Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

QLNN Về thị trường chứng khoán

QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
+ Lãi suất (là mức lãi suất mà tổ chức phát hành phải trả cho người
sở hữu khi chứng khoán đáo hạn)
+Thời gian đáo hạn (là khoảng thời gian mà tổ chức phát hành chứng
khoán phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người sở hữu chứng khoán)
c. Chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ
chứng khoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc. Các chứng
khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu giao dịch của người mua và
người bán và phát triển phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường
chứng khoán. Có thể phân loại chứng khoán phái sinh thành các loại như
sau:
• Quyền mua trước
Quyền mua trước hay là đặc quyền mua là một quyền ưu đãi được
gắn với một cổ phiếu đang lưu hành, do công ty phát hành ra cổ phiếu đó
để huy động thêm vốn cổ phần, quyền mua trước cho phép người sở hữu
những cổ phần đang lưu hành được mua một số nhất định cổ phiếu trong
đợt phát hành mới của công ty, tại một mức giá xác định thấp hơn mức giá
chào bán ra công chúng trong một thời hạn nhất định.
• Chứng kế (bảo chứng phiếu)
Chứng kế hay còn gọi là bảo chứng phiếu (cam kết bán) là một loại
chứng khoán được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi mà
người sở hữu nó có quyền được mua một số lượng chứng khoán nhất định
tại một mức giá xác định và trong một thời hạn nhất định.
• Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận giữa người mua và người bán
thực hiện một giao dịch hàng hoá ở một thời điểm chắc chắn trong tương
lai với mức giá và khối lượng xác định.
• Hợp đồng tương lai
Ngô Văn Thắng KH5B
5
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận để mua hoặc bán một tài sản
vào thời điểm chắc chắn trong tương lai với mức giá xác định.
• Quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ
được mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán)
một khối lượng hàng hoá cơ sở nhất định tại một mức giá xác định trong
một thời gian nhất định.
2.2. Phân loại chứng khoán theo khả năng chuyển nhượng
Theo cách thức này chứng khoán được phân thành chứng khoán ghi
danh và chứng khoán vô danh
• Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không ghi tên chủ sở
hữu nên việc chuyển nhượng quyền sở hữu các chứng khoán này đơn giản,
dễ dàng và thuận tiện.
• Chứng khoán ghi danh là giấy xác nhận quyền sở hữu hoặc
quyền đòi nợ có ghi tên chủ sở hữu. Loại chứng khoán này được phép
chuyển nhượng nhưng phải tuân theo những quy định pháp lý cụ thể.
2.3. Phân loại chứng khoán theo thu nhập
Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu tư
có thể nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai. Tuỳ theo thu nhập,
chứng khoán được chia thành các loại sau:
a. Chứng khoán có thu nhập cố định.
Chứng khoán có thu nhập cố định là loại chứng khoán có số thu nhập
cố định không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của tổ chức phát hành. Nó
có thể là chứng khoán vô danh hoặc chứng khoán ghi danh, có thể là tín
phiếu, trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi. Thông thường, việc phát hành các
loại chứng khoán có thu nhập cố định phải kèm theo những quy định pháp
lý cụ thể nhằm bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư.
b. Chứng khoán có thu nhập không cố định
Ngô Văn Thắng KH5B
6
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Là loại chứng khoán không xác định tỷ lệ lãi được hưởng. Cổ phiếu
thường (cổ phiếu phổ thông) có thể được coi là đại diện cho loại chứng
khoán có thu nhập biến đổi. Thu nhập do việc sở hữu cổ phiếu mang lại gọi
là cổ tức (hay lợi tức cổ phần), nó biến động theo kết quả kinh doanh của
công ty.
c. Chứng khoán có hình thức hỗn hợp
Các chứng khoán có hình thức này là những chứng khoán vừa mang
tính chất của chứng khoán có thu nhập cố định, vừa mang tính chất của
chứng khoán có thu nhập biến đổi. Ví dụ, có cổ phiếu ưu đãi có quyền được
hưởng một mức lãi suất cố định hàng năm, đồng thời lại được hưởng thêm
lợi tức được chia từ kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành.
Việc phát hành loại chứng khoán này nhằm để thích ứng với nhu cầu đặc
biệt của thị trường vốn.
3.Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán phát hành dưới dạng chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người
sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.
Cổ phiếu là loại chứng khoà nó có những tính chất sau:
- Xác nhận việc đầu tư vốn vào tổ chức phát hành ra cổ phiếu
- Không có kỳ hạn, cổ phiếu tồn tại cùng với sự tồn tại của tổ chức
phát hành ra nó
- Có thể được phát hành khi thành lập tổ chức hoặc khi tăng vốn
- Người sở hữu cổ phiếu sở hữu một phần vốn/tài sản của tổ chức
phát hành và chịu trách nhiệm hữu hạn về tình hình hoạt động của
tổ chức đó
- Cổ phiếu có thể được chuyển nhượng
Căn cứ vào quyền lợi của người sở hữu cổ phiếu thì cổ phiếu có
những loại như sau:
Ngô Văn Thắng KH5B
7
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
- Cổ phiếu phổ thông: lợi tức phụ thuộc vào tình hình hoạt động kinh
doanh của tổ chức phát hành. Người sở hữu cổ phiếu là cổ đông và có
quyền bỏ phiếu bầu ra Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, các quyết định lớn
trong hoạt động kinh doanh của công ty theo chế độ Đại hội cổ đông.
- Cổ phiếu ưu đãi: cổ phiếu có những đặc quyền nhất định, chẳng
hạn như được hưởng lãi cố định, được ưu tiên chia lãi trước, được ưu tiên
trong bỏ phiếu….Cổ phiếu ưu đãi gồm có: cổ phiếu ưu đãi tích luỹ; cổ
phiếu ưu đãi không tích luỹ; cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi; cổ phiếu ưu đãi có
quyền chuộc lại.
Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng thì cổ phiếu gồm:
- Cổ phiếu ghi danh: có ghi tên chủ sở hữu
- Cổ phiếu vô danh: không ghi tên chủ sở hữu
4. Trái phiếu
Trái phiếu là loại chứng khoán nợ được phát hành dưới hình thức
chứng chỉ, bút toán ghi sổ xác định nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành
trái phiếu đối với người sở hữ trái phiếu.
Là chứng khoán nợ nên trái phiếu có những tính chất sau:
- Xác nhận việc vay nợ của tổ chức phát hành
- Chủ yếu là có kỳ hạn
- Lãi suất thường cố định
- Có thể chuyển nhượng
Chủ thể phát hành trái phiếu là các đơn vị sản xuất kinh doanh và cả
Chính phủ. Trái phiếu là công cụ quan trọng của thị trường tài chính. ở các
nước có thị trường chứng khoán phát triển, qui mô giao dịch trái phiếu
thường gấp 3-4 lần qui mô giao dịch cổ phiếu. Trái phiếu có thể được chia
làm các loại sau:
Trái phiếu công ty: Chủ thể phát hành trái phiếu là các đơn vị sản
xuất kinh doanh. Trái phiếu công ty có các loại như trái phiếu thế chấp; trái
Ngô Văn Thắng KH5B
8
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
phiếu tín chấp; trái phiếu chuyển đổi; trái phiếu chiết khấu; trái phiếu thả
nổi.
Trái phiếu chính phủ: Chủ thể phát hành trái phiếu là Chính phủ.
Chính vì vậy các loại trái phiếu chính phủ được coi là có hệ số an toàn và
tính thanh khoản cao nhất. Các loại trái phiếu chính phủ thường gặp ở Việt
Nam bao gồm trái phiếu, tín phiếu kho bạc, trái phiếu đô thị, công trái xây
dựng đất nước….
II. Thị trường chứng khoán
1. Bản chất của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao
dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu
và trái phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên
thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK.
2. Vị trí và cấu trúc của thị trường chứng khoán
2.1. Vị trí của TTCK trong thị trường tài chính
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính. Vị
trí của thị trường chứng khoán trong tổng thể thị trường tài chính được thể
hiện như sau:
Ngô Văn Thắng KH5B
9
Thị trường tài
chính
Thị trường
tiền tệ
Thị trường
vốn
Thị
trường
hối đoái
Thị
trường
bảo
hiểm
Tín
dụng
ngắn
hạn
Thị
trường
tiền tệ
liên
ngân
hàng
Thị
trường
tín dụng
trung và
dài hạn,
cho thuê
tài chính
Thị
trường
Chứng
khoán
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
- Thị trường tài chính: Là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ những
người dư thừa vốn tới những người thiếu vốn.
- Thị trường tiền tệ: là thị trường phát hành và mua bán lại các công
cụ tài chính ngắn hạn, thông thường dưới 1 năm như tín phiếu kho bạc,
khoản vay ngắn hạn giữa các ngân hàng, thoả thuận mua lại, chứng chỉ tiền
gửi, thương phiếu, …
- Thị trường vốn : là thị trường diễn ra mua bán các công cụ tài
chính dài hạn, gồm thị trường cho thuê tài chính, thị trường thế chấp ( thị
trường tín dụng trung và dài hạn) và thị trường chứng khoán.
- Thị trường hối đoái : là nơi giao dịch các công cụ tài chính tương
đối ngắn hạn, nhưng chúng được định giá bằng các loại đồng tiền khác
nhau, và ở thị trường hối đoái cũng chỉ có các giao dịch giữa các đồng tiền
khác nhau mới được thực hiện.
- Thị trường bảo hiểm: Bảo hiểm là hoạt động tài chính dưới hình
thức tổ chức kinh doanh, bằng cách thu phí bảo hiểm của người tham gia
bảo hiềm để bồi thường cho những rủi ro bất ngờ gây ra tổn thất của người
tham gia bảo hiểm nhằm duy trì tái sản xuất và đời sống cho con người.
Theo em thì thị trường bảo hiểm là nơi diễm ra các giao dịch giữa đối
tượng cần được bảo hiểm và các cơ quan tiến hành bảo hiểm.
- Mối quan hệ : Giữa bốn thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị
trường hối đoái, thị trường bảo hiểm đều nằm trong thị trường tài chính.
Chúng có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.
2.2. Cấu trúc của thị trường chứng khoán
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc của thị trường chứng khoán
có thể phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, thông thường,
ta có thể xem xét 3 cách thức cơ bản là theo hàng hoá giao dịch trên thị
Ngô Văn Thắng KH5B
10
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
trường, theo hình thức tổ chức thị trường và theo quá trình luân chuyển
vốn. Các phân tích sau đây sẽ thể hiện từng cách thức phân loại đó.
a. Theo hàng hoá giao dịch trên thị trường
Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể
phân chia thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ
phiếu và thị trường dẫn suất (thị trường các công cụ phái sinh).
• Thị trường trái phiếu là thị trường mà hàng hoá được mua bán tại
đó là các trái phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc phát
hành công cụ này là phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả
cả gốc và lãi.
• Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ
có xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông. Cổ đông là chủ sở hữu của
công ty và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của mình. Cổ phiếu
sẽ cho phép họ có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty
cũng như đối với tài sản của công ty, khi tài sản này được đem bán. Cổ
phiếu có thời gian đáo hạn là không xác định.
• Thị trường công cụ dẫn suất là nơi các chứng khoán phái sinh
được mua và bán. Tiêu biểu cho công cụ này là hợp đồng tương lai, hợp
đồng quyền chọn. Thị trường này ngày càng trở nên quan trọng đối với các
nhà quản lý tài chính. Nó cung cấp các công cụ phòng vệ hữu hiệu, đồng
thời là công cụ đầu cơ lý tưởng cho các nhà đầu tư.
b. Theo hình thức luân chuyển vốn
Theo hình thức này, thị trường chứng khoán được phân thành thị
trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
• Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp I là thị trường phát hành các
chứng khoán hay là nơi mua bán các chứng khoán lần đầu tiên. Tại thị
Ngô Văn Thắng KH5B
11
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
trường này, giá cả của chứng khoán là giá phát hành. Việc mua bán chứng
khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành.
• Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp II là thị trường giao dịch
mua bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích
kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội.
Quan hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp thể hiện trên
các giác độ sau:
- Thị trường thứ cấp làm tăng tính thanh khoản (tính lỏng) của các
chứng khoán đã phát hành. Việc này làm tăng tính ưa chuộng của chứng
khoán và làm giảm rủi ro cho các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư sẽ dễ dàng
hơn trong việc sàng lọc, lựa chọn, thay đổi kết cấu danh mục đầu tư, trên
cơ sở đó làm giảm chi phí cho các nhà phát hành trong việc huy động và sử
dụng vốn. Việc tăng tính lỏng của tài sản sẽ tạo điều kiện tách biệt giữa sở
hữu và quản lý, làm cơ sở cho việc tăng hiệu quả quản lý của doanh nghiệp.
Việc tăng tính lỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc
chuyển đổi thời hạn của vốn, từ vốn ngắn hạn sang trung hạn và dài hạn.
Đồng thời, tạo điều kiện cho việc phân phối một cách có hiệu quả. Sự di
chuyển vốn đầu tư trong nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế “bàn
tay vô hình”, cơ chế xác định giá chứng khoán và thông qua hoạt động thâu
tóm, sáp nhập doanh nghiệp trên thị trường thứ cấp.
- Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã được phát
hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp được xem là thị trường định
giá các công ty.
- Thông qua việc định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh
mục chi phí vốn tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng
phương án đầu tư, tạo cơ sở tham chiếu cho nhà phát hành cũng như các
nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp. Thông qua cơ chế bàn tay vô hình, vốn sẽ
được chuyển đến công ty nào làm ăn có hiệu quả nhất, qua đó làm tăng
hiệu quả kinh tế xã hội.
Ngô Văn Thắng KH5B
12
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Tóm lại, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có quan hệ mật
thiết, hỗ trợ lẫn nhau. Về bản chất, mối quan hệ giữa thị trường chứng
khoán sơ cấp và thứ cấp là mối quan hệ nội tại, biện chứng. Nếu không có
thị trường sơ cấp sẽ không có thị trường thứ cấp, đồng thời, thị trường thứ
cấp lại tạo điều kiện phát triển cho thị trường sơ cấp.
c. Theo hình thức tổ chức của thị trường
Thị trường chứng khoán có thể được tổ chức theo hai cách sau:
• Thị trường giao dịch tập trung, thị trường được tổ chức thành sở
giao dịch, tại đây, người mua và người bán( hoặc đại lý, môi giới của họ)
gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch mua bán, trao
đổi chứng khoán. Chính vì vậy, người ta còn gọi sở giao dịch chứng khoán
là sở giao dịch tập trung, nơi giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán
của các công ty lớn, hoạt động có hiệu quả.
• Thị trường giao dịch qua quầy hay thị trường giao dịch phi tập
trung (OTC: Over- The- Counter Market) là thị trường giao dịch của các
nhà buôn, những người tạo thị trường( Market Makers).
Ngoài hai thị trường nói trên, người ta còn nói đến thị trường thứ ba,
thị trường dành cho các chứngkhoán không đủ tiêu chuẩn để giao dịch trên
thị trường tập trung và thị trường OTC. Ngoài ra, người ta còn phân loại thị
trường chứng khoán thành thị trường mở và thị trường đàm phán, thị
trường giao ngay và thị trường kỳ hạn. Việc phân loại thị trường chứng
khoán sẽ giúp việc phân tích cụ thể hơn vai trò của thị trường chứng khoán.
2.3. Các chủ thể trên thị trường chứng khoán
Các tổ chức và cá nhân tham gia thị trường chứng khoán có thể
được chia thành 3 nhóm sau: chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư và các tổ
chức có liên quan đến chứng khoán.
2.3.1. Chủ thể phát hành
Chủ thể phát hành là người cung cấp các chưng khoán- hàng hóa
của thị trường chứng khoán. Các chủ thể phát hành bao gồm: Chính phủ,
Ngô Văn Thắng KH5B
13
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
các doanh nghiệp và một số tổ chức khác như: Quỹ đầu tư, tổ chức tài
chính trung gian
• Chính phủ và chính quyền địa phương là chủ thể chủ yếu phát hành các
chứng khoán nợ như: Trái phiếu Chính phủ; Trái phiếu địa phương; trái
phiếu công trình; tín phiếu kho bạc.
• Công ty là chủ thể phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
• Các tổ chức tài chính là chủ thể phát hành các công cụ tài chính như
các trái phiếu, chứng chỉ hưởng thụ phục vụ cho mục tiêu huy động
vốn và phù hợp với đặc thù hoạt động của họ theo luật định.
2.3.2. Nhà đầu tư
Chủ thể đầu tư là những người có tiền, thực hiện việc mua và bán
chứng khoán trên thị trường chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận. Nhà đầu
tư có thể được chia thành hai loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ
chức.
- Các nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình, những người có
vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với
mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
- Các nhà đầu tư có tổ chức
Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán
chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Một số nhà đầu tư chuyên
nghiệp chính trên thị trường chứng khoán là các ngân hàng thương mại,
công ty chứng khoán, công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ,
các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư thông qua các
tổ chức đầu tư có ưu điểm là đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết
định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có chuyên môn và có kinh
nghiệm.
2.3.3. Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán
a. Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động TTCK
Ngô Văn Thắng KH5B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét