Xe máy
Ban an toàn
P. Vật tư
P. Tiêu thụ
P. DHTT
X.Xưởng lò
X. nguyên
liệu
X. Khai
thác mỏ
P. TC - LĐ
P. TC-KT
P.Kế hoạch
VP công ty
PBV –
Quân sự
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.4. Đặc điểm về các nguồn lực của Công ty
a. Lao động
“ Nam thanh bắc nghệ ” là vùng đất có bề dày truyền thống, lịch sử lâu
đời. Người dân cần cù, chịu khó và chủ yếu là làm nông nghiệp nên thời gian
rỗi nhiều, tận dụng được điều kiện đó xi măng Hoàng Mai đã đào tạo và tuyển
chọn được khoảng 260 người lao động nơi sở tại để phục vụ cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình.
Bên cạnh đó có hơn 50 cán bộ lãnh đạo được Tổng công ty xi măng tuyển
chọn đưa về điều hành công ty, khoảng 300 cán bộ công nhân viên, kỹ sư, được
chọn từ các trường đại học trên cả nước có trình độ cao để hoàn thành công
việc, ngoài ra công ty còn có sự trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài.
Tính đến năm 2002 Công ty xi măng Hoàng Mai đã có 418 người hoạt
động trong nhà máy. Năm 2006 số lao động tăng lên hơn 800 người, trong đó
có khoảng gần 200 kỹ sư làm việc trực tiếp ở nhà máy theo các ca làm việc ,
hơn 250 người làm việc ở trong các phòng, ban như: phòng tiêu thụ, phòng kế
toán, phòng vật tư…Còn lại khoảng gần 400 công nhân làm việc ở khắp nhà
máy như: các công nhân vệ sinh môi trường, công nhân phục vụ ở các phòng
ăn, công nhân bốc vác xi măng, công nhân ở xưởng khai thác mỏ v.v…
b. Nguồn vốn
Tổng số vốn đầu tư 423 triệu USD, nguồn vốn chủ yếu là từ chính phủ
theo quyết định của thủ tướng về việc phê duyệt dự án đầu tư, bên cạnh đó còn
có nguồn nước ngoài theo hiệp định dự án đầu tư giữa tỉnh nghệ an và quỹ cô-
oét phát triển kinh tế ARAP với số tiền là 6100000KD (đi na co-oet). Vay ngân
hàng khoảng hơn 100 tỉ đồng, ngoài ra hơn 78 tỉ đồng nguồn vốn được huy
động trong nhân dân, các công ty trong nước và một số công ty liên doanh.
Trong quá trình phát triển Công ty xi măng Hoàng Mai còn có sự giúp đỡ của
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
8
Chuyên đề tốt nghiệp
Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam để vượt qua những khó khăn
trong giai đoạn bắt đầu đi vào hoạt động.
c.Công nghệ
* Lò nung
Với dây chuyền công nghệ và thiết bị Cộng hòa Pháp và với hệ thống
Cyclon trao đổi nhiệt 2 nhánh 5 tầng được đầu tư vào Nhà máy nên công suất
đã tăng lên tới 4,4 T Clinker/ngày,vì thế mà chất lượng sản phẩm cũng không
ngừng tăng lên.
* Máy nghiền nguyên liệu
Đá vôi, Sét, và phụ gia điều chỉnh được đưa vào các két chứa trung gian.
Từ đó, qua hệ thống cân băng định lượng, nguyên liệu được cấp vào máy
nghiền qua băng tải chung.
Máy nghiền nguyên liệu là loại máy nghiền đứng do hãng Pfeiffer AG
cung cấp dạng MPS 5000B có năng suất 320T/h (năm 2006 cải tạo và nâng
công suất lên 340T/h). Tỷ lệ cấp liệu cũng như chất lượng bột liệu được điều
khiển tự động qua hệ thống QCX Bột liệu đạt yêu cầu Theo bài phối liệu được
tính toán trước, được vận chuyển tới Silô đồng nhất qua hệ thống máng khí
động và gầu nâng. Silô đồng nhất bột liệu có sức chứa 20.000T với hệ thống
sục khí được điều khiển tự động.
Việc đồng nhất phối liệu được thực hiện trong quá trình nạp và tháo liệu ra
khỏi Silô, với mức độ đồng nhất là 10:1. Với độ đồng nhất cao bột liệu trước
khi đưa vào nung luyện luôn đồng đều và ổn định.
1.2. Thực trạng về hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam.
Qua hơn 6 năm đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, được sự chấp thuận của
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
9
Chuyên đề tốt nghiệp
hội đồng quản trị Tổng công ty, Công ty xi măng Hoàng Mai đã mạnh dạn áp
dụng mô hình kinh doanh qua hệ thống Nhà phân phối chính. Là
doanh nghiệp phía Bắc đầu tiên thuộc Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt
Nam thí điểm mô hình này, đến nay về cơ bản đã đạt được được các yêu cầu mà
Tổng công ty đề ra nhưng cũng còn một số hạn chế nhất định ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất kinh doanh và tài chính của Công ty.
Tuy Công ty đã đi vào hoạt động chưa lâu nhưng cho đến thời điểm này
sản phẩm của Công ty đã có mặt hầu hết khắp các tỉnh thành trong cả nước và
được người tiêu dùng tín nhiệm, tin tưởng. Để có được kết quả này là do sự
phấn đấu không biết mệt mỏi và nổ lực cố gắng của tất cả các cán bộ công nhân
viên trong Công ty. Tuy nhiên, không vì những thành công bước đầu mà Công
ty chủ quan, lơ là, Công ty xi măng Hoàng Mai đã ý thức được rằng hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh chính là sự sống còn của Công ty, sản lượng tiêu
thụ của Công ty ngày càng tăng lên không ngừng, điều này được thể hiện qua:
- Chỉ tiêu doanh thu: Tuy đến giữa năm 2002, sản phẩm của Công ty xi
măng Hoàng Mai chính thức được tung vào thị trường nhưng tổng doanh thu
của Công ty là tương đối lớn khoảng 612,3 tỷ đồng. Đến năm 2007 tổng doanh
thu đã lên đến 1342.5 tỷ đồng.
- Chỉ tiêu lợi nhuận: Do Công ty đi vào hoạt động cũng chưa lâu nên mức
lợi nhuận cũng chưa cao so với một số đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường.
Trong năm 2006 Công ty đã phấn đấu và đạt được mức lợi nhuận là hơn 16 tỷ
đồng, phấn đấu giảm các loại chi phí như: chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp và các khỏan giảm trừ…
- Đến nay, Công ty đã lựa chọn, thương thảo và ký hợp đồng với 51 đơn vị
làm làm Nhà phân phối, trong đó có 33 Nhà phân phối chính thức tiêu thụ sản
phẩm hầu hết tại các địa bàn từ Thái Nguyên đến TP. Hồ Chí Minh trong đó tập
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
10
Chuyên đề tốt nghiệp
trung tại các khu vực thị trường trọng điểm từ Thanh Hóa trở ra và khu vực thị
trường các tỉnh phía Nam. Qua thời gian hoạt động, Công ty đã xây dựng ban
hành quy trình tiêu thụ và chính sách bán hàng đối với các Nhà phân phối để
thuận lợi trong công tác điều hành quản lý.
- Công ty cũng đã tiến hành quảng bá sản phẩm và thương hiệu xi măng
Hoàng Mai trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là truyền
hình, báo chí, các ấn phẩm, tờ rơi. Cung cấp các bảng hiệu cho Nhà phân phối,
tham gia quảng bá sản phẩmtại các hội chợ triển lãm lớn trên toàn quố, tổ chức
các cuộc hội nghị khách hàng nhằm tăng thêm sự hiểu biết, chia sẽ các thông tin
và giải đáp các yêu cầu cầu Nhà phân phối.
- Công ty đã kết hợp với các cơ quan chức năng xúc tiến việc hợp chuẩn
quốc gia sản phẩm xi măng Pooclăng hỗn hợp PCB30 để đưa vào địa bàn có
công trình trọng điểm, các công trình xây dựng lớn và thị trường tiềm năng.
* Một số kết quả mà Công ty đã đạt được trong những năm gần đây:
Bảng 1: Một số kết quả mà Công ty đạt được
Chỉ Tiêu 2005 2006 2007 06/05
(%)
07/06
(%)
Sản xuất Ngàn tấn 2480 4250 5620 71 32
Tiêu thụ (Ngàn tấn) 1410 1680 2350 19 40
Doanh thu (Tỷ đồng) 810 965.85 1342.5 19.2 39
Nộp NSNN Tỷ đồng 46.5 56.84 84.3 25 13
Lợi nhuận Tỷ đồng Hoà vốn 16.165 28.2 - 75
( Nguồn: Phòng Tiêu Thụ sản phẩm )
Qua bảng số liệu ta thấy, từ năm 2005 đến năm 2007, tất cả các chỉ tiêu ở
năm sau đều cao hơn năm trước. Cụ thể như sau:
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất: Năng lực sản xuất năm 2005 là 2480 ngàn tấn tăng lên 4250
ngàn tấn (trong năm 2006) tức là tăng 71% và tăng lên 5620 ngàn tấn (trong
năm 2007) tức là tăng 32% so với năm 2006. Có đựơc kết quả này là do Công
ty luôn làm việc với năng suất cao (3 ca/ngày) và công nghệ cũng liên tục được
cải tiến.
Thứ hai: Khả năng tiêu thụ năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên chưa
tương xứng với năng lực sản xuất. Sản luượng tiêu thụ mỗi năm chỉ xấp xỉ bằng
50% khả năng sản xuất. Điều này cũng có nghĩa là trong tương lai Công ty cần
đẩy mạnh hơn nữa công tác tiêu thụ sản phẩm.
Thứ ba: Doanh thu của Công ty qua 3 năm liên tục tăng. Năm 2006, doanh
thu tăng 19% so với năm 2005 tức là tăng 155.85 tỷ đồng và năm 2007 tăng so
với năm 2006 là 39% tức là tăng 376.65 tỷ đồng. Doanh thu của Công ty tăng
chủ yếu là do tăng sản lương bán ra.
Thứ tư: Lợi nhuận của Công ty cũng tăng qua từng năm. Năm 2005, Công
ty chưa có lợi nhuận, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chỉ đủ bù đắp các chi phí bỏ
ra. Năm 2006, Công ty hoạt động có hiệu quả đạt mức lợi nhuận là 16.165 tỷ
đồng. năm 2007, lợi nhuận đạt 28.2 tỷ đồng, tăng so với năm 2006 là 75%.
Đồng thời nộp ngân sách Nhà nước cũng tăng lên. Năm 2005 tuy chưa có lợi
nhuận nhưng số tiền nộp ngan sách Nhà nứơc là 56.84 tỷ và năm 2007 con số
này là 84.2 tỷ.Và những năm gần đây, Công ty luôn có những chính sách và
bứoc đi phù hợp để mang lại kết quả kinh doanh cao.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.3.1. Môi trường vi mô
a. Đe dọa từ phía Nhà cung ứng
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
12
Chuyên đề tốt nghiệp
Các nhà cung ứng có thể khẳng định quyền lực của họ bằng cách đe dọa
thông qua việc tăng giá hoặc giảm chất lượng nguồn cung ứng đầu vào, do đó
họ có thể chèn ép lợi nhuận của doanh nghiệp. Chính vì vậy, doanh nghiệp phải
có chiến lược ứng xử linh hoạt để không bị lệ thuộc vào nhà cung cấp có quyền
lực hoặc để nhà cung cấp tạo điều kiện cung cấp tốt nhất cho mình.
Những người cung ứng cho Công ty xi măng Hoàng Mai là những người
cung ứng các nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh của Công
ty bao gồm các chất phụ gia như đá ba gian được lấy tại mỏ đá Nghĩa đàn, thạch
cao lấy tại Quảng Bình, các quặng sắt được lấy tại mỏ sắt Vân Trình Nghi Lộc,
Nghệ An. Có thể nói đây là những người cung ứng nguồn nguyên liệu đầu vào
cực kỳ quan trọng của Công ty, bởi các nguồn nguyên liệu này có ảnh hưởng rất
lớn tới chất lượng sản phẩm, do đó ảnh hưởng tới hiệu quả tiêu thụ sản phẩm
của Công ty. Chỉ cần một sự thay đổi nhỏ về: số lượng, chất lượng hay là mức
giá bán của các nguồn nguyên liệu này sẽ dãn tới sự thay đổi về chất lượng
cũng như mức giá bán sản phẩm của Công ty.
b. Đe dọa từ phía các đối thủ cạnh tranh
Đây là một áp lực thường xuyên và đe dọa trực tiếp đến các doanh nghiệp.
Khi áp lực này càng tăng thì khả năng đe dọa tới vị trí hiện tại của doanh nghiệp
càng cao. Khi có cuộc chiến đối đầu về giá sẽ làm cho lợi nhuận của từng doanh
nghiệp nói riêng và của toàn ngành nói chung bị giảm sút, thậm chí có thể làm
tổng doanh thu của ngành giảm nếu như sự co giãn của cầu không kịp với sự
giảm xuống của giá.
Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp một cơ hội lớn để mở rộng
hoạt động, ngược lại cầu giảm dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để các doanh nghiệp
giữ thị phần đã có. Đe dọa mất thị trường là điều khó tránh khỏi đối với các
doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh.
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
13
Chuyên đề tốt nghiệp
Hiện nay Công ty xi măng Hoàng Mai đang phải cạnh tranh gay gắt với
một số công ty trong và ngoài nước như: Công ty xi măng Bỉm Sơn, Công ty xi
măng Nghi Sơn, và một số công ty xi măng theo công nghệ của nhật bản. các
Công ty xi măng trong nước với lợi thế về vốn, sản phẩm đa dạng hơn, do đó
các hoạt động xúc tiến được triển khai một cách đầy đủ hơn, hiệu quả hơn. Còn
các công ty xi măng áp dụng theo công nghệ của nhật bản họ có mức giá cả rất
cạnh tranh gây áp lực rất lớn đối với công ty. Vì vậy trong thời gian tới công ty
cần nghiên cứu kỹ đối thủ cạnh tranh để có thể hoạch định được một chiến lược
marketing phù hợp.
c. Đe dọa từ phía Khách hàng
Sản phẩm được sản xuất ra để phục vụ khách hàng do đó khách hàng luôn
được coi là “Thượng đế”.Với khách hàng, họ luôn mong muốn mua được các
sản phẩm có chất lượng cao nhưng giá cả lại rẻ và có dịch vụ tốt. Khi không
thỏa mãn được nhu cầu của họ tức là doanh nghiệp đã mất đi thị phần và điều
đó dẫn đến thiệt hại không nhỏ đối với doanh nghiệp thậm chí còn làm doanh
nghiệp phá sản. Chính điều này làm cho đối thủ cạnh tranh chống lại nhau.
Như vậy, để hạn chế áp lực từ phái khách hàng, doanh nghiệp cần xem xét
lựa chọn các nhóm khách hàng như một quyết định tối quan trọng và phải biết
làm gì để giữ khách hàng hiện tại cũng như phát triển khách hàng trong tương
lai.
1.3.2. Môi trường vĩ mô
a. Môi trường Chính trị- luật pháp
Tùy theo mục đích quản lí vĩ mô nền kinh tế quốc dân, trong mỗi thời kì
khác nhau nhà nước có thể có những chính sách khuyến khích hoặc hạn chế tiêu
dùng một loại sản phẩm hàng hóa nào đó thông qua các công cụ điều tiết vĩ mô
SV: Nguyễn Văn Thành Marketing 46B Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét